Cây râu mèo chuẩn giống, khỏe mạnh tại nhà vườn Hải Đăng – 035.964.2916.
Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Cỏ râu mèo hay bông bạc, tên tiếng Anh là cat’s whiskers, Java tea (danh pháp khoa học là Orthosiphon aristatus (Blume) Miq.; đồng nghĩa: Clerodendranthus spicatus (Thunb.) C.Y.Wu) là một cây thuộc họ Hoa môi Lamiaceae. Đây là một loại cây thuốc chủ yếu mọc ở khắp Đông Nam Á và vùng nhiệt đới của Australia.



Mô tả cây râu mèo
Cây râu mèo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhụy của hoa thò ra giống râu con mèo. Cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0,30 hoặc 0,50 đến 1m. Thân cây có cạnh vuông, mang nhiều cành. Lá mọc đối, cặp lá trước mọc thành chữ thập đối với cặp lá sau. Cuống lá rất ngắn, chừng 2-5mm. Cụm hoa tận cùng thẳng, mọc thành chùm, màu hoa lúc non thì trắng, sau ngả màu xanh tím. Hoa nở suốt mùa hè.
Cây râu mèo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,3 – 0,5 m, có khi hơn. Thân mảnh cứng, hình vuông, mọc đứng, thường có màu nâu tím, nhẵn hoặc có ít lông, ít phân cành. Lá mọc đối, hình trứng, dài 4 – 6 cm, rộng 2,5 – 4 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép khía răng to, gân lá hơi nổi rõ ở mặt dưới, cuống lá dài 3 – 4 cm.
Cụm hoa mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, dài 8 – 10 cm, gồm 6 – 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa màu trắng hoặc hơi tím; lá bắc nhỏ rụng sớm; đài hình chuông có 5 răng, răng trên rộng, tõe ra ngoài, tràng hình ống hẹp, thẳng hoặc hơi cong, dài 2 cm, môi trên chia 3 thùy, môi dưới nguyên; nhị mọc thò ra ngoài hoa, dài gấp 2 – 3 lần tràng, chỉ nhị mảnh, nhẵn; vòi nhụy dài hơn nhị. Quả bế tư, nhỏ, nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 4 – 7
Có Thầu dầu tía sợ gì bệnh trĩ – click tìm hiểu ngay
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây râu mèo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Orthosiphon Benth., có 40 loài trên thế giới, phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Đại Dương. Vùng nhiệt đới Đông Nam Á được coi là nơi tập trung và có tính đa dạng cao về thành phần loài của chi, trong đó Việt Nam có 8 loài.
Râu mèo là cây nhiệt đới tương đối điển hình, mọc tự nhiên phổ biến ở Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, các nước ở Đông Dương và cả ở châu Phi. Cây còn được trồng ở Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Cu Ba và Việt Nam.
Ở Việt Nam, râu mèo phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi như Cao Bằng; Thanh Hoá (Vĩnh Lộc); Hà Tây (Ba Vì); Lâm Đồng; Phú Yên (Tuy Hoà); Vũng Tàu – Côn Đảo (Bà Rịa); Ninh Thuận (Phan Rang); Kiên Giang (Phú Quốc). Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần bờ nước hoặc trong thung lũng. Độ cao phân bố của cây từ khoảng 10 m (ở Phú Yên) đến 600 m (ở Cao Bằng). Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè. Mùa đông có hiện tượng bán tàn lụi ở phần thân cành trên mặt đất. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nảy mầm thường rất thấp. Râu mèo tái sinh chồi khỏe, nhất là từ những phần còn lại sau khi bị cắt
Nguồn trữ lượng râu mèo tự nhiên ở Việt Nam không đáng kể. Dược liệu râu mèo được sử dụng hiện nay chủ yếu do trồng trọt. Trên thế giới, Indonesia là nước trồng nhiều râu mèo nhất. Ngoài khối lượng dược liệu sử dụng nhiều trong nước, năm 1991 – 1995 nước này xuất khẩu sang thị trường châu Âu mỗi năm từ 170 đến 200 tấn râu mèo khô (B. Dzulkarnain, Lucie Widowati et al. in PROSEA – Med. & Pois. Pl., 12(1); 1999; 368 – 371).
2. Cách trồng râu mèo
Cây râu mèo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Râu mèo thích hợp với mọi loại đất, ưa khí hậu nóng, ẩm, sinh trưởng mạnh vào mùa hè và mùa thu, nhưng không chịu được úng.
Cây được trồng bằng thân cành vào tháng 2 – 3. Đất được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ, lên luống cao 20 – 25 cm, rộng 0,8 – 1 m, bón lót một lượng phân chuồng kết hợp NPK. Các đoạn thân cành có 3 – 4 mắt được trồng ở độ sâu 5 – 7 cm với khoảng cách 30 x 30 hoặc 30 x 40 cm. Trồng xong, tưới ngay và duy trì độ ẩm trong 1 – 2 tuần đầu đến khi cây mọc đều. Trong 1 – 2 tháng đầu, khi cây chưa phủ kín luống, cần làm cỏ và tưới thúc 2 – 3 lần bằng nước giải hoặc nước phân chuồng pha loãng. Sau mỗi lần thu hái, tỉa bớt thân cành và bón thúc. Khi trời mưa to, tháo nước kịp thời.
Có thể thu 5 – 6 lứa trong mùa hè.
3. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Cây râu mèo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lá râu mèo chứa một saponin, một alkaloid, tinh dầu 0,2 – 0,6%, tanin, acid hữu cơ (acid tartaric, acid citric và acid glycolic) và dầu béo. Saponin khi thủy phân cho sapogenin và đường là arabinose và glucose (hoặc fructose). Phần không xà phòng của dầu béo gồm -sitosterol và -amyrin. Hoạt tính của lá do có hàm lượng kali cao (0,7 – 0,8%) và một glycosid đắng là orthosiphonin (The Wealth of India VII, 1966).
Lá khô và ngọn tươi có hoa chứa các chất vô cơ khoảng 12% với hàm lượng kali cao (600 – 700 mg/100g lá tươi), flavonoid (sinensetin, 3′-hydroxy-3,6,7,4′-tetramethoxyflavone, tetramethylscutellarein), các dẫn chất của acid cafeic (chủ yếu là acid rosmarinic, acid 2,3-dicafeoyltartaric), inositol, phytosterol (-sitosterol), saponin, tinh dầu 0,7% (PROSEA 12(1), 1999).
Theo Schmidt S. và cs. 1985, tinh dầu lá, cành và thân chứa -caryophyllene, -elemene, humulene, -bourbonene và 1-octen-3-ol, caryophyllene oxide (CA. 105: 102318p).
Cây râu mèo còn chứa methylripariochromene A, orthosiphol A 16,75 mg%, carotenoid (α-carotene, -carotene, neo -carotene, 3-zeacarotene và cryptoxanthin).
Theo Takeda Yoshio và cs. 1993, cây râu mèo có orthosiphol A, B, D, salvigenin và một số hợp chất khác (CA. 119: 156258b).
Từ phần trên mặt đất của cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) thu hái tại địa phận huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, sử dụng các phương pháp chiết, tách phân đoạn, và các phương pháp sắc ký khác nhau bao gồm sắc ký bản mỏng (TLC), sắc ký cột hở pha thường (SiO2), pha đảo (RP-C18), và shephadex LH-20 đã phân lập và tinh chế được ba hợp chất có khung flavonoid. Cấu trúc hóa học của các hợp chất này được xác định lần lượt là: 3ʹ-hydroxy-3,5,7,4ʹ-tetramethoxyflavone (1), 5,7,3ʹ,4ʹ-tetramethoxyflavone (2) và 5,7,4ʹ-trimethoxyflavone (3), dựa trên các phương pháp phân tích phổ (NMR, IR, UV, MS) và các phương pháp hóa lý. Đây là lần đầu tiên hai hợp chất flavone 5,7,3ʹ,4ʹ-tetramethoxyflavone (2) và 5,7,4ʹ-trimethoxyflavone (3) được phân lập từ loài Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) ở Việt Nam (Nguyễn Phi Hùng cùng cộng sự; 2017).
Vọng cách bảo vệ gan – ngại gì không mua
4. Tác dụng dược lý
Cây râu mèo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Theo các tác giả Chow S. Y. Liao J. F. (Đài Loan), dịch chiết từ râu mèo trên chó thí nghiệm bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch với liều 18,8 mg/kg/phút có tác dụng tăng cường bài tiết nước tiểu và các chất điện giải Na+, K+, Cl–. Trên chuột nhắt trắng, râu mèo bằng đường tiêm xoang bụng với liều 2 – 4g/kg làm giảm hoạt động vận động của chuột. Trên chó, bằng đường tiêm tĩnh mạch với liều 0,179 g/kg có tác dụng hạ huyết áp và làm giảm tần số hô hấp. Dịch chiết bằng cồn của râu mèo trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm xoang bụng có LD50 = 196 g/kg.
Các tác giả G. A. Schut và J. H. Zwaving (Hà Lan) đã xác định tác dụng lợi tiểu của 2 flavon sinensetin và 3′-hydroxy-3,6,7,4′-tetramethoxyflavone của râu mèo. Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, chất 3′-hydroxy-3,6,7,4′-tetramethoxyflavone bằng đường tiêm tĩnh mạch với liều 10 mg/kg, lượng nước tiểu thu được sau 140 phút là 410mg, còn sinensetin dùng cùng liều trên, lượng nước tiểu thu được sau 160 phút là 614 mg, trong khi đó ở lô chuột đối chứng, sau 120 phút, không thu được một lượng nước tiểu nào. Hai flavon trên dùng với liều 1 mg/kg có so sánh với tác dụng của hydrochlorothiazide thấy tác dụng lợi tiểu yếu hơn và xuất hiện chậm. Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định 2 flavon trên với liều 10 mg/kg trên chuột cống trắng, không thể hiện tác dụng lợi mật tuy trong y học cổ có ghi nhận là râu mèo có tác dụng lợi mật. Xuất phát từ tác dụng điều trị viêm thận của râu mèo, 2 tác giả trên đã tiến hành nghiên cứu tác dụng chống viêm và tác dụng kháng khuẩn của các flavon chiết tách từ râu mèo. Kết quả cho thấy trên thí nghiệm gây viêm bằng phương pháp cấy viên bông (cotton-pellet), sinensetin không thể hiện tác dụng chống viêm. Về tác dụng kháng khuẩn, đã nghiên cứu với các chủng Escherichia coli, Proteus mirabilis, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus và Enterococcus là những chủng có thể gây nhiễm đường tiết niệu, kết quả cho thấy cả 3 flavon sinensetin, tetramethylscutellarein và 3′-hydroxy-3,6,7,4′-tetramethoxyflavone đều không có tác dụng kháng khuẩn với các chủng đã nêu.
Về dược lý lâm sàng, theo các tác giả Ấn Độ, râu mèo rất có ích cho điều trị bệnh thận và phù thũng. Trên bệnh nhân, râu mèo có tác dụng làm kiềm hóa máu, sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối kali trong dược liệu có tác dụng giữ cho acid uric và muối urat ở dạng hòa tan, do đó phòng ngừa được sự lắng đọng của chúng để tạo thành sỏi thận. Ở Thái Lan, thí nghiệm trên những người tình nguyện khỏe mạnh, dịch chiết râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat; oxalat với hàm lượng cao có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận, sự bài tiết citrat được tăng cường giúp ngăn ngừa sự hình thành sỏi thận. Ngoài ra, dịch chiết lá râu mèo có tác dụng hạ đường huyết ở những bệnh nhân tiểu đường, nhưng tác dụng này không hằng định, cơ chế tác dụng có thể là do kích thích sự hình thành glycogen ở gan. Các chất sinensetin và tetramethylscutellarein có tác dụng ức chế tế bào u báng Ehrlich.
Cây rau mèo có tác dụng gì ?

Râu mèo có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ thấp.
Theo kinh nghiệm dân gian, râu mèo được dùng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh viêm thận, sỏi thận, sỏi mật, tê thấp, phù thũng, viêm gan. Tài liệu Ấn Độ coi dịch hãm lá râu mèo là thuốc điều trị đặc hiệu các bệnh thận và bàng quang, ngoài ra còn dùng điều trị bệnh thấp khớp và bệnh gút.
Liều dùng: 5 – 12g lá hãm với nước sôi, chia làm 2 lần uống trước khi ăn cơm 15 – 30 phút. Nên uống lúc dịch hãm còn nóng. Hoặc sắc nước uống. Thường dùng liên tục 8 ngày, nghỉ 2 – 4 ngày lại tiếp tục nếu cần thiết. Có thể nấu thành cao lỏng, mỗi ngày dùng 2 – 5g cao. Cao lỏng râu mèo được dùng làm thuốc hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường. Nếu dùng cả cây râu mèo thì liều lượng hàng ngày là 30 – 40g, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Có tài liệu cho rằng khi cây râu mèo ra hoa phải ngắt bỏ hoa vì hoa sẽ làm giảm lượng hoạt chất trong lá. Gần đây, một số bác sĩ Việt Nam và Thụy Điển đã sử dụng râu mèo trên lâm sàng cho bệnh nhân ở Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển ở Uông Bí và thấy thuốc không làm tăng lượng nước tiểu bài tiết trong vòng 12 – 24 giờ và cũng không ảnh hưởng đến bài tiết Na+. Trong trường hợp này, cần kiểm tra lại thời gian thu hái và chất lượng dược liệu.
Bài thuốc có râu mèo:
Chữa viêm thận mạn tính, viêm bàng quang, viêm khớp, phong thấp, viêm đường ruột: Râu mèo 40g, tỳ giải và rễ ý dĩ mỗi vị 30g. Sắc nước uống.
Chữa đái ra sỏi, đái ra máu và đái buốt: Râu mèo 40g, thài lài trắng 30g. Sắc lấy nước, mỗi lần hòa thêm 6g bột hoạt thạch uống trong ngày, chia làm 3 lần. Uống liền 5 – 7 ngày.
Xem thêm sản phẩm – sương sâm lông
Kỹ thuật trồng râu mèo

1. Chọn vùng trồng
Đất trồng cây râu mèo không cần đòi hỏi khắt khe. Đất thịt nhẹ chứa nhiều mùn, tầng canh tác dày vẫn là tốt nhất, độ pH tối thiểu từ 5,5 – 7,0. Nhiệt độ thích hợp có thể từ 20 – 30oC, độ ẩm 80 – 90%, là cây ưa ẩm và ưa sáng. Đất kém cây vẫn có thể sinh trưởng nhưng năng suất thấp hơn.
2. Giống và kỹ thuật làm giống
Có 2 phương pháp nhân giống nhân giống râu mèo là vô tính và hữu tính. Với phương pháp nhân giống vô tính (giâm cành) cho hiệu suất nhân giống cao, dễ áp dụng với nhiều người, do đó trong thực tế sử dụng phương pháp này là chủ yếu.
3. Thời vụ trồng
Có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất vẫn là vào mùa xuân từ tháng 2 – 4 hàng năm với các tỉnh phía bắc và vào đầu mùa mưa với các tỉnh thuộc miền nam.
4. Kỹ thuật làm đất
Đất phải được cày sâu 25 – 30 cm, tiến hành để ải, bừa kỹ, làm nhỏ đất, nhặt sạch cỏ dại, chia luống 1,0 – 1,2 m và bón toàn bộ phân lót, lên luống cao 20 – 25 cm, luống rộng tối thiểu 70 – 80 cm, rãnh rộng 30 – 40 cm, độ dài tùy thuộc theo ruộng trồng.
5. Mật độ và khoảng cách trồng
Khoảng cách trồng sẽ là 20 x 40 cm. Mật độ 125.000 cây/ha.
6. Kỹ thuật trồng và chăm sóc.
Trồng cây giống đủ tiêu chuẩn theo mật độ xác định. Sau khi trồng, tưới và giữ ẩm để cây có thể nhanh bén rễ. Từ khi trồng đến khi cây ra rễ (hoặc ra lá mới sau khi thu hoạch các lứa) 7 – 10 ngày, cần đảm bảo độ ẩm thường xuyên đạt 80% (mỗi ngày tưới 1 lần), trong thời gian này loại bỏ những cây chết, dị dạng, bị sâu bệnh, và dặm cây mới.
Khi râu mèo bước vào giai đoạn phát triển mạnh (thường sau trồng hoặc cắt dược liệu 45 – 60 ngày) phải luôn luôn tiến hành giữ ẩm 50 – 60 % . Trước khi bón thúc kết hợp làm cỏ, xới xáo nếu không đủ ẩm phải tiến hành tưới bổ sung. Khi cây bắt đầu ra hoa có thể thu hoạch.
7. Thu hoạch và sơ chế
– Thu hoạch: Thu hoạch vào thời điểm trước khi cây nở hoa. Mỗi năm sẽ cho thu hoạch 2 – 3 lứa cắt (lứa đầu tiên thu sau khi trồng 2,5 – 3 tháng). Sau 2 – 3 năm nên trồng cây mới để năng suất cao hơn.
– Sơ chế: Cắt toàn bộ thân lá cách gốc ít nhất khoảng độ 20 – 25 cm, cắt ngắn từ 2 – 3 cm, phơi hoặc sấy khô đến khi bẻ cuống thấy giòn là cho ngay vào túi nilon.
Phong lộc hoa – món quà ý nghĩa cho người tuổi Sửu – sưu tầm ngay
Mua giống râu mèo ở đâu chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm giống cây râu mèo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây râu mèo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Nguyễn Phi Hùng, Hoàng Đức Thuận, Nguyễn Thị Thảo, Vũ Quốc Trung, Phạm Quốc Long (2017). “Một số flavonoids phân lập từ cây Râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) ở Việt Nam”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng. Số 5(114) – Quyển 1. ISSN 1859 – 1531.








