Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Mì chính hay rau bina, bánh tẻ, đu đủ Nhật, rau Lào, rau chân vịt, … tên tiếng Anh là chaya, tree spinach, Mayan tree spinach, spinach tree (danh pháp khoa học là Cnidoscolus aconitifolius (Mill.) I.M.Johnst.; đồng nghĩa: Jatropha aconitifolia Mill.) là loài thực vật thuộc họ Đại Kích Euphorbiaceae. Cây này được trồng chủ yếu để lấy lá.



Mô tả cây mì chính
Cây mọc cao tới 5 mét. Lá xẻ thùy hình chân vịt với ba hoặc nhiều thùy, mỗi thùy lại tiếp tục chia thành nhiều thùy nhỏ hơn, kích thước từ 10 – 30 cm tùy theo tuổi và giống cây. Hoa nhỏ màu trắng mọc thành cụm ở ngọn, cao hơn hẳn tán lá xung quanh. Quả nang, hình bầu dục có sọc dọc, đường kính khoảng 1,5 cm; khi còn non có màu xanh, về sau chuyển sang vàng nhạt đến nâu vàng và khi chín sẽ tự nứt để phát tán hạt. Quả chín hiếm khi thấy ở các cây trồng vườn vì chúng thường được nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng (giâm cành); hoa trên những cây này thường bất thụ hoặc hiếm khi xuất hiện.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái
Mì chính Cnidoscolus aconitifolius được cho là có nguồn gốc từ bán đảo Yucatán ở phía đông nam Mexico, trải dài qua Trung Mỹ đến tận Panama. Phân loài C. aconitifolius subsp. aconitifolius là loài đặc hữu từ miền bắc Mexico kéo dài xuống Belize và Guatemala, cũng thấy được trồng ở nhiều quốc gia khác, xa nhất về phía nam đến Peru. Trong khi đó, phân loài C. aconitifolius subsp. polyanthus (Pax & K.Hoffm.) Breckon chỉ giới hạn ở một khu vực nhỏ thuộc miền tây Mexico.
Mì chính được trồng ở các vùng khí hậu ấm áp trên khắp thế giới chủ yếu để lấy lá ăn được, bao gồm miền bắc Nam Mỹ, châu Phi nhiệt đới, Đông Nam Á và khu vực Thái Bình Dương. Cây non cũng được trồng tại Việt Nam. Cây dễ trồng, ít bị sâu hại, chịu được mưa lớn và có khả năng chống chịu hạn nhất định. Việc nhân giống mì chính thường bằng cành gỗ dài khoảng 15 – 30 cm, vì hạt rất hiếm thấy. Giai đoạn đầu, cây phát triển chậm do rễ từ cành giâm hình thành chậm, lá chỉ bắt đầu được thu hoạch từ năm thứ hai trở đi. Lá mì chính có thể được thu hoạch liên tục miễn là không lấy quá 50% số lá trên cây.
2. Giá trị dinh dưỡng
Đang tìm tài liệu.
3. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Phân tích hóa thực vật các dịch chiết lá bằng n-hexane, dichloromethane và ethyl acetate của Cnidoscolus aconitifolius được thực hiện bằng các phương pháp UV-Vis, FTIR và GC-MS. Mẫu vật sử dụng được thu thập từ khu vực Eleme, thành phố Port-Harcourt, bang Rivers, Nigeria.
- Các thành phần hóa thực vật được xác định trong dịch chiết n-hexane của C. aconitifolius bằng phương pháp GC-MS là 6,10,14-trimethyl-2-pentadecanone (1), n-hexadecanoic acid (2), 3,7,11,15-tetramethyl-[R-[R*,R*,R*(E)]]-2-hexadecen-1-ol (3), 9-octadecenoic acid (z) (4), n-octadecanoic acid (5), 1,2,3-propanetriyl ester (E,E,E)-9-octadecenoic acid (6), 1-(hydroxymethyl)-1,2-ethanediyl ester-hexadecanoic acid (7).
- Các thành phần hóa thực vật được xác định trong dịch chiết dichloromethane của C. aconitifolius bằng phương pháp GC-MS là 9–eicosyne (1), 6,10,14-trimethyl-2-pentadecanone (2), 3,3,6-trimethyl-4,5-heptadiene-2-ol (3), 2-(2-hydropropyl)-1,4-benzenediol (4), methyl-14-methylpentadecanoate (5), n-hexadecanoic acid (6), 9,12-octadecanoic acid (z, z)-methyl ester (7), 9-octadecenoic acid (z)-methyl ester (8), 3,7,11,15-tetramethyl-[R,-[R*,R*-(E)]]-2-hexadecen-1-ol (9), 9-octadecenoic acid (z) (10), n-octadecanoic acid (11), n-octacosane (12), 2,3-dihydroxypropyl ester-9-octadecenoic acid (z) (13), 1,2,3-propanetriyl ester (E,E,E)-9-octadecenoic acid (14).
- Các thành phần hóa thực vật được xác định trong dịch chiết ethyl acetate của C. aconitifolius bằng phương pháp GC-MS là 1,2,3-propanetriol (1), 1,2,3-propanetriol monoacetate (2), 1,2,3-propanetriol diacetate (3), 1,2,3-propanetriol triacetate (4), l-(+)-ascorbic acid-2,6-dihexadecanoate (5), 9-octadecenoic acid (z) (6), 1,2,3-propanetriyl ester (E,E,E)-9-octadecenoic acid (7).
⇒ Từ kết quả GC-MS, quan sát thấy 9-octadecenoic acid (z) xuất hiện với hàm lượng cao nhất trong tất cả các dịch chiết, cụ thể là n-hexane (56,77%), dichloromethane (43,13%) và ethyl acetate (57,22%) (Omotoso Abayomi E et al.; 2014).
Mariana Z. Pérez-González và cộng sự (2017) đã phân lập được từ lá các hợp chất là moretenol (1), moretenyl acetate (2), kaempferol-3,7-dimethyl ether (3) và 5-hydroxy-7-3′,4′-trimethoxyflavanone (4).
Từ mẫu lá tươi của Cnidoscolus aconitifolius thu thập từ một trang trại tại Trường Nữ sinh Liên bang, Sokoto, Nigeria, Otitolaiye và cộng sự đã phân lập được 42 hợp chất bằng phân tích GC-MS. Các hợp chất chính gồm borneol (1,41%), caryophyllene oxide (2,73%), 1H-cycloprop[e]azulene (2,02%), 4-(1,5-dimethylhex-4-enyl)cyclohex-2-enone (4,15%), farnesol (2,51%), spiro[4.5]dec-6-en-8-one (6,87%), longipinane (4,18%) và benzene, 1-(1,5-dimethyl-4-hexenyl)-4-methyl (13,37%) (Otitolaiye C A et al.; 2013).



Công dụng của rau mì chính
Theo Đông y, rau mỳ chính được coi có vị bùi, tính mát, được sử dụng trong giải độc, thanh nhiệt.
Mì chính cũng được xem là một trong những loại rau xanh cho năng suất cao nhất. Lá của cây rất giàu protein, vitamin, canxi, sắt và chất chống oxy hóa, chứa lượng dưỡng chất gấp hai đến ba lần so với nhiều loại rau lá phổ biến khác. Tuy nhiên, lá mì chính có chứa cyanogenic glycoside, có thể gây độc nếu ăn sống. Vì vậy, trước khi chế biến món ăn nào từ loại rau này, cần đảm bảo nấu chín hoàn toàn để loại bỏ độc tố trên. Ngoài ra, không nên dùng dụng cụ bằng nhôm để nấu mì chính nhằm tránh các tác dụng phụ nguy hiểm.
Địa chỉ bán cây rau mì chính tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống mì chính phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cnidoscolus aconitifolius – Wikipedia tiếng Anh.
- Anil Panghal, Anjali Onakkaramadom Shaji, Kiran Nain, Mukesh Kumar Garg, Navnidhi Chhikara (2021). “Cnidoscolus aconitifolius: Nutritional, phytochemical composition and health benefits – A review”. Bioactive Compounds in Health and Disease. 4(11): 260 – 286.
- Omotoso Abayomi E, Eseyin O Olorunfemi, Suleiman Mikailu (2014). “Phytochemical analysis of Cnidoscolus aconitifolius (Euphorbiaceae) leaf with spectrometric techniques“. Nigerian Journal of Pharmaceutical and Applied Science Research. 3(1): 38 – 49.
- Mariana Z. Pérez-González, Gabriel A. Gutiérrez-Rebolledo, Lilián Yépez-Mulia, Irma S. Rojas-Tomé, Julieta Luna-Herrera, María A. Jiménez-Arellanes (2017). “Antiprotozoal, antimycobacterial, and anti-inflammatory evaluation of Cnidoscolus chayamansa (Mc Vaugh) extract and the isolated compounds”. Biomedicine & Pharmacotherapy. Volume 89, pages 89 – 97.
- Otitolaiye C A, Asokan C (2013). “GC-MS analysis of Cnidoscolus aconitifolius leaf aqueous extracts”. International Journal of Science and Research (IJSR). ISSN (Online): 2319 – 7064. Index Copernicus Value (2013): 6.14 | Impact Factor (2015): 6.391.
- Loài rau thân như cây sắn, lá như lá đu đủ, ăn giòn ngọt, dân làng tiện miệng gọi là rau mì chính – Báo Dân Việt – Thứ sáu, ngày 06/06/2025 09:24 GMT+7.








