Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Bông mã đề hay mã đề thảo, xa tiền, nhả én, dứt (Thái), su ma (Thổ) (danh pháp khoa học là Plantago asiatica L.; đồng nghĩa: Plantago major var. asiatica (L.) Decne.) là loài thực vật có hoa Thuộc họ Mã đề Plantaginaceae. Theo thuyết của Lục cơ (cổ) thì loài cây này hay mọc ở vết chân ngựa kéo xe nên mới có tên gọi như vậy (mã là ngựa, đề là móng chân). Cây có nguồn gốc từ Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, …).
Cây mã đề cho các vị thuốc có tên sau đây:
- Xa tiền tử: Semen plantaginis – Hạt phơi hay sấy khô.
- Mã đề thảo: Herba plantaginis – Toàn cây trừ bỏ rễ phơi hay sấy khô.
- Lá mã đề: Folium plantaginix – Lá tươi hay phơi hoặc sấy khô.



Mô tả cây bông mã đề
Mã đề (xa tiền, mã đề thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (sửa chính tả):
Mã đề là loại cỏ sống lâu năm, thân ngắn lá mọc thành cụm ở gốc, cuống dài, phiến lá bông mã đề hình thìa hay hình trứng, có gân dọc theo sống lá và đồng quy ở ngọn và gốc lá. Hoa mọc thành bông, có cán dài, xuất phát từ kẽ lá. Hoa đều, lưỡng tính, đài 4, xếp chéo, hơi đính nhau ở gốc, tràng màu nâu tồn tại, gồm 4 thùy nằm xen kẽ ở giữa các lá đài. Nhị 4 chỉ nhị mảnh, dài, 2 lá noãn chứa nhiều tiểu noãn. Quả hộp trong chứa nhiều hạt màu nâu đen bóng.
Cây mã đề – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống hàng năm, có thân ngắn. Lá mọc thành hình hoa thị, hình trứng, dài 5 – 12 cm, rộng 3,5 – 8 cm, đầu tù hơi có mũi nhọn, gân lá hình cung, mép uốn lượn, nguyên hoặc có răng cưa nhỏ, không đều; cuống lá dài 5 – 10 cm, loe ở gốc.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông có cán dài hơn lá; hoa nhỏ có lá bắc hình trứng, ngắn hơn đài; đài 4 thùy hơi có gờ, dính nhau ở gốc; tràng hoa mỏng, khô xác, có 4 thùy hình tam giác nhọn, xếp xen kẽ với các lá đài; nhị 4, chỉ nhị mảnh; bầu hình cầu, có 2 ô. Quả nang, hình chóp thuôn, dài 3,5 – 4 mm, mở bằng một nắp nứt ngang trên các lá đài; hạt hơi dẹt, màu nâu hoặc đen bóng. Mùa hoa quả: tháng 5 – 8.
Thông tin thêm
1. Cây bông mã đề mọc ở đâu ? Thu hái và chế biến
Mã đề (xa tiền, mã đề thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (sửa chính tả):
Mã đề mọc hoang và được trồng tại nhiều nơi ở khắp nước ta. Muốn bảo đảm nhu cầu cần đặt vấn đề trồng. Trồng bằng hạt chọn ở những cây to khỏe, hạt mẫm đen. Thường trồng vào mùa Xuân và mùa Thu nhưng tốt nhất vào mùa Thu. Mã đề ưa đất tốt, ẩm vừa phải, đất tốt cây rất to.
Vào tháng 7 – 8 khi quả chín thì hái toàn cây đưa về phơi hay sấy khô, loại bỏ tạp chất. Muốn lấy hạt thì đập và giữ lấy hạt, rây qua rây rồi phơi khô. Không phải chế biến gì đặc biệt. Khi dùng lá, có thể hái gần như quanh năm, có thể dùng tươi hay khô.
Cây mã đề – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Plantago L. có khoảng 250 loài, phân bố rộng rãi khắp thế giới. Việt Nam có 3 loài, trong đó chỉ có Plantago major L. là loài bản địa.
Trên thế giới, mã đề phân bố ở tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của các châu lục. Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Ấn Độ và một số tỉnh phía nam Trung Quốc … là những nơi có nhiều mã đề trong các quần thể mọc hoang cũng như trồng trọt. Ở Việt Nam, mã đề mọc hoang dại ở vùng núi. Độ cao phân bố có thể hơn 1600 m (ở Đồng Văn và Mèo Vạc – Hà Giang). Cây còn gặp ở một số đảo lớn như Hòn Mê (Thanh Hóa); Cát Bà (Hải Phòng); Cô Tô (Quảng Ninh) …
Mã đề là cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu hạn nhẹ, thích nghi cao với vùng có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Ở vùng núi cao lạnh (nhiệt độ trung bình 15 – 16oC), cây sinh trưởng kém, lá nhỏ và tổng khối lượng chất xanh cũng ít. Cây ra hoa quả nhiều, trên một cá thể có thể thu được 10.000 – 14.000 hạt (Lilts Pangemanan, 1999, Plantago L.; in: L.S. de Padua et al., PROSEA, 12(1) – Med. and Poisonous Plants; 400 pp); Trong tự nhiên, khi cây tàn lụi, hạt giống rơi xuống đất và có thể tồn tại qua mùa đông, sau đó mới nảy mầm.
2. Thành phần hóa học
Mã đề (xa tiền, mã đề thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (sửa chính tả):
Toàn cây chứa một glucoside gọi là aucubin hay rinantin C15H22O9. Aucubin kết tinh với một phân tử nước, đun nóng ở 120oC thì mất nước. Độ chảy 180oC. Tan trong nước (36,5% trong nước 20oC), tan trong cồn 95o (1,1%), trong cồn metylic (13,8%), không tan trong este và chloroform. (α)D: -166o5 (khan) hay -179o1. Axit loãng hay men emunsin thủy phân cho glucose và aucubigenin C9H12O4.
Có tác giả còn nói có plantagin nhưng chưa xác định lại được.
Trong lá có chất nhầy, chất đắng, carotene, vitamin C, vitamin K, yếu tố T (có người gọi là vitamin T), axit citric.
Trong hạt chứa nhiều chất nhầy, axit plantenolic, adenine và choline.
Cây mã đề – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lá mã đề chứa iridoid (aucuboside, catalpol), acid phenolic và ester phenylpropanoic của glycoside, majoroside. Dược điển Pháp X quy định hàm lượng aucubin phải đạt 0,5%. Sấy ở nhiệt độ 80o, hàm lượng aucubin cao hơn ở 40o.
Lá còn chứa chất nhầy với hàm lượng là 20% (Giáo trình dược liệu, tập I, 1998). Dược điển Việt Nam I, tập 2 quy định hạt phải có chỉ số nở tối thiểu là 5.
Hạt chứa chất nhầy giàu D-galactose, L-arabinose và có khoảng 40% acid uronic, dầu béo, trong đó có acid 9-hydroxy-cis-11-octadecenoic (đồng phân của acid ricinoleic) 1,5% (PROSEA 12(1); 1999).
Ngoài ra, mã đề có nhiều flavonoid: Apigenin, quercetin, scutellarein, baicalein, hispidulin (4′,5,7-trihydroxy-6-methoxyflavone), luteolin-7-glucoside, luteolin-7-glucuronid, homoplantaginin (= 7-O-β-D-glucopyranosyl-5,4′-dihydroxy-6-methoxyflavon), nopitrin (= 7-O-β-D-glucopyranosyl-5,3′,4′-trihydroxy-6-methoxyflavon), 7-O-β-D-glucopyranosyl-5,6,3′,4′-trihydroxyflavon.
Mã đề còn chứa nhiều chất khác như acid cinnamic, acid p-coumaric, acid ferulic, acid caffeic, acid chlorogenic), carotene, vitamin K, vitamin C (Bài giảng dược liệu, tập I, 1998).
Ngoài ra, ở Đà Lạt có loài Plantago asiatica L.. Hạt loài này được ghi vào Dược điển Trung Quốc 1997 (bản tiếng Anh). Theo tài liệu này, chỉ số nở tối thiểu là 4.
3. Tác dụng dược lý
Mã đề (xa tiền, mã đề thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (sửa chính tả):
Tác dụng lợi tiểu: Uống nước sắc mã đề, lượng nước tiểu tăng, trong nước tiểu lượng urê, axit uric và muối đều tăng (thí nghiệm trên thỏ, chó và người).
Tác dụng chữa ho: Nước sắc mã đề có tác dụng trừ đờm, tác dụng này kéo dài 6 – 7 giờ, mạnh nhất sau khi uống 3 – 6 giờ. Kết quả chữa ho, trừ đờm trên lâm sàng phù hợp với kết quả thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. Tác dụng chữa ho này không trở ngại đến sự tiêu hóa và cũng không có tác dụng phá huyết. Cho nên tác dụng chữa ho của mã đề không giống những thuốc chữa ho chứa saponoside, nhưng tác dụng chữa ho giống nhau. Có điều cần chú ý là trẻ con ho dùng thuốc mã đề hay đái nhiều, có thể đái dầm.
Chất plantagin có tác dụng hưng phấn thần kinh bài tiết, làm tăng sự bài tiết niêm dịch của phế quản và cũng của ống tiêu hóa, tác dụng trên trung khu hô hấp làm cho hơi thở sâu và từ từ.
Tác dụng kháng sinh: Nước sắc mã đề (toàn cây 1ml = 1g mã đề) có tác dụng ức chế đối với một số vi trùng bệnh ngoài da (Theo Trung Hoa bì phu tạp chí, 1957, 4: 286 – 292).
Mã đề tán bột chế thành thuốc dầu đắp lên mụn nhọt đỡ nung mủ, đỡ bị viêm tấy (R. K. Aliev, 1945, Pharmacia).
Để lá mã đề trong tối và lạnh kiểu chế thuốc Filatov trong vài ngày có thể sinh chất biostimulin, chế thành thuốc tiêm, tiêm dưới da có thể chữa các bệnh mụn nhọt, viêm cổ họng, mắt.
Độc tính: Cho uống aucubin không thấy có triệu chứng độc (Nhật dược chí, 1992).
Tác dụng khác: Trên lâm sàng, mã đề còn được dùng chữa cao huyết áp có kết quả, ngày hái 20 – 30 g cây mã đề tươi, non, thêm nước vào sắc kỹ chia 3 lần uống trong ngày theo (Thượng Hải trung y dược tạp chí 3, 1959: 39 – 40).
Chữa lỵ cấp tính và mãn tính: Lá mã đề tươi chế thành thuốc sắc 100%, ngày uống 3 lần, mỗi lần 60 – 120 ml nước sắc 100% nói trên. Có thể uống tới 200 ml mỗi lần. Thời gian điều trị 7 – 10 ngày, có thể kéo dài 1 tháng (Trung Hoa nội khoa tạp chí, 1960, 8, 4: 351 – 353).
Cây mã đề – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Nước ép cây mã đề có tác dụng tăng tiết dịch vị. Trên thực nghiệm, bột cây mã đề có tác dụng tốt đối với bệnh lao và ung thư và đặc biệt với các thể nặng của loét dạ dày. Cao chiết từ lá mã đề khô có tác dụng kích thích sự tái sinh tất cả các lớp của da.
Thí nghiệm với phương pháp lồng cử động cho thấy mã đề có tác dụng an thần.
Mã đề, được thử nghiệm trên động vật và áp dụng trên người, đã thể hiện có các tác dụng:
– Lợi tiểu, làm tăng lượng nước tiểu, urê, acid uric và muối trong nước tiểu (nước sắc).
– Trừ đờm, chữa ho (nước sắc).
– Làm tăng tiết niêm dịch phế quản và ống tiêu hóa, ức chế trung khu hô hấp, làm thở sâu và chậm (hoạt chất plantagin).
– Kháng khuẩn đối với một số chủng vi khuẩn gây bệnh ở da (nước sắc). Mã đề tán bột chế thành thuốc dầu đắp lên mụn nhọt có thể làm cho mụn nhọt đỡ nung mủ, đỡ bị viêm tấy. Để lá mã đề ở chỗ tối và lạnh trong vài ngày theo kiểu chế thuốc Filatov có thể sinh chất biostimulin, rồi chế thành thuốc tiêm dưới da, có thể chữa mụn nhọt, viêm họng, bệnh mắt. Trên lâm sàng, mã đề còn được dùng chữa cao huyết áp có kết quả. Cao nước mã đề có tác dụng tăng tiết dịch khí quản, giảm hưng phấn thần kinh và điều hòa hô hấp. Lá mã đề có tác dụng lợi tiểu mạnh hơn hạt mã đề. Cao cồn mã đề có tác dụng lợi tiểu mạnh hơn cao nước, làm tăng lượng nước tiểu và tăng thải trừ các chất điện giải trong nước tiểu.
Cao cồn mã đề có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt đối với tổn thương gan gây bằng carbon tetrachloride trên động vật. Hoạt chất aucubin phân lập từ hạt mã đề có tác dụng bảo vệ gan và chống ngộ độc nấm Amanita.
Mã đề có tác dụng ức chế trung tâm hô hấp và trung tâm ho, ức chế phản xạ ho gây nôn ở động vật thực nghiệm do kích thích điện dây thần kinh thanh quản trên và ức chế phản xạ ngừng hô hấp khi cho ngửi ammoniac. Cao lỏng đậm đặc mã đề khi uống dễ gây kích ứng niêm mạc dạ dày và gây nôn. Viên thuốc bào chế phối hợp mã đề với terpin được áp dụng trên lâm sàng, có tác dụng điều trị các bệnh viêm cấp tính đường hô hấp trên do siêu vi khuẩn và không do siêu vi khuẩn, giảm phản xạ, làm nhẹ quá trình cương tụ niêm mạc hô hấp, có tác dụng long đờm, phục hồi tiếng nói trong viêm thanh quản cấp và chữa ho tốt.
Hoạt chất plantamajoside phân lập từ mã đề có tác dụng kháng khuẩn đối với trực khuẩn coli và tụ cầu khuẩn vàng. Đã thử tác dụng kháng khuẩn của cao chiết với cồn 95% mã đề đối với các chủng vi khuẩn: Bacillus subtilis, tụ cầu khuẩn vàng, Micrococcus flavus, trực khuẩn coli, Proteus vulgaris, trực khuẩn mủ xanh.
Đã áp dụng thuốc mỡ bào chế từ nước sắc mã đề đậm đặc 100% để điều trị bỏng do nước sôi, vôi hoặc lửa, với diện tích bỏng từ 2 – 45% đạt kết quả tốt. Bệnh nhân thấy mát dễ chịu, không xót, không nhức buốt, thay băng và bóc gạc dễ. Vết bỏng đỡ nhiễm trùng, ít mủ, giảm mùi hôi thối, lên da non tốt, thịt phát triển đều, không sần sùi, giảm được lượng thuốc kháng sinh dùng toàn thân.
Đã dùng một số bài thuốc trong có hạt mã đề và một số vị thuốc khác trong điều trị bệnh sỏi đường tiết niệu để đạt các tác dụng: thúc đẩy sự di đông của sỏi, chống viêm, giải quyết tình trạng ngưng trệ và thúc đẩy sự bài xuất sỏi niệu. Áp dụng cao nước mã đề để điều trị hơn 200 ca viêm amidan cấp đạt hiệu quả khỏi 92%, đỡ 8%. So sánh về tác dụng hạ sốt, phục hồi số lượng bạch cầu và thời gian hết các triệu chứng tại chỗ thấy hiệu quả của mã đề không kém hiệu quả của thuốc kháng khuẩn. Áp dụng trên một số bệnh nhân viêm họng cấp và viêm nhiễm đường hô hấp trên cũng thấy có kết quả tốt.
Hạt mã đề có tác dụng nhuận tràng do chứa polysaccharide rất hút nước. Tác dụng thuần tuý cơ học và có mối liên quan với chất nhầy uống cùng với lượng nước lớn. Các đại phân tử polysaccharide hấp thu nhiều nước và tạo một gel làm tăng thể tích của chất chứa trong ruột, kích thích nhu động ruột và làm dễ dàng chuyển động của ruột. Tác dụng đã được nghiên cứu lâm sàng xác nhận. Trong nghiên cứu mù kép có kiểm chứng với thuốc vờ (placebo) ở bệnh nhân bị táo bón mạn tính, cho uống hạt mã đề đạt kết quả tốt, làm tăng tần số và giảm độ rắn của phân, và không thấy tác dụng phụ. Mặt khác, cũng có thể dùng chất nhầy trong liệu pháp nâng đỡ trị tiêu chảy: do hút nước, thời gian chuyển vận chất chứa trong ruột kéo dài.
Chất nhầy cũng có tác dụng hạ đường máu và cholesterol máu tương tự như khi dùng pectin, tuy tác dụng nhẹ hơn và không được chứng minh trong nghiên cứu lâm sàng. Hạt mã đề uống có tác dụng cầm máu trong điều trị đa kinh. Hạt không gây tác dụng phụ đáng kể, chỉ có một số ít trường hợp có phản ứng dị ứng nhẹ ở người mẫn cảm. Người ta cho rằng có thể trong thương mại, hạt mã đề có lẫn những hạt cây khác gây dị ứng.


Bông mã đề có tác dụng gì ?
Lá mã đề có vị nhạt, tính mát. Hạt có vị ngọt nhạt, nhớt, tính mát, vào 4 kinh: can, phế, thận, tiểu tràng, có tác dụng thanh nhiệt, lợi phế, tiêu thũng, thông tiểu tiện.
Mã đề được dùng chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, viêm thận và bàng quang, bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu hoặc ra sỏi, phù thũng, đau mắt sưng đỏ, tiêu chảy, lỵ, chảy máu cam, ra nhiều mồ hôi. Mỗi ngày uống 10 – 20g toàn cây hay 6 – 12g hạt dưới dạng thuốc sắc. Khi dùng làm thuốc ho cho trẻ em, mã đề có nhược điểm là gây cho trẻ đái dầm.
Dùng ngoài, lá mã đề tươi giã nát đắp làm mụn nhọt chóng vỡ và mau lành. Để chữa bỏng, lấy cao đặc mã đề đắp lên vết thương băng lại, mỗi ngày thay một lần.
Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai dùng nên thận trọng. Người già thận kém, đái đêm nhiều không nên dùng.
Trong Y học Trung Quốc, nước ép hoặc nước hãm cây mã đề, mỗi lần 5 – 15g được dùng chữa vết thương, viêm phế quản mạn tính, viêm màng phổi, chảy máu, và phối hợp với các cây thuốc khác trong bệnh viêm thận mạn tính.
Hạt mã đề (3 – 8g) sắc uống chữa đái tháo đường, khó tiêu, ho và bệnh vô sinh ở nam và nữ. Dùng ngoài, nước sắc hạt chữa bệnh về mắt.
Ở Ấn Độ, cây mã đề được coi là có tác dụng cầm máu và trị vết thương, bỏng và viêm các mô. Trong liệu pháp vi lượng đồng căn, mã đề được dùng điều trị các bệnh về biểu bì, nhức đầu, đau tai và đau răng. Lá được coi là thuốc làm mát, lợi tiểu, làm săn và hàn vết thương. Nước hãm lá trị tiêu chảy và trĩ. Nước sắc lá để rửa mắt và thuốc mỡ bào chế từ lá trị đau mắt. Thuốc mỡ 10% bột lá với dầu hạt đào hoặc vaselin được dùng trị bệnh mủ da, ngứa, chốc, lở loét. Thuốc có tác dụng chống viêm và giúp cho sự hình thành biểu mô mà không gây phản ứng phụ có hại. Rễ mã đề có tác dụng làm săn, chữa sốt và ho. Hạt làm dịu viêm, lợi tiểu, bổ, trị lỵ và tiêu chảy.
Trong y học cổ truyền Nhật Bản, nước sắc của mã đề dùng trị ho, hen, bệnh tiết niệu, tiêu thũng, tiêu viêm. Ở Thái Lan, toàn cây hoặc lá được dùng lợi tiểu và giảm sốt; hạt để nhuận tràng, chống viêm và chữa đầy hơi. Ở Indonesia, cao toàn cây là thuốc lợi tiểu trong sỏi thận, thường phối hợp với 5 phần Clerodendrum, và cũng để điều trị đái tháo đường và bệnh da. Lá trị vết thương và mụn mủ. Ở Philippines, lá được dùng để làm dịu.
Ở Triều Tiên, người ta dùng mã đề để điều trị bệnh về gan. Ở Haiti, nhân dân dùng mã đề chữa choáng thần kinh và đau mắt. Ở Guatemala, mã đề điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu và viêm thận.
Trên thế giới, công dụng của lá mã đề là thuốc lợi tiểu, làm săn và hàn vết thương, trị sâu bọ đốt và bệnh da có tính phổ biến. Những áp dụng khác là chống sốt rét (dịch ép lá tươi hoặc nước sắc toàn cây), đau tai (lá), trị lỵ (nước sắc lá), rửa mắt (nước sắc lá), và dùng làm thuốc súc miệng trị viêm lợi (nước sắc lá).
Bài thuốc có bông mã đề
1. Chữa lỵ:
Mã đề, dây mơ lông, cỏ seo gà, mỗi vị 20g. Sắc uống.
2. Chữa người già đái khó, cơ thể nóng:
Hạt mã đề 1 chén (có dung tích 50 ml), bỏ vào túi, sắc lấy nước. Dùng nước này nấu cháo lúa kê mà ăn.
3. Chữa đái ra máu:
Lá mã đề, cỏ ích mẫu, giã vắt lấy nước cốt uống.
4. Chữa sưng dương vật:
Hạt mã đề tán nhỏ, mỗi lần uống 1 thìa, ngày 2 lần.
5. Chữa trẻ em khó đái:
Mã đề giã vắt lấy nước, hòa với ít mật ong cho uống.
6. Chữa đau mắt:
Mã đề giã vắt lấy nước cốt, hòa với nước măng tre vòi, lọc trong mà nhỏ mắt.
7. Thuốc lợi tiểu:
Hạt mã đề 10g, cam thảo 2g, nước 600 ml. Sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.
8. Chữa ho đờm:
Mã đề 10g, cam thảo 2g, cát cánh 2g, nước 400ml. Sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Nếu không có cam thảo, có thể thay bằng đường cho đủ ngọt.
9. Chữa phù thũng và tiêu chảy kèm sốt, ho và nôn:
Hạt mã đề, ý dĩ sao, đều bằng nhau. Tán bột, uống mỗi lần 10g, ngày dùng 30g.
10. Chữa tiêu chảy:
Mã đề tươi 1 – 2 nắm, rau má 1 nắm, cỏ nhọ nồi (hoặc lá phèn đen) 1 nắm. Sắc đặc, chia nhiều lần uống.
11. Chữa sốt xuất huyết:
- Mã đề (hoặc cối xay, rễ cỏ tranh) 20g, rau má 30g, cỏ nhọ nồi 30g. Có thể dùng tươi (giã vắt lấy nước uống), hoặc sắc uống. Bài thuốc này cũng có thể dùng để phòng bệnh.
- Mã đề 40g, cỏ nhọ nồi 40g, rau má (hoặc cát căn) 40g, rau sam 40g, kim ngân 30g, hoa hoè 10g, thảo quyết minh 10g. Sắc với 300 ml nước, lấy 100 ml, uống nước đầu, sau đó sắc nước thứ hai và thứ ba, uống tiếp trong ngày.
12. Chữa bỏng:
Nước sắc mã đề đậm đặc 100% (100 ml = 100g mã đề khô), trộn đều với lanolin 50g, dầu parafin 50g. Bôi thuốc mỡ lên vết bỏng và băng lại.
13. Chữa giai đoạn đầu của bệnh lao phổi:
Hạt mã đề 10g, đẳng sâm 16g, sơn dược 15g, ý dĩ 10g, mạch môn 10g, hạt mơ Trung Quốc (Prunus mume) 10g, cam thảo 3g. Sắc với 600 ml nước, còn 200 ml. Chia làm 2 – 3 lần uống trong ngày.
14. Chữa đái tháo đường:
Hạt mã đề 6g, sơn dược 15,5g, sinh địa 15,5g, phục linh 15,5g, phụ tử 15,5g, sơn thù du 10g, trạch tả 10g, quế 10g, ngưu tất 10g, mẫu đơn bì 6g. Làm thành viên 2,5g, mỗi lần uống 4 viên, ngày 2 lần. Hoặc sắc với 800 ml nước, còn 450 ml, mỗi lần uống 150 ml, ngày 3 lần.
15. Dùng trong bệnh sỏi niệu để thúc đẩy sự bài xuất sỏi:
- Bệnh sỏi niệu thể nhẹ: Hạt mã đề 12 – 40g, kim tiền thảo 40g, thạch vĩ 20 – 40g, hoạt thạch 20 – 40g, hải kim sa 12 – 40g, đông quỳ tử 12 – 20g, ngưu tất 12g, chỉ xác 12g, hậu phác 12g, vương bất lưu hành 12g. Có tác dụng bài xuất sỏi đường tiết niệu có đường kính 0,5 – 0,9 cm.
- Bệnh sỏi niệu thể nặng: Hạt mã đề 12 – 40g, kim tiền thảo 40g, thạch vĩ 20 – 40g, hoạt thạch 20 – 40g, miết giáp 12 – 40g, tam lăng 20g, ý dĩ 20g, ngưu tất 20g, nga truật 20g, chỉ xác 12g, hậu phác 12g, tạo giác thích 12g, hạ khô thảo 12g, xuyên sơn giáp 12g, bạch chỉ 12g. Có tác dụng bài xuất sỏi đường tiết niệu có thể tích tương đối to hơn, lâu không di động.
16. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng thể tỳ vị hư hàn, có thiếu toan dạ dày:
Mã đề 10g, hoàng bá 18g, đảng sâm 12g, ô mai 10 quả; phụ tử chế, hoàng liên, đương quy, mỗi vị 8g; quế chi, tế tân, can khương, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
17. Chữa tiêu chảy mạn tính:
Hạt mã đề 8g; cát căn, rau má, đảng sâm, cam thảo dây, mỗi vị 12g; cúc hoa 8g. Sắc uống ngày một thang.
18. Chữa viêm gan cấp tính
- Mã đề 20g, nhân trần 40g, hạ khô thảo 20g, đại phúc bì 16g, đảng sâm 12g. Sắc uống ngày một thang.
- Hạt mã đề, nhân trần, mỗi vị 20g; chi tử sao, phục linh, trư linh, trạch tả, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
- Mã đề 16g, lá bọ mẩy 20g, ý dĩ 16g; nhân trần, đại phúc bì, mỗi vị 12g; chi tử, hương phụ, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
19. Chữa viêm gan mạn tính (Nhân trần ngũ linh thang gia giảm):
Mã đề 12g, nhân trần 20g; đảng sâm, ý dĩ, mỗi vị 16g; bạch truật, phục linh, trạch tả, mỗi vị 12g; trư linh 8g. Sắc uống ngày một thang.
20. Chữa viêm cầu thận cấp tính (Việt tỳ thang gia vị):
Mã đề 16g, thạch cao 20g; ma hoàng, bạch truật, đại táo, mỗi vị 12g; mộc thông 8g; gừng, cam thảo,quế chi, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
21. Chữa viêm cầu thận mạn tính (Vị linh thang gia giảm):
- Mã đề 20g, ý dĩ 16g; thương truật, phục linh bì, trạch tả, mỗi vị 12g; quế chi, hậu phác, mỗi vị 6g; xuyên tiêu 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Mã đề, bạch truật, bạch thược, bạch linh, trạch tả, mỗi vị 12g; phụ tử chế, trư linh, mỗi vị 8g; can khương 6g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.
22. Chữa viêm bàng quang cấp tính:
Mã đề 16g; hoàng bá, hoàng liên, phục linh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12g; trư linh, mộc thông, hoạt thạch, bán hạ chế, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
23. Chữa bí tiểu tiện, đái dắt, đái buốt:
Bông mã đề 12g, cao ban long 20g, rễ cỏ tranh 12g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.
24. Chữa sỏi tiết niệu kèm theo bội nhiễm đường tiết niệu:
- Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g, tỳ giải 20g; trạch tả, uất kim, ngưu tất, mỗi vị 12g; kê nội kim 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g; sinh địa, đạm trúc diệp, mỗi vị 16g; mộc thông, cam thảo sao cháy, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang. Nếu đái ra máu thêm : cỏ nhọ nồi 16g, tiểu kế 12g. Nếu đau nhiều thêm : ô dược, uất kim, diên hồ sách, mỗi vị 8g.
25. Chữa sỏi tiết niệu gây sung huyết, chảy máu nhiều:
Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g, ý dĩ 16g, ngưu tất 12g; đào nhân, uất kim, chỉ xác, vỏ cau, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
26. Chữa sỏi tiết niệu nhỏ không có cơn đau, để làm tan sỏi hoặc bài tiết ra ngoài:
Hạt mã đề, kim tiền thảo, bạch mao căn, mỗi vị 20g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày một thang.
27. Chữa khí hư:
- Dịch hoàng thang: Hạt mã đề sao 4g; sơn dược, khiếm thực, mỗi vị 40g; hoàng bá 8g, bạch quả (đập nát) 10 quả. Sắc uống ngày một thang.
- Long đởm tả can thang gia giảm: Mã đề, hạt mã đề, sơn chi, tỳ giải, ý dĩ, mỗi vị 12g, long đởm thảo, sài hồ, bạch thược, sinh địa, mộc thông, hoàng bá, phục linh, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
28. Viêm tai giữa cấp tính:
Hạt mã đề, long đởm thảo, hoàng cầm, mộc thông, trạch tả, sinh địa, mỗi vị 12g; chi tử, đương quy, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
Cách trồng bông mã đề
Cây mã đề – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Vốn là một cây mọc hoang, mã đề có sức sống rất cao, đang được trồng khá phổ biến ở nhiều nơi. Cây có nhu cầu nước ở mức độ trung bình, có khả năng chịu hạn nhờ bộ rễ ăn tương đối sâu và rộng.
Mã đề được gieo trồng bằng hạt. Hạt mã đề nhỏ (1g có chừng 600 – 610 hạt), được gieo nông 0,5 cm vào tháng 2 – 3. Có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vườn ươm rồi đánh cây con đi trồng. Trong sản xuất, người ta thường áp dụng cách gieo trong vườn ươm, khi cây con có 3 – 4 lá thật, đem trồng ra ruộng. Đất vườn ươm cần làm thật tơi, nhỏ, hạt gieo vãi, phủ rơm ra rồi tưới ẩm. Sau 7 – 10 ngày cây mọc, thì dỡ rạ. Cây con chỉ sống trong vườn ươm trong một thời gian ngắn nên không cần bón lót để tránh giun, dễ phá hoại. Nên chọn đất xốp, nhẹ để làm vườn ươm, khi nhổ cây con không bị tổn hại.
Đất trồng mã đề tốt nhất là loại đất pha cát, đất thịt nhẹ, đất trồng màu. Ruộng cần được cày bừa kỹ, để ải, lên luống sao cho tiện chăm sóc, bón lót 10 – 15 tấn phân chuồng, 250 – 300 kg lân, 150 kg kali cho mỗi hecta. Cây con được trồng với khoảng cách 20 x 20 cm hoặc 15 x 20 cm. Cũng có thể gieo thẳng theo rạch, cách nhau 15 – 20 cm, sau tỉa bớt để định khoảng cách. Thường xuyên làm cỏ, xới xáo, tưới đủ ẩm. Sau khi cây bén rễ, dùng nước phân chuồng, nước giải pha loãng hoặc đạm (1 – 2%) để tưới. Nếu chăm sóc tốt, sau 2 tháng trồng có thể thu hoạch lứa đầu tiên. Về sau, cứ 40 – 45 ngày, thu một lứa. Sau mỗi lứa cắt, cần làm cỏ, bón thúc 1 – 2 lần. Khi thu hoạch, dùng liềm cắt toàn bộ hoa, lá (chú ý không cắt búp cây) đem phơi hoặc sấy khô. Thu xong phải phơi hoặc sấy khô kịp thời, sao cho khi khô, dược liệu vẫn giữ được màu xanh. Năng suất có thể đạt 5 tấn dược liệu khô trên 1 ha trong một năm.
Giống mã đề đang được trồng đại trà hiện nay hầu như cảm với bệnh phấn trắng (Oidium sp.). Bệnh hại cả lá, cuống lá và bông nhưng gốc cây và lá non ít bị ảnh hưởng. Có thể khắc phục bằng cách thu bỏ lá già và bông rồi phun Daconil 75 WP với liều 1,5 – 2,0kg/ha hoặc Tilt với liều 1 lít/ha. Sau khi phun, cần đảm bảo thời gian cách ly theo quy định. Ngoài ra, các loài sâu đục cũng gây hại đáng kể đối với mã đề.
Mua cây bông mã đề ở đâu uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống bông mã đề phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Xa tiền – Wikipedia tiếng Việt.
- Plantago asiatica – Wikipedia tiếng Anh.
- Mã đề (xa tiền, mã đề thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây mã đề – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.








