Bộ sưu tập



Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Cây ưu độn thảo hay rau mảnh cộng, xương khỉ, bìm bịp (Đông Nam Bộ), belalai gajah (Malaysia), phaya yo (Thái) (danh pháp khoa học là Clinacanthus nutans (Burm.f.) Lindau; đồng nghĩa: Beloperone fulgida (Blume) Hassk.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Ô rô Acanthaceae. Ưu độn thảo là một sản phẩm đặc biệt được mẹ thiên nhiên ưu ái đã giúp rất nhiều bệnh nhân thoát khỏi căn bệnh ung thư quái ác.
Mô tả cây ưu độn thảo
Tổng hợp báo cáo của Ihsan N Zulkipli cùng cộng sự (2013):
Cây bụi mọc cao từ 1 – 3 m. Thân hình trụ, có vân dọc và nhẵn, cành có lông. Lá mọc đối, hình mác dài và hẹp, rộng khoảng 0,5 – 4 cm, dài 2,5 – 13 cm, đầu nhọn, mép khía răng nông hoặc gần như nguyên. Gốc lá tròn, gân lá có lông tơ; cuống lá dài khoảng 3 – 15 mm. Hoa hiếm khi mọc mọc thành cụm xim ở đầu cành, mỗi xim gồm 5 – 8 hoa. Tràng hoa màu đỏ sẫm, dài khoảng 4 – 6 cm, hình ống, chia 2 môi. Môi dưới có vệt vàng, hướng lên trên; môi trên hình tam giác, mang 2 nhị. Bầu nhụy 2 ô, mỗi ô chứa 2 noãn; vòi nhụy dạng sợi, đầu nhụy ngắn, chẻ hai. Quả nang hình thuôn dài, phần gốc thắt lại thành cuống ngắn, chứa 4 hạt; hạt dày khoảng 2 mm. Cây có thể nhân giống bằng giâm cành.
Đặc điểm hàng khô
Cây xương khỉ khi phơi khô thì phần cuống sẽ nhiều hơn lá (do lá xương khỉ nhỏ nên khi phơi sấy lá teo lại);
– Phần thân mang nhiều đốt cách nhau 3 – 5 cm;
– Đường kinh thân bé bằng đầu đũa;
Thông tin thêm
1. Phân bố và thu hái
Cây phân bố tự nhiên ở đông nam Trung Quốc, đảo Hải Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, đảo Borneo, đảo Java, quần đảo Sunda Nhỏ, bán đảo Mã Lai. Ở nước ta có thấy cây mọc ở nhiều nơi, thường mọc rải rác ở các khu rừng rụng lá, bờ bụi hoặc các bãi đất trống. Thu hái lá là chủ yếu.
2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Lupeol và “β-sitosterol” đã được phân lập từ thân cây Clinacanthus nutans (Burm.) Lindau (C. siamensis Bremek.). Cấu trúc tinh thể của lup-20(29)-ene-3-one, thu được bằng cách oxy hóa lupeol, được xác định bằng phương pháp nhiễu xạ tia X ở 295 K và tinh chỉnh bằng phương pháp bình phương tối thiểu, với giá trị dư 0,075 cho 1507 phản xạ “quan sát”. Tinh thể có hệ trực thoi, nhóm không gian P212121, thông số ô mạng: a = 17,318(9) Å, b = 13,999(7) Å, c = 10,602(4) Å, Z = 4. Hình học của khung đa vòng tương tự với các cấu trúc đã được báo cáo trước đây của methyl meleauteate iodoacetate và 3-β-acetoxy-20-hydroxylupane (Pimchit Dampawan etal.; 1977).
Sáu flavon C-glycosyl đã biết gồm vitexin, isovitexin, shaftoside, isomollupentin 7-O-β-glucopyranoside, orientin và isoorientin đã được phân lập từ phần tan trong BuOH và nước của dịch chiết MeOH từ thân và lá (1,0 kg) của Clinacanthus nutans thu thập tại Thái Lan. Tiếp tục nghiên cứu trên dịch chiết này, năm hợp chất mới (1 – 5) đã được phân lập bằng sắc ký cột lặp lại, sau đó bằng MPLC và HPLC, với hiệu suất lần lượt là 0,013; 0,002; 0,003; 0,046; và 0,023%, cụ thể là clinacoside A (1), clinacoside B (2), clinacoside C (3), cycloclinacoside A1 (4), cycloclinacoside A2 (5) (Ko-Ichiro Teshima et al.; 1998).
Ba dẫn xuất của diệp lục (phaeophytin) đã được phân lập từ dịch chiết chloroform của lá Clinacanthus nutans Lindau bằng các kỹ thuật sắc ký và phân đoạn định hướng hoạt tính sinh học, thu được ba hợp chất tinh khiết. Việc xác định cấu trúc của các hợp chất này được thực hiện dựa trên phân tích phổ. Cả ba đều là những hợp chất đã biết, có cấu trúc liên quan đến chlorophyll A và chlorophyll B, cụ thể là 132-hydroxy-(132-R)-phaeophytin B, 132-hydroxy-(132-S)-phaeophytin A và 132-hydroxy-(132-R)-phaeophytin A ().
Bằng phương pháp GC-MS, Yong và cộng sự (2013) đã xác định được 14 hợp chất hóa học là n-pentadecanol (1), eicosane (2), 1-nonadecene (3), heptadecane (4), dibutylphthalate (5), n-tetracosanol-1 (6), heneicosane (7), behenic alcohol (8), 1-heptacosanol (9), 1,2-benzenedicarboxylic acid, mono(2-ethylhexyl) ester (10), nonadecyl heptafluorobutyrate (11), eicosayl trifluoroacetate (12), 1,2-benzenedicarboxylic acid, dinonyl ester (13) và phthalic acid dodecyl nonylester (14) từ dịch chiết lá Clinacanthus nutans bằng chloroform, methanol và nước. Trong đó, 1,2-benzenedicarboxylic acid mono(2-ethylhexyl) ester là thành phần chính, chiếm diện tích đỉnh tương đối khoảng 28,6%, trong khi các hợp chất khác đều dưới 2% (Yoke Keong Yong et al.; 2013).
Shu-Fen Tu và cộng sự (2014) đã phân lập được các hợp chất thực vật chứa lưu huỳnh gồm clinamide A (1), clinamide B (2), clinamide C (3) và 2-cis-entadamide A (4) từ dịch chiết ethanol từ phần trên mặt đất của Clinacanthus nutans.
Tác dụng của cây xương khỉ
Mảnh cộng có vị ngọt, tính bình. Có tác dụng thanh can (mát gan), lợi đảm (tăng tiết mật), khử ứ, tiêu thũng, hạ sốt, giảm đau, chống viêm.
Lá xương khỉ non có thể được dùng để nấu canh ăn. Lá khô thì hay dùng để ướp bánh (bánh mảnh cộng). Lá tươi giã đắp chữa đau sưng mắt và nếu đem xào nóng lên thì có thể dùng để xử lý bong gân, sưng khớp, gãy xương. Thường dùng phối hợp với mò hoa trắng giã ra rồi lọc lấy nước uống chữa bệnh lưỡi trắng của trẻ em. Nhân dân còn dùng cành lá đắp vết thương do trâu bò húc.
Ở Hải Nam (Trung Quốc) người ta còn dùng làm thuốc trị vết thương do dao chém thương tích và chữa thiếu máu, hoàng đản, phong thấp, thường dùng cành lá khô sắc uống. Còn ở Thái Lan, lá tươi được dùng trị bỏng, sâu bọ đốt và mụn rộp.
Cách dùng cây xương khỉ (ưu độn thảo) như sau:
* Trị trẻ em, người lớn bị lở miệng: Lấy lá mảnh cộng hàng tươi rửa sạch giã nát rồi thêm chút ít nước, lược lấy nước. Sau đó ngậm từ từ rồi nuốt. Liều dùng 20 – 60g/ngày.
* Trị viêm gan mãn tính (có các biểu hiện sau như vàng da, nóng hâm hấp lòng bàn tay, sốt về chiều, tiểu vàng, bứt rứt, khó ngủ, đại tiện táo hoặc nát, sắc mặt sạm): Dùng toàn bộ cây mảnh cộng 30g khô, râu bắp 20g, lá cây vọng cách 12g, lá quao 12g, sâm đại hành 16g, trần bì 10g, sắc với 1.000 ml nước giữ sôi nhỏ lửa khoảng 30 phút. Chia làm 3 lần uống trong ngày.
* Trị các khớp sưng đau: Lấy toàn cây mảnh cộng 30g, rễ và thân cây gối hạc 20g, toàn bộ cây trâu cổ 20g, tầm gửi trên cây dâu tằm 20g. Nấu với 1,2 lít nước, còn 300 ml chia 3 lần uống sau bữa ăn. Uống liên tục trong 5 – 15 ngày.
* Thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau nhức lưng: Chuẩn bị lá cây mảnh cộng hàng tươi 80g, lá cây thuốc cứu tươi 50g, củ sâm đại hành tươi 50g. Sau đó giã nhuyễn cả 3 thứ, xào nóng với dấm, để âm ấm đắp vào lưng chỗ đau. Tiến hành băng chặt lại mỗi tối trước khi ngủ, sáng mở ra, liên tục trong 5 – 10 ngày.
Chế biến rau xương khỉ
1. Canh rau xương khỉ với thịt nạc băm
Cần chuẩn bị 100g rau xương khỉ, nên chọn lá non, 200g thịt nạc băm, ít hành lá, cùng gia vị (tiêu, nước mắm, đường, hạt nêm, muối, dầu ăn), 1 lít nước dùng, nồi, vá.
Sử dụng lá xương khỉ non, bỏ cọng, rửa sạch, vớt ra để cho ráo nước. Thịt nạc băm sau khi mua về ta tiến hành ướp cùng tiêu xay, nước mắm, đường, hạt nêm, hành lá, xíu muối cho ngấm đều gia vị, chú ý ướp khoảng 15 phút là được.
Để nấu được nồi canh rau xương khỉ với thịt nạc băm ngon ta nên xào sơ thịt trước khi nấu, điều này giúp nồi canh được trong, rau mềm, bóng đồng thời giữ được sắc xanh.
Sau khi thịt thấm đều gia vị thì có thể tiến hành nấu canh được rồi. Ban đầu ta bắt nồi lên bếp, mở lửa, cho xíu dầu ăn vào, cho hành lá đã thái nhỏ, thịt nạc băm đã tẩm ướp gia vị vào xào xơ. Đến khi thấy thịt chín, dậy mùi thơm thì cho 1 lít nước dùng đã chuẩn bị vào, nấu cho sôi. Để nồi canh nước được trong hơn ta nên thường xuyên vớt bọt. Sau khi nước sôi thì bắt đầu cho rau mảnh cộng đã chuẩn bị trước đó vào, nêm nếm gia vị cho vừa ăn, sau khi canh sôi trở lại thì có thể tắt bếp, múc canh ra bát và thưởng thức. Món canh ăn rất ngọt và mát, rất tốt cho sức khỏe.
2. Canh rau xương khỉ với tôm
Cần chuẩn bị 100g rau xương khỉ, 200g tôm tươi. 1 lít nước dùng, hành lá, gia vị (muối, tiêu xay, dầu ăn, hạt nêm, đường), nồi, vá.
Chủ yếu sử dụng lá và đọt non cây mảnh cộng, không nên sử dụng cọng khi nấu canh. Tiến hành rửa sạch, để ráo nước.
Tôm tươi sau khi mua về cần làm sạch, chỉ sử dụng phần thịt tôm. Sau khi làm sạch thì cho vào cối, cho thêm gia vị hành lá, muối, đường, hạt tiêu giã nát. Sau khi thịt tôm nát các cho vào một xíu dầu ăn. Nếu ai không thích giã thì có thể cho thịt tôm và gia vị vào máy xay thịt, xay tôm nhuyễn.
Bắt nồi lên bếp, mở bếp, đợi khi nồi nóng thì cho 1 ít dầu ăn vào, khi dầu nóng các bạn cho hành lá và thịt tôm đã giã hoặc xay nhuyễn vào, xào chín. Đến khi thịt tôm chín và có mùi thơm thì cho 1 lít nước dùng đã chuẩn bị vào, nấu cho đến khi nước sôi, sau khi nước sôi thì cho rau mảnh cộng đã chuẩn bị trước đó (đã rửa sạch) vào, nêm nếm gia vị cho vừa ăn, nấu đến khi nào nước canh sôi lại thì các bạn có thể tắt bếp. Múc canh ra bát và thưởng thức.
Cách trồng cây xương khỉ
Thời gian gieo trồng thích hợp nhất là tháng 5 – 6. Do hạt xương khỉ rất dày vì thế nên dùng dao rạch xung quanh hạt và ngâm trong nước một đêm trước khi tiến hành trồng, để hạt thấm nước dần dần. Mỗi lần cắm một hạt vào độ sâu 2 cm trong đất trồng.
Đất trồng gồm các loại đất sau: Đất Akadama hạt nhỏ, đất mùn và than mụi rơm với tỉ lệ lần lượt 5:4:1. Nên tưới nhiều nước và đặt chậu cây nơi có đủ ánh sáng mặt trời.
– Sau khi cây ra khoảng 3 lá nên tiến hành chuyển cây sang trồng trong chậu.
– Ngắt bỏ chồi ngọn: Sau khi cây ra khoảng 10 lá nên kiểm tra dây leo, nhánh thô để cây tiếp tục phát triển tự nhiên. Nên ngắt bỏ chồi ngọn ở nhánh non và yếu để giúp nhánh nhanh phát triển.
Mua cây xương khỉ ở đâu uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống xương khỉ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Mảnh cộng (Clinacanthus nutans) – Wikipedia tiếng Việt.
- Clinacanthus nutans (Burm.f.) Lindau – The World Flora Online.
- Ihsan N Zulkipli, Rajan Rajabalaya, Adi Idris, Nurul Atiqah Sulaiman, Sheba R David (2017). “Clinacanthus nutans: a review on ethnomedicinal uses, chemical constituents and pharmacological properties”. 55(1): 1093 – 1113.
- Pimchit Dampawan, Charus Huntrakul, Vichai Reutrakul (1977). “Constituents of Clinacanthus nutans and the crystal structure of Lup-20 (29)-ene-3-one”. Journal of The Science Society of Thailand. 3: 14 – 26.
- Ko-Ichiro Teshima, Tetsuo Kaneko, Kazuhiro Ohtani, Ryoji Kasai, Sorasak Lhieochaiphant, Chayan Picheansoonthon và Kazuo Yamasaki (1998). “Sulfur-containing glucosides from Clinacanthus nutans”. Phytochemistry. 48(5): 831 – 835.
- (2009). “Bioactive constituents from the leaves of Clinacanthus nutans Lindau”. Bioorganic & Medicinal Chemistry. 17(5): 1857 – 60.
- Yoke Keong Yong, Jun Jie Tan, Soek Sin Teh, Siau Hui Mah, Gwendoline Cheng Lian Ee, Hoe Siong Chiong, Zuraini Ahmad (2013). “Clinacanthus nutans extracts are antioxidant with antiproliferative effect on cultured human cancer cell lines”. Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine. 2013:462751.
- Shu-Fen Tu, Rosa Huang Liu, Yuan-Bin Cheng, Yu-Ming Hsu, Ying-Chi Du, Mohamed El-Shazly, Yang-Chang Wu, Fang-Rong Chang (2014). “Chemical constituents and bioactivities of Clinacanthus nutans aerial parts”. Molecules. 19(12): 20382 – 90.
Sản phẩm liên quan: Cây cỏ ngọt











