Bộ sưu tập







Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Thầu dầu tía hay đu đủ tía, tên tiếng Anh là castor bean, castor oil plant (danh pháp khoa học là Ricinus communis L.) là một loài thực vật nằm trong họ Đại kích Euphorbiaceae và là thành viên duy nhất trong chi Ricinus cũng như phân tông Ricininae.
Thầu dầu tía có nguồn gốc ở vùng Đông Phi, nhưng ngày nay nó đã phổ biến ở trên toàn thế giới. Thầu dầu quá dễ thích nghi với môi trường sống mới và có thể tìm thấy ngay cá ở các vùng đất bị bỏ hoang, gần đường sắt và gần đây được trồng nhiều để làm cảnh trong công viên hay các nơi công cộng khác.
Các hạt thầu dầu cũng được phát hiện nằm trong các ngôi mộ của người Ai Cập cổ đại có niên đại vào khoảng những năm 4000 TCN. Herodotus và các nhà du hành người Hy Lạp cổ đại khác cũng đã có đề cập tới việc sử dụng dầu của hạt thầu thầu để thắp sáng và xức dầu lên cơ thể.
Việc sử dụng dầu của hạt thầu dầu tại Ấn Độ cũng đã được đề cập tới trong một số tư liệu kể từ những năm 2000 TCN trong y học cổ đại như là một loại thuốc nhuận tràng. Hạt thầu dầu và dầu của nó cũng được sử dụng phổ biến tại Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, chủ yếu trong việc kê các đơn thuốc trong y học để uống hay sử dụng trong băng bó.
Mô tả cây thầu dầu tía
Cây thầu dầu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây thầu dầu là một cây sống lâu năm, thân yếu nhưng có thể cao tới 10 – 12m. Khi trồng tranh thủ giữa các vụ lúa, người ta chỉ để nó cao tới 1 – 2m. Lá mọc so le có cuống dài, 2 lá kèm hai bên họp thành một túi màng, sớm rụng, phiến là hình chân vịt, gồm 5 – 7 – 9 có khi tới 11 thùy, cắt sâu, mép có răng cưa không đều. Hoa mọc thành chùm xim nhiều hoa, xim dưới gồm toàn hoa đực, xim trên toàn hoa cái. Quả 3 mảnh vỏ dài 2 – 3cm, rộng 2cm, trên mặt có nhiều gai mềm, đầu tròn và có 3 vết lõm chia 3 ngăn, trên lưng mỗi ngăn lại có 1 rãnh nông nữa. Hạt hình trứng, hơi dẹt, dài 8mm, rộng 6mm, ở đầu có mồng (chính là áo hạt của noãn khổng). Mặt hạt nhẵn bóng màu nâu xám. có vân đỏ nâu hay đen.
Có nhiều loại thầu dầu: Thầu dầu thường và thầu dầu tía chỉ có lá loại tía được chọn dùng làm thuốc.
Cây thầu dầu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây cao 3 – 4 m, có khi hơn. Thân cành hình trụ nhẵn, màu lục hoặc đỏ tía. Cành non có phấn trắng. Lá mọc so le, xẻ sâu hình chân vịt, có 7 thùy, thùy tận cùng lớn hơn, đầu nhọn, mép có răng cưa, hai mặt nhẵn; cuống lá dài, có tuyến, đính vào trong phiến lá; lá kèm sớm rụng.
Cụm hoa mọc thành chùy ở ngọn thân hoặc kẽ lá, phủ bởi nhiều lá bắc; hoa đực ở dưới, hoa cái ở trên; hoa đực có đài 3 – 5 răng, nhị rất nhiều, phân nhánh; hoa cái có 5 lá đài sớm rụng, vòi nhụy màu đỏ, bầu 3 ô có nhiều gai mềm. Quả nang màu lục hoặc tím nhạt, có gai mềm, hạt 3, hình bầu dục hơi dẹt, nhẵn bóng, điểm những đốm xám hoặc đen. Mùa hoa: tháng 2 – 6; mùa quả: tháng 8 – 10.
Xem thêm sản phẩm mới cây Vọng cách tại shop
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây thầu dầu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi vùng nhiệt đới: Việt Nam (Hà Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Ấn Độ, bắc châu Phi, Brasil, …
Mùa thu hoạch hạt vào tháng 4 – 5, nhưng chủ yếu với mục đích ép dầu dùng trong công nghiệp. Làm thuốc chỉ dùng rất ít hạt và dầu. Lá hái quanh năm. Thường chỉ dùng lá tươi.
Cây thầu dầu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Ricinus L. chỉ có 1 loài là cây thầu dầu. Cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi; còn thấy mọc tự nhiên ở vùng cận Himalaya thuộc Ấn Độ. Hiện nay thầu dầu được trồng rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở Brasil, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc và một số nước thuộc Liên xô trước đây ở vùng Trung Á.
Ở Việt Nam, thầu dầu cũng là cây trồng từ lâu đời và trở nên hoang dại hóa ở nhiều nơi. Trước năm 1980, cây được trồng nhiều ở các tỉnh dọc các triền sông lớn, như sông Hồng, sông Lô và sông Đuống. Những năm gần đây, vùng trồng này đã bị thu hẹp nhiều.
Thầu dầu là cây ưa sáng và có biên độ sinh thái tương đối rộng. Do kết quả của công tác chọn giống, thầu dầu trồng hiện nay gồm nhiều giống. Tùy theo đặc điểm của mỗi loại, chúng có thể thích nghi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm hoặc hơi khô. Các giống thầu dầu trồng ở Trung Quốc và vùng Trung Á có khả năng chịu được nhiệt độ thấp. Tuy nhiên, nếu gặp thời tiết có sương mù nhiều ngày, cây có thể bị chết. Thầu dầu có thể chịu được ngập úng trong 1 – 3 ngày.
Thầu dầu ra hoa quả hàng năm. Thông thường, mỗi cành cho một cụm hoa; hoa đực và hoa cái riêng; hoa thụ phấn chủ yếu nhờ côn trùng hoặc gió. Tỷ lệ hoa kết quả thường rất cao. Tuy nhiên, lượng hoa quả nhiều nhất ở năm trồng đầu tiên, sau đó kém dần. Vì vậy, sau vụ thu hoạch thứ nhất, người ta thường chặt bỏ cây, và trồng lại vào năm sau. Hạt thầu dầu có tỷ lệ nảy mầm đạt tới 100%; hạt để càng lâu (sau 1 năm) tỷ lệ này giảm dần.
Thầu dầu là cây có giá trị sử dụng cao. Hạt thầu dầu dùng để lấy dầu béo; lá nuôi tằm và làm phân xanh rất tốt; thân cành làm củi đun. Ở vùng bãi sông Hồng, nhân dân thường trồng thầu dầu sớm, thu hoạch hạt trước mùa nước lũ. Cây trồng xen với đậu đỗ vẫn cho thu hoạch cao. Ở Ấn Độ người ta còn trồng xen gừng dưới tán thầu dầu.
3. Cách trồng thầu dầu
Cây thầu dầu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thầu dầu được trồng trên các bãi bồi ven sông, ven đường, bờ mương ở nhiều nơi. Cây được trồng bằng hạt. Hạt chín thu vào mùa thu, gieo ngay hoặc đợi đến mùa xuân. Khi gieo, thường bổ hốc cách nhau 0,7 – 1m, mỗi hốc gieo 2 – 3 hạt, sau tỉa bớt chỉ để lại một cây. Nếu làm luống, nên trồng 2 hàng.
Thầu dầu dễ trồng, dễ sống, ít cần chăm sóc. Đôi khi có thể bị sâu róm hại lá. Cây trồng 1 năm thì ra hoa kết quả. Để dùng làm thuốc người ta thường trồng giống thầu dầu tía.
3. Thành phần hóa học
Cây thầu dầu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả lại các hợp chất):
Trong hạt thầu dầu có 40 – 50% dầu, 25% chất albuminoid, axit malic, đường muối, cellulose, ricin và ricinine, các men trong đó có men lipase.
Dầu thầu dầu là một chất lỏng sền sệt, trong, không màu hay hơi vàng, mùi vị nhạt và buồn nôn, tỷ trọng ở 15oC là 0,950 – 0,970, độ nhớt Engle 18,8 (nếu là dầu ép) hoặc 17,4 – 13,3 (nếu là dầu chiết bằng dung môi). Thành phần của dầu ngoài các glyceride chung như stearin, palmitin, còn có một glyceride đặc biệt là ricinolein (xà phòng hoá sẽ cho axit ricinoleic) một ít axit isoricinoleic và axit dioxystearic.
Axit ricinoleic hay axit 12-hydroxy-9-cis-octadecenoic là một axit béo rượu công thức sau đây:
Thuỷ phân axit ricinoleic sẽ cho axit onantylic và axit undecylenic có tác dụng chống nấm rất mạnh và được dùng trong kỹ nghệ nước hoa (tổng hợp undecanone, nonanone, aldehyde undecylenic, methyl heptine carbonate) kỹ nghệ cao phân tử rinsan.
Chất ricin tỷ lệ 3 – 5% trong hạt là một protein rất độc. Khi ép dầu, chất này nằm lại trong khô dầu, làm thức ăn được. Có thể chiết chất ricin bằng nước muối (ngâm) rồi kết tủa bằng amon sunfat. Nó không tan trong đầu.
Ricinine là một alkaloid có tinh thể, không màu, tan trong nước, công thức thô C8H8N2O2, cấu tạo hoá học của nó đã được Sparth và Koller (1923) xác định là 3-cyano-4-methoxy-N-methyl-2-pyridone. Khi phân giải, ta sẽ có cồn metylic và axit ricinic.
Tỷ lệ ricinine trong hạt là 0,15%; trong lá non là 1,3%; trong lá úa là 2,5%.
Thành phần lá thầu dầu chưa thấy giới thiệu nhiều, chỉ mới biết có ricinine với tỷ lệ như trên.
Trong lá thầu đấu có axit lactic, axit citric, axit corydalic (Hoá học học báo,1957, 23, 201), nhiều axit amin, rutinoside (khoảng 0,2%), quercitrin, astragalin, axit β-eleostearic, và axit oleic, axit hữu cơ no, lá tươi còn chứa corilagin C27H22O18, axit gallic, axit ellagic và axit shikimic (Arthur H. R. Symposium on Phytochemistry, 1964, 164 và Kariyone et al. Annual Index of the Reports on Plant Chemistry, 1959, 69).
Bốn hợp chất mới có tên là (3E,7Z,11E)-19-hydroxycasba-3, 7, 11-trien-5-one (1), 6α-hydroxy-10β-methoxy-7α,8α-epoxy-5-oxocasbane-20,10-olide (2), 15α-hydroxylup-20(29)-en-3-one (3), và (2R,4aR,8aR)-3,4,4a,8a-tetrahydro-4a-hydroxy-2,6,7,8a-tetramethyl-2-(4, 8,12-trimethyltridecyl)-2H-chromene-5, 8-dione (4) đã được phân lập từ chiết xuất MeOH của các bộ phận trên mặt đất của Ricinus communis L. bằng phương pháp sắc ký. Cấu trúc của chúng đã được làm sáng tỏ bằng các thí nghiệm quang phổ mở rộng (Qin-Gang Tan et al.; 2009).
Cây thầu dầu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Hạt thầu dầu gồm 75% nhân và 25% vỏ.
Nhân hạt chứa nước 5,1 – 5,6%, protein 12,0 – 16,0%, dầu béo 45,0 – 50,6%, hàm lượng P cao (90%) dưới dạng phytin, phospholipid 0,12% gồm chủ yếu phosphatidylethanolamine (PE). Globulin chiếm 60% protein của hạt. Ngoài ra, còn có acid uric 6 mg/100g và acid hydrocyanic. Vỏ hạt giàu chất vô cơ và có chất đắng, chất nhựa, sắc tố, alkaloid (ricinine), dầu béo nhớt. Hạt thầu dầu Ấn Độ chứa 37 – 61% dầu béo. Đến tuần lễ thứ 6, hàm lượng dầu béo là 48%.
Theo tài liệu khác, hạt có lipase và nhiều enzyme khác như amylase, invertase, maltase, endotrypsin, glycolic acid oxidase, ribonuclease, một zymogen tan trong dầu, catalase, peroxidase và reductase, nhiều thành phần độc 2,8 – 3,0% so với toàn hạt. Chất độc chính là ricin (albumin), rất độc đối với các động vật có vú. Nó có thể làm sưng mắt, có tính kháng nguyên hoặc gây miễn dịch, làm vón hồng cầu của động vật có vú. Ricin bị mất tính độc và tính kháng nguyên nếu đem xử lý bằng kali permanganat.
Hạt còn có một hàm lượng allergen cao. Chất này không độc đối với người không mẫn cảm, nhưng dễ gây dị ứng với người dễ mẫn cảm dù chỉ ở nồng độ rất thấp.
Ricinine (3-cyano-4-methoxy-N-methyl-2-pyridone) có chủ yếu trong vỏ hạt, còn có trong lá và thân. Nó có độc tính thấp đối với người.
Dầu thầu dầu tan trong một thể tích cồn 95o. Tan theo bất cứ tỉ lệ nào trong cồn tuyệt đối, acid acetic băng, ether và chloroform. Tỉ trọng ở 20o là 0,953 – 0,964. Chỉ số khúc xạ ở 20o: 1,475 – 1,480. Năng suất quay cực: +3o đến 5,3o. Chỉ số xà phòng hóa: 176 – 186. Chỉ số acid: không quá 3. Chỉ số iod: 82 – 90. Chỉ số acetyl: 143 – 156.
Dầu thầu dầu gồm chủ yếu acid ricinoleic hay acid (9Z,12R)-12-Hydroxyoctadec-9-enoic có thể đạt 90%, làm cho dầu có độ nhớt cao. Hàm lượng acid ricinoleic tăng lên khi hạt chín. Dầu còn có triricinolein 68,2%, diricinolein 28,0%, oleo-diricinolein 7,5%, linoleo-diricinolein 8,3%, các diricinolein khác 7,3%, monoricinolein 2,9%, glycerid không ricinoleic.
Dầu thầu dầu tinh chế có thể bảo quản trong 6 – 12 tháng. Dầu rất ổn định trong 1 – 2 năm, không bị ôi khét.
Dầu thầu dầu đem xử lý bằng acid sulfuric ở nhiệt độ thấp cho sản phẩm gọi là “dầu đỏ Thổ Nhĩ Kỳ” được dùng để sản xuất thuốc nhuộm, trong công nghiệp dệt và thuộc da. Dầu là chất nhũ hóa dùng trong công nghiệp, đem hydro hóa cho nguyên liệu làm chất sáp, gọi là “sáp thầu dầu” trong đó, chủ yếu là 12-hydroxy-stearin, được dùng làm chất dẻo, chất chống lão hóa, chất dùng trong các chuyên ngành công nghiệp.
Dầu thầu dầu đem nhiệt phân ở nhiệt độ trên 150o sẽ cho các chất heptaldehyde và acid undecylenic. Heptaldehyde là nguyên liệu để chế các sản phẩm nước hoa. Acid undecylenic và aster được dùng trong công nghệ hương liệu. Acid undecylenic còn được dùng làm chất dẻo gọi là “rilsan” có ứng dụng trong chế tạo tơ cứng, có tính diệt khuẩn để trị một số bệnh ngoài da.
Dầu thầu dầu còn là nguyên liệu sản xuất acid sebacic cần cho việc sản xuất chất dẻo và chất bôi trơn dioctyl sebacate trong các động cơ.
Phần không xà phòng hóa chứa β-sitosterol, squalene, tocopherol.
Khô dầu chiếm 58 – 70% so với hạt và 35 – 55% so với hạt đã loại vỏ. Khô dầu chứa nước 9,0 – 9,5%, dầu béo 6,5 – 8,0%, protein thô 20,5 – 46,0%, chất xơ và carbohydrate 49,0, 26,0%. Khô dầu được dùng làm phân bón.
Các acid amin (39,8%) trong khô dầu là arginine 10,0, histidine 1,7, leucine 5,6, isoleucine 4,6, lysine 3,0, methionine 1,5, phenylalanine 4,7, threonine 3,2, tryptophan 1,1 và valine 5,4 g/16 gN.
Khô dầu giàu acid glutamic 5,2% có thể dùng để chế natri glutamate.
Lá chứa pentosan 16 – 17%, lignin 19 – 20%, cellulose 51%.
(The Wealth of India IX, 1972).
Ngoài ra, cây thầu dầu còn có kaempferol 3-xyloside, reynoutrin (quercetin-3-O-β-D-xylopyranoside) (The Handbook of natural flavonoids I, 1999).
4. Tác dụng dược lý
Cây thầu dầu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính):
Dầu thầu dầu có tác dụng tẩy nhẹ và chắc chắn. Uống lúc đói với liều 10 – 30g. Sau khi uống từ 3 đến 4 giờ sẽ gây đi ỉa nhiều, mà không đau bụng. Với liều 30 – 50g, đi ỉa sẽ kéo dài 5 – 6 giờ. Dầu này không hề gây một hiện tượng sót nào trong ruột. Theo dõi bằng X quang, người ta thấy ruột non và ruột già co bóp nhiều hơn. Nó không hề ảnh hưởng tới xương chậu nhỏ, do đó rất tốt cho phụ nữ có thai mà táo bón. Nhưng dùng luôn, nó có thể gây chán ăn, lưỡi trắng và có khi sốt. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do không tiêu, chứ không gây tổn thương nào trên niêm mạc.
Theo Valette và Salvanet (1936), tác dụng tẩy của dầu thầu dầu tía là do axit ricinoleic được giải phóng bên trong ruột. Axit này tác dụng mạnh lên mẩu đầu ruột non.
Chất ricin là một chất độc. Với liều 0,002mg, đối với 1kg thể trọng đã làm chết một con thỏ. Tác dụng độc của nó giống như vi trùng. Nó có thể gây miễn dịch, tức cho súc vật ăn với liều nhỏ, nhiều lần, thì sau đó súc vật có thể ăn với liều khá cao mà không chết.
Ricin bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, cho nên có nơi có thể cho lợn ăn khô thầu dầu đã hấp nóng ở 115oC trong 1 tiếng rưỡi. Một vài nơi thấy người dân ăn hạt thầu dầu xào nấu mà không thấy hiện tượng bị ngộ độc.
Nhưng nếu không bị phá hủy, thì độc của nó rất cao. Cụ thể với liều 3g khô dầu đủ giết chết một con bò non nặng 100kg, chỉ cần tiêm 0,03mg cho 1kg thể trọng chó là đủ giết chết chúng. Liều độc đối với một con chuột bạch nặng 500g là 6 phần triệu gam tức đối với chuột bạch, ricin độc gấp 7 lần aconitine – một chất độc được xếp vào loại độc nhất có trong ô dầu (chi Aconitum). Liều độc với người là 3mg tiêm dưới da, 180mg uống, một hạt đủ gây nôn mửa, 3 – 4 hạt đủ làm trẻ con chết, 14 – 15 hạt có thể gây tử vong ở người lớn. Tiêm chất ricin đun lâu có thể gây nhiễm độc. Thanh huyết miễn độc, anti-ricin đủ lâu có thể giảm bớt hiệu lực.
Được biết cơ chế tác dụng của ricin là làm vón hồng cầu và bạch cầu.
Chất ricinine không thấy có tài liệu nào về tác dụng dược lý.
Cây thầu dầu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dầu thầu dầu, thu được do ép lạnh hạt thầu dầu, được dùng trong y học làm thuốc tẩy. Tác dụng nhuận tràng mạnh của dầu thầu dầu là do tác dụng kích ứng tại chỗ trong ruột của acid ricinoleic tạo nên sau sự thủy phân bởi enzyme tiêu mỡ. Hoạt tính vận động của ruột bị kích thích, mà không làm đau quặn bụng nhiều, nhu động ruột tăng nhanh nên cần ít thời gian hơn để hấp thụ nước từ chất chứa trong ruột, tạo nên lượng phân lỏng lớn trong vòng 6 giờ sau khi uống dầu thầu dầu. Acid ricinoleic tinh khiết và các ester cũng có tác dụng tẩy. Việc sử dụng thường xuyên dầu thầu dầu có thể gây kích ứng ruột nghiêm trọng và làm suy giảm chức năng tiêu hóa, chán ăn.
Cao cồn 50o của rễ thầu dầu có tác dụng hạ đường máu trên chuột cống trắng. Cao cồn 50o của rễ và thân cây lại có tác dụng diệt Entamoeba histolytica chủng STA, và ức chế sự tăng trưởng của carcinom dạng biểu bì của mũi – họng người trong nuôi cấy mô. Lá thầu dầu có tác dụng kháng virus bệnh đậu bò và hạ đường máu. Dung dịch của hoạt chất ricinin với nồng độ 119 ppm (5 g lá tươi trong 100 ml nước) có tác dụng diệt trứng và ấu trùng, nhưng không diệt côn trùng đã trưởng thành đối với các loài muỗi Anopheles stephensi, Culex fatigans và Aedes aegypti. Lá thầu dầu có thể là thuốc diệt bọ gậy rẻ tiền trong một chương trình kiểm soát vật chủ trung gian hợp nhất. Immunotoxin bào chế từ ricin là chất độc được phân lập từ hạt thầu dầu, đã được áp dụng trên lâm sàng để điều trị bệnh nhân ung thư. Sau đó, những chất liên hợp miễn dịch chứa kháng thể đơn dòng đặc hiệu đối với protein của vỏ liên kết với mạch ricin A, được chứng minh diệt tế bào T nhiễm HIV và bạch cầu đơn nhân to.
Sương sâm lông – không làm thạch thì làm gì chứ – tìm hiểu ngay
Cây thầu dầu tía chữa bệnh gì ?
Dầu thầu dầu được dùng làm thuốc tẩy với liều cho người lớn 30 – 50 g; trẻ em: 10 – 15 g. Sau khi uống dầu 2 giờ thì uống nước. Phụ nữ có thai cũng có thể dùng. Theo kinh nghiệm nhân dân, để chữa sót nhau đẻ khó, dùng 15 hạt thầu dầu tía giã nhỏ, đắp vào gan bàn chân, buộc lại, sau khi thai nhau ra rồi, rửa sạch chân. Dùng riêng hoặc phối hợp với lá. Để chữa bị thương sưng tấy, viêm tuyến vú, lá thầu dầu tươi giã nát chưng với giấm đắp ngày 2 lần. Lá thầu dầu tươi nấu nước tắm rửa, chữa ghẻ lở, ngứa. Rễ thầu dầu chữa phong uốn ván do nhiễm trùng, với liều 30 – 40g, sắc và chia uống làm 3 lần. Rễ thầu dầu tía phối hợp với dây đau xương và rễ lá lốt sắc uống chữa tê thấp. Khô dầu rất độc, có thể giã nhỏ cho vào chuồng phân, vừa diệt sâu bọ, vừa làm phân bón trừ sâu.
Trong y học Trung Quốc, dầu thầu dầu có tác dụng giảm đau, chống viêm, giải độc và tẩy, chữa mụn nhọt và những bệnh nhiễm khuẩn có mủ ở da, tràng nhạc, táo bón. Hạt chín khô tán bột làm thành cao mềm bôi dán tại chỗ.
Trong y học Ấn Độ, dầu thầu dầu được dùng làm thuốc tẩy, và chữa tiêu chảy cấp tính do ngộ độc thức ăn, làm sạch ruột trước khi chụp tia rơngen. Có thể dùng liều nhỏ nhắc lại để điều trị cơn đau ruột ở trẻ em, dùng thận trọng ở phụ nữ đang hành kinh hoặc mang thai. Dầu thầu dầu gây sung huyết ở vùng ruột và không được dùng điều trị giun móc hoặc những giun khác cùng với tetrachloroethylene hoặc thuốc trị giun tan trong mỡ, vì có thể làm tăng hấp thu thuốc trị giun và do đó làm tăng độc tính. Thường dùng dầu thầu dầu với liều 4 – 16 ml, liều tối đa an toàn là 60ml trong 24 giờ. Trẻ nhỏ cần liều hơi cao hơn liều người lớn tính theo kilogam thể trọng. Dầu khó uống do vị khó chịu và tính chất nhớt nên đôi khi được dùng dạng nhũ dịch ngọt thơm, hoặc viên nang, nhất là đối với trẻ em.
Dầu thầu dầu có khi được dùng trong bột nhão để gây sẩy thai, và acid ricinoleic trong kem và thuốc đông ngừa thai. Dùng ngoài, dầu thầu dầu là thuốc làm dịu da nhẹ ở dạng thuốc bôi dẻo 5 – 10% để điều trị viêm da tiết chất nhờn và bệnh da khác. Dầu sulfat trung tính được dùng thay xà phòng trong trường hợp viêm da tiếp xúc do dầu máy, mỡ bôi trơn, thạch cao. Dầu thầu dầu được dùng làm dung môi để loại bỏ chất kích ứng ở mắt. Những thuốc như atropin, cocain thường được pha chế thành dịch treo trong dầu thầu dầu để dùng cho mắt. Dung dịch natri ricinoleate được dùng làm thuốc tiêm trong liệu pháp gây xơ cứng điều trị giãn tĩnh mạch. Natri ricinoleate và sulfo-ricinoleate có tác dụng kháng khuẩn mạnh và được dùng trong những chế phẩm về răng. Cây thầu dầu trị vàng da, và dầu thầu dầu bôi vào âm đạo với miếng vải bông mịn để trị bệnh lậu. Lá thầu dầu có trong thành phần một bài thuốc trị sỏi niệu cùng với 3 dược liệu khác.
Ở Nepal, nhân dân dùng dầu thầu dầu bôi chữa nứt nẻ da và các chỗ bị sưng tấy ở cơ thể, và bột nhão hạt đắp để trị ghẻ. Để trị nhọt, hạt thầu dầu cùng với hạt Brassica rapa làm thành bột nhão, đắp. Một miếng vải bông mịn thấm đẫm dầu thầu dầu được đặt vào âm đạo để trị khí hư. Dầu thầu dầu cũng được dùng để làm đẻ dễ. Rễ thầu dầu 10 – 20g sắc với 200 ml sữa và uống lúc còn ấm để trị lỵ; ngày 1 – 2 lần trong 2 – 4 ngày.
Ở Algeria, hạt thầu dầu chữa chứng rụng tóc dưới dạng thuốc ngâm. Ở Philippines, hạt được dùng chữa tê thấp. Lá giã nhỏ, hơ nóng, đắp cũng chữa tê thấp, sưng tấy. Ở Haiti, để chữa viêm phế quản, viêm phổi, người ta xát dầu thầu dầu vào ngực; uống nhũ dịch dầu thầu dầu để làm dịu. Bôi dầu và đắp lá thầu dầu giã nát để chữa bỏng. Uống dầu thầu dầu để chữa sốc thần kinh. Đắp lá hơ nóng, xát dầu thầu dầu để chữa thấp khớp; uống nước ngâm lá, xát dầu thầu dầu chữa bệnh da. Chữa chấn thương, bong gân, lá nấu chín giã đắp.
Ở Đông Phi, để trị bệnh sán máng, nhân dân uống nước sắc lá thầu dầu và hơ bụng xông khói của những cụm hoa thầu dầu rải trên than đã tàn nhưng còn nóng. Đắp lá trực tiếp lên trán, trị nhức đầu. Dầu (thu được từ hạt bỏ vỏ, rang và sắc trong nước, gạn dầu nổi lên trên), được dùng trị bệnh ngoài da và ngứa. Nước sắc lá uống làm thuốc điều kinh, dùng dầu bôi làm mềm da, chống tróc da. Để hạ sốt, xát lá hoặc xúc nước sắc lá trên khắp cơ thể. Lá nấu chín đắp lên ngực, hoặc uống nước sắc để tăng tiết sữa. Hạt bỏ vỏ không rang trị bệnh phong. Dùng hạt chữa bệnh tâm thần và thần kinh. Cao rễ thầu dầu súc miệng chữa đau răng. Xát lá lên ngực chữa viêm phổi. Dầu thầu dầu được dùng làm thuốc tẩy và trị nấm, vi khuẩn. Ở Nigiêria, nhân dân dùng dầu thầu dầu trị giun. Ở Ý, dầu thầu dầu được dùng làm thuốc xúc trị chứng rụng tóc và gầu.
Bài thuốc có thầu dầu:
Chữa phong thấp, viêm khớp, bị thương đau nhức, bại liệt, chân tay mỏi: Rễ thầu dầu 30 g; dây đau xương, lõi thông, mỗi vị 20 g. Sắc và chia làm ba lần uống trong ngày.
Chữa hen suyễn: Lá thầu dầu tía 12 g, phèn phi 8 g, giã nhỏ, trộn với thịt lợn băm, rồi gói trong lá sen non, đun nhỏ lửa, nấu chín ăn.
Thuốc gây sẩy thai: Rễ thầu dầu tía 30 g; rễ cau, rễ rau ngót, rễ chỉ thiên, rễ cây trinh nữ, rễ chua me đất, mỗi vị 20 g. Sắc uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 7 – 10 ngày.
Chữa sa dạ con: Dùng nhân hạt thầu dầu (đã bỏ vỏ) 60 g, giã nhỏ, chế rượu vào vừa đủ thành bột nhão, đắp vào huyệt Bách hội giữa đỉnh đầu, và huyệt Quan nguyên (dưới rốn khoảng 4 cm ở người lớn), dùng vải băng lại, nằm nghiêng co chân, để từ 3 giờ đến 5 giờ, mở ra dùng nước lạnh rửa sạch. Không để quá lâu, vì sẽ gây rộp da. Mỗi ngày đắp một lần, liên tục 3 – 5 ngày, nhiều nhất 7 ngày.
Phong lộc hoa alo là khoá – tìm hiểu luôn
Trồng cây thầu dầu tía cho hiệu quả kinh tế cao
Hiện nay, các tỉnh vùng Tây Nguyên là Gia Lai, Đắk Lắk và đặc biệt là Đắk Nông phát triển được hơn 3.000 ha cây thầu dầu trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có một số diện tích cho thu bói năm đầu đạt từ 3 – 4 tạ hạt khô/ha. Sau 4 năm trồng, năng suất cây thầu dầu đang có dấu hiệu tăng nhanh và ổn định ở mức 7 – 8 tấn hạt/ha (tùy theo từng vùng đất), tuổi thọ của loại cây trồng này sinh trưởng trên 40 năm, không những góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc mà còn đóng góp không nhỏ về mặt giá trị kinh tế tại những vùng dân cư nghèo nàn.
Địa chỉ bán cây thầu dầu tía tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống thầu dầu tía phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Ricinus communis L. – Wikipedia tiếng Anh.
- Cây thầu dầu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Qin-Gang Tan, Xiang-Hai Cai, Zhi-Zhi Du, Xiao-Dong Luo (2009). “Three terpenoids and a tocopherol-related compound from Ricinus communis“. Helvetica Chimica Acta. 92(12): 2762 – 8.
- Cây thầu dầu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.












