Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Cây hẹ, lá hẹ trị ho tại Hà nội và TP. HCM. Nhanh tay liên hệ 0966.446.329 hoặc 0972.917.280 để được tư vấn miễn phí cách đặt hàng. Chú ý số lượng có hạn.
Hẹ hay cửu thái, cửu thái tử, khởi dương thảo, dã cửu, phác cát ngàn (Thái) (danh pháp khoa học là Allium ramosum L.; đồng nghĩa: Allium odorum L. – dạng hoang dã hay Allium tuberosum Rottler ex Spreng. – dạng gieo trồng) là loài thực vật thuộc họ Hành Alliaceae. Mùi vị của hẹ là sự pha lẫn giữa tỏi và hành tăm.





Mô tả cây hẹ
Cây hẹ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây hẹ là một loại cỏ nhỏ, thường cao từ 20 – 45cm, toàn cây vò có mùi đặc biệt. Dò nhỏ, dài mọc thành túm có rất nhiều rễ con. Lá hẹp, dài, dày, thường là 4 – 5 lá, dài 10 – 27cm rộng 1,5 – 9mm, đầu nhọn. Hoa mọc trên một cọng hoa từ gốc lên, dài 15 – 30cm, tụ thành xim nhưng co ngắn lại thành tán giả. Cọng hoa hình hơi 3 cạnh, trên có các vạch dọc. Hoa màu trắng cuống hoa dài chừng 10 – 15mm, đường kính 4mm. Hạt nhỏ màu đen; mùa hoa thường vào tháng 6 – 7 – 8. Quả vào tháng 8 – 10.
Cây hẹ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, cao 20 – 50cm. Thân hành nhỏ, gầy, thường hợp thành túm, hình nón – trụ. Lá dầy, hẹp và dẹt, mọc ốp vào nhau thành hai dãy, đầu lá tù, dài 10 – 20cm, rộng 2 – 7mm; bẹ lá dài và mỏng. Cụm hoa là tán giả, mọc trên một cán dài hơn lá, hình trụ hoặc hơi 3 cạnh, có vạch dọc; hoa nhiều có cuống dài; bao hoa màu trắng gồm 6 phiến thuôn – mũi mác, xếp thành hai vòng, nhị có gốc dính vào các mảnh của bao hoa. Quả nang, hình trái xoan ngược hoặc hình cầu hơi dẹt, chia ra 3 mảnh, hạt nhỏ, màu đen. Toàn cây có mùi hăng đặc biệt, Mùa hoa: tháng 9, mùa quả: tháng 11.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây hẹ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây hẹ được trồng khắp nơi ở nước ta để làm rau ăn (gia vị) và để làm thuốc. Ở nước ta thường chỉ dùng cây. Tại Trung Quốc người ta hái về phơi khô làm thuốc.
Cây hẹ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Hẹ có nguồn gốc hoang dại ở vùng Trung và Bắc Á. Cây được người Trung Quốc đưa vào trồng khoảng 200 năm trước Công nguyên. Sau đó là các nước Triều Tiên, Nhật Bản, Nepal, Ấn Độ, các nước ở Đông Dương, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Hoa Kỳ (PROSEA, No8 Vegetables, 1994: 80 – 82). Hẹ trồng ở Trung Quốc và Nhật Bản tỏ ra thích nghi ở điều kiện từ 15 đến 20oC. Hiện nay Trung Quốc là nước trồng nhiều hẹ nhất thế giới.
Ở Việt Nam, hẹ cũng là cây trồng từ rất lâu, có lẽ sớm hơn cả những loại hành. Tuy nhiên, diện tích và mức độ sử dụng còn bị hạn chế trong phạm vi một số gia đình và ở các thành phố lớn. Giống hẹ ở đây có lẽ đã được nhiệt đới hóa. Cây sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm. Thời gian có hẹ bán trên thị trường thường vào vụ thu đông hay đông xuân. Về mùa đông, phần lá trên mặt đất của hẹ tàn lụi, phần thân dưới đất có thể chịu được băng giá.
Hẹ trồng ở Việt Nam ra hoa quả nhiều. Hạt dùng để nhân giống.
3. Thành phần hoá học
Cây hẹ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong lá và rễ, Người ta nghiên cứu thấy có các hợp chất như sunfua, saponin và chất đắng. Năm 1948 một tác giả Trung Quốc đã báo cáo chiết được từ dò cây hẹ (tức củ hẹ) một hoạt chất đặt tên là odorine ít độc đối với động vật cao cấp, nhưng lại có tác dụng kháng sinh đối với loại vi trùng Staphylococcus aureus và Escherichia coli.
Viện nghiên cứu cây thuốc của Trung Quốc (Bắc Kinh) mới đây có sơ bộ nghiên cứu hạt hẹ, phát hiện thấy trong hạt có alkaloid và saponin.
Cây hẹ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trong 100g phần ăn được của hẹ, có nước 93g, protein 2,1g, chất béo 0,1g, carbohydrate 2,8g, chất xơ 0,9g, tro 1g, carotene 4mg và vitamin C 25mg.
Tác dụng chống u có thể do hàm lượng carotene và vitamin C cao (PROSEA 8, 1994). Hẹ có 4 đường là fructose, glucose, galactose và sucrose. Lá chứa 4 – 5% tính theo dược liệu khô (Chung Hee – Don và cs, CA. 125, 1996, 326887x).
Phân đoạn bay hơi có 36 chất, trong đó có 20 hợp chất sulfide (Meng Zhengmu và cs, 1996).
Hẹ còn chứa N-p-coumaroyltyramine, bis(p-hydroxyphenyl) ether (Choi Jae Sue và cs, 1996, CA. 124, 226635b) và odorine.
4. Tác dụng dược lý
Cây hẹ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Chất odorine trong hẹ có tác dụng kháng sinh đối với vi trùng Staphylococcus aureus và Escherichia coli (Sách khoa học và kỹ thuật – Trung văn).
Năm 1961, Phòng đông y thực nghiệm Viện vi trùng (Y học thực hành, 11.1961) có báo cáo nước ép tươi của hẹ có tính chất kháng sinh rất cao đối với nhiều loại vi trùng như Staphylococcus (1cm), Salmonella typhi (1cm), Shigella flexneri và Bacillus subtilis (0,8cm), Pathogenic Escherichia coli (0,6cm). Tính chất kháng sinh này khá vững bền: Nước cốt ép ở hẹ, ly tâm để bỏ cặn, lấy nước trong hấp Tyndall để lâu nhưng vẫn giữ được tính chất kháng sinh. Nước hẹ không cay và nóng như tỏi, do đó trẻ con dễ dùng hơn dùng tỏi.
Tính chất kháng sinh của hẹ chỉ mất một ít sau khi chịu tác dụng của pepsin (để trong môi trường pH 1,4 – 2; ở tủ ấm 37oC sau 4 giờ). Nhưng nếu đun nóng (sắc) thì mất hết tác dụng kháng sinh.
Cây hẹ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Phòng Đông y thực nghiệm Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương đã xác định nước ép lá hẹ tươi và thành phần bay hơi của cây đều có tác dụng kháng khuẩn mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn như Streptococcus hemolyticus, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Shigella shiga, Coli bethesda, Bacillus subtilis. Pételot cho biết hoạt chất odorine do Chi L. Shen phát hiện trong hẹ có tác dụng ức chế mạnh Staphylococcus aureus. Khác với tôi, tính chất kháng khuẩn của hẹ khá bền vững, nhưng sẽ mất tác dụng khi đun sôi. Mặt khác, nước hẹ lại không có vị nóng, cay như nước tỏi nên sử dụng trên lâm sàng thuận tiện, trẻ em dễ uống.
Lá hẹ tươi nghiền nhỏ, lọc lấy nước (1:4) thí nghiệm trên ống kính, có tác dụng diệt rơi trùng âm đạo sau 30 phút tiếp xúc.
Nước ép lá hẹ, lọc bỏ cặn, tiêm tĩnh mạch cho chuột nhất trắng với liều 0,1 – 0,5ml/10g thận trọng, xuất hiện triệu chứng choáng, vật vã, co giật và chuột chết sau nửa giờ. Đem dịch trên tiêm tĩnh mạch cho thỏ có hiện tượng hạ áp nhẹ, đối với tim ếch cô lập, lúc đầu ức chế sau đó lại có tác dụng kích thích, dùng với liều lớn làm tim ngừng đập ở thời kỳ tâm trương. Trên tiêu bản mạch máu chỉ sau của ếch và tai thỏ cô lập, dịch ép lá hẹ có tác dụng làm giãn huyết quản với mức độ nhẹ. Trên tử cung có lập thỏ, dịch pha loãng 1% có tác dụng kích thích tử cung co bóp. Nếu đem dịch ép xử lý bằng nhiệt 100oC trong vòng 60 phút thì hiệu lực giảm một nửa.



Tác dụng chữa bệnh của cây hẹ
Toàn cây hẹ có vị cay, tính ôn, có tác dụng ôn trung, kiện vị, hành khí, tán ứ, chỉ hãn. Hạt hẹ có vị cay, tính ôn, có tác dụng bổ gan thận, tráng dương, cố tinh.
Cây hẹ được dùng làm gia vị và làm thuốc. Theo kinh nghiệm nhân dân, lá và thân hành hẹ chữa ho trẻ em, hen suyễn, tiêu hóa kém, giun kim, lỵ amíp, mồ hôi trộm. Liều dùng hằng ngày: 20 – 30g. Đã dùng nước ép từ lá hẹ điều trị cho 40 bệnh nhân lỵ amip, đạt kết quả tốt trên 38 trường hợp.
Hạt hẹ chữa bệnh dương ủy, di mộng tinh, đái són, đái dầm, đau lưng, mỏi gối, khí hư với liều 4 – 12g mỗi ngày. Người âm hư hỏa vượng không nên dùng hẹ.
Bài thuốc có hẹ:
Chữa ho trẻ em: Lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, hạt chanh 20 hạt. Tất cả dùng tươi, cho vào bát sạch, giã nát, thêm đường và 10ml nước. Đem hấp chín để nguội, cho trẻ em uống làm 3 lần trong ngày. Dùng 3 – 4 ngày liên tục. Hoặc lấy lá hẹ 15g phối hợp với lá dâu non 10g, cách làm và dùng như trên.
Chữa hen suyễn nguy cấp: Lá hẹ 50g, sắc với 200ml nước còn 50ml. Uống trong ngày (Nam dược thần hiệu).
Chữa chứng ợ chua: Nước ép lá hẹ 60ml, sữa bò 250ml, uống nóng với 15ml nước gừng tươi.
Chữa giun kim ở trẻ em, ra mồ hôi trộm: Lá hẹ 30g, ép lấy nước uống hoặc làm rau ăn trong ngày. 5. Chữa nam giới thận hư, di mộng tinh, phụ nữ bạch đới: Hạt hẹ đem ngâm giấm, rang khô, tán bột, trộn với mật làm thành viên bằng hạt đậu. Mỗi lần uống 3,5g – 5g vào lúc đói với rượu nóng.
Trồng cây hẹ như thế nào ?
Trồng hẹ không cần quá nhiều không gian nên có thể áp dụng trồng trong chậu, khay, thùng xốp có sẵn trong nhà hoặc mảnh đất trống trong vườn để trồng hẹ. Lưu ý: Dưới đáy khay đục lỗ để thoát nước.
1. Đất trồng
Hẹ ưa phát triển ở nơi đất tơi xốp, thoáng khí, màu mỡ, tốt nhất là đất thịt, thịt pha cát, đất phải chủ động được hệ thống tưới và tiêu nước tốt. Bạn có thể mua đất sẵn hoặc tiến hành trộn đất với phân bò hoai mục, phân gà, phân trùn quế, vỏ trấu, xơ dừa … Nên bón lót với vôi rồi phơi ải từ 7 – 10 ngày trước trồng để xử lý sạch các mầm bệnh có trong đất.
2. Chọn giống
Hẹ có thể trồng bằng hạt hoặc thân. Hạt giống bạn có thể tìm mua ở các cửa hàng bán đồ nông sản.
3. Cách trồng
Bằng thân: Chọn kỹ các nhánh củ khỏe, chuẩn bị đất trồng tơi xốp cho vào trong dụng cụ trồng. Trồng từng nhánh hẹ vào đất chú ý cách nhau 8 – 10cm, lấp đất vừa kín nhánh, dùng tay ấn đất cho chặt, sau đó phủ rơm rạ mục, tưới nước. Sau 5 – 7 ngày nhánh hẹ sẽ mọc mầm.
Trồng bằng hạt: Hạt cây hẹ trước khi gieo nên xử lý bằng cách ngâm vào nước ấm 35 – 37oC (hoặc pha nước theo tỉ lệ 2 sôi + 3 lạnh trong 4 – 5 giờ). Sau khi gieo rải nhẹ một lớp đất mặt, ủ một lớp rơm rạ mỏng lên trên, sau đó tưới cho đủ ẩm. Sau khi cây hẹ mọc 5 – 10 ngày nên bón thêm urê. Khi cây hẹ cao 10 – 15cm thì nhổ mang đi trồng.
4. Chăm sóc
Sau khi trồng hẹ được khoảng 7 – 10 ngày, tiến hành bón thúc đợt 1 bằng phân hữu cơ, phân bò, phân trùn quế, phân dê, phân gà … Cứ khoảng 15 – 20 ngày thì bón đợt tiếp theo.
Trong quá trình chăm sóc nên chú ý nhổ tỉa cây mọc quá dày trồng dặm vào chỗ thưa.Thường xuyên xới xáo đất, vun nhẹ gốc và nhổ cỏ.
Thời gian đầu mới trồng, chú ý tưới nước mỗi ngày 3 lần, đến khi cây hẹ đã bén rễ và phát triển tốt thì chỉ cần tưới mỗi ngày 2 lần, tránh tưới vào buổi trưa.
Cây hẹ có khả năng tái sinh cao nên có thể cắt lá để dùng, chừa lại 2 – 3cm cách mặt đất, tưới phân thúc cây hẹ phát triển lá và củ.
Bạn có thể áp dụng lịch thu hoạch như sau:
- Đợt 1: 55 – 60 ngày sau khi trồng.
- Đợt 2: 30 – 35 ngày sau khi thu hoạch đợt 1.
- Đợt 3, 4, 5, 6 …: Cách nhau 30 – 35 ngày.
Địa chỉ bán giống cây hẹ uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống hẹ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








