Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Tầm xuân, tên tiếng Anh là dog rose (danh pháp khoa học là Rosa canina L.) là một loài hoa hồng leo thuộc họ Hoa hồng Rosaceae có nguồn gốc châu Âu, Tây Bắc Phi và Tây Á.
Cũng có một loài tầm xuân khác là Rosa multiflora Thunb. hay tường vi, hồng nhiều hoa, tường vi Nhật, dã tường vi. Vừa có công dụng làm cảnh vừa có công dụng chữa bệnh.





Mô tả cây tầm xuân
Cây tầm xuân – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây bụi, cao 1 – 2m, phân cành nhiều. Thân, cành nhẵn, vỏ màu nâu nhạt hay xám nhạt, có nhiều gai cong. Lá kép lông chim, mọc so le, gồm 5 lá chét (những lá gần ngọn có hoa thường 3 lá chét), lá chét hình bầu dục – mũi mác, dài 1,5 – 3cm, rộng 0,8 – 2cm, gốc gần tròn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt, mép khía răng; lá kèm rất hẹp, có lông.
Cụm hoa mọc ở ngọn thành chùm phân nhánh; lá bắc nhỏ; hoa có nhiều màu: đỏ, trắng, hồng; đài 5 răng hẹp, có lông; tràng 5 cánh mỏng rời nhau; nhị nhiều; lá noãn rời nằm trong đế hoa lõm, có lông. Quả giả nhỏ, hình cầu, không gai, khi chín màu vàng chứa nhiều quả bế. Mùa hoa quả: tháng 3 – 6.
Thông tin thêm
1. Phân bố và sinh thái
Cây tầm xuân – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tầm xuân có nguồn gốc ở vùng ôn đới ấm, sau phát triển xuống vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Ở Việt Nam, tầm xuân là loại cây trồng làm cảnh ở xung quanh các dinh thự, công sở. Trồng ở các tỉnh vùng núi có độ cao từ 700m đến 1500m, nhất là ở Đà Lạt cây mới ra nhiều hoa.
Tầm xuân là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa có khí hậu mát và ẩm; sau một năm, tốc độ vươn dài của thân và cành đến 2 – 3m. Cây có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe, có tỷ lệ sống cao. Việc chặt đốn bớt các phần thân và cành già là điều kiện kích thích cho cây sinh chồi.
2. Thành phần hóa học
Cây tầm xuân – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Quả tầm xuân có multiflorine A, multiflorine B và dầu béo. Lá chứa vitamin C. Hoa có astragalin. Cành chứa 5α-stigmastan-3,6-dion, scoparone (Trung dược Từ Hải, III, 1997).
Có tài liệu nói đến tầm xuân có rosamultin.
3. Tác dụng dược lý
Cây tầm xuân – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tác dụng gây tiêu chảy: Multiflorine A và B cho chuột nhắt trắng uống bằng cách cho thuốc vào dạ dày sẽ gây ra tiêu chảy. Liều gây tiêu chảy cho 50% chuột (ED50) của multiflorine A là 30mg/kg và multiflorine B là 222mg/kg.
Tác dụng hạ lipid – huyết: Chất rosamultin có tác dụng làm giảm sự tăng lipid – huyết do triton hoặc do chế độ ăn giàu lipid thí nghiệm trên chuột nhắt trắng.
Tác dụng hạ cholesterol: Gây xơ vữa động mạch cho chuột cống trắng. Dịch chiết rễ tầm xuân, cứ 1ml cho thêm 2,18mg acid triterpenic và 1,4mg catechin cho chuột cống liều 2 ml/con/ngày, liền 126 ngày, thấy thuốc làm giảm cholesterol trong huyết thanh và cả ở động mạch chủ. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng điều tiết các thành phần của lacticodehydrogenase gồm LDH, LDH1, LDH2, LDH3 và LDH4 đã bị rối loạn do xơ vữa động mạch gây ra.
Tác dụng trên sự hình thành huyết cục: Tiêm tĩnh mạch cao chiết từ hoa tầm xuân liều 2,4g/kg và 4,8g/kg cho thỏ thấy thời gian hình thành huyết cục kéo dài, rút ngắn độ dài và giảm trọng lượng của huyết cục.
Tác dụng trên sự ngưng tập tiểu cầu: Dùng huyết tương giàu tiểu cầu và gây ngưng tập tiểu cầu bằng ADP. Dịch chiết nước của hoa tầm xuân có tác dụng ức chế hiện tượng ngưng tập tiểu cầu do ADP gây nên.
Tác dụng trên ruột cô lập: Dịch chiết rễ tầm xuân có tác dụng ức chế sự co bóp ruột do histamin hoặc acetylcholin gây ra, trên mô hình ruột cô lập theo phương pháp Magnus.
Tác dụng chống viêm và giảm đau: Bài thuốc thấp khớp ở Viện Y học cổ truyền trung ương gồm (tỷ lệ % về khối lượng): Tầm xuân (rễ) 10, hy thiêm 30, uy linh tiên 14, tang ký sinh 10, dây đau xương 10, kê huyết đằng 10, tầm xoọng 10, huyết giác 6. Sắc với nước rồi cô thành cao lỏng.
– Thử tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù bằng carrageenan. Kết quả liều 20g/kg (tính theo dược liệu khô) phù giảm 23,6%; 40g/kg phù giảm 39,8%; so với indomethacin 5mg/kg phù giảm 57,6%.
– Thử tác dụng giảm đau trên mô hình gây đau bằng acid acetic. Kết quả liều 20g/kg, số cơn đau giảm 46,0%, liều 40g/kg giảm 75,1%, so với analgin 200mg/kg, giảm 91,7%.
Thử lâm sàng bài thuốc cao thấp khớp của Bệnh viện Vân Đình tỉnh Hà Tây: Bài thuốc gồm rễ tầm xuân, thổ phục linh, huyết giác, lá lốt, bưởi bung, dây đau xương, hoàng nàn chế, kê huyết đằng, ngưu tất, tầm xoọng, xuyên tiêu. Thử lâm sàng cho 70 bệnh nhân, kết quả tốt 57, đỡ 13. Không có biểu hiện độc tính, không thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu và chức năng gan thận. Bài thuốc đã được chuyển sang Hiệu thuốc Vân Đình sản xuất bán ở cửa hàng.
Độc tính cấp: Rễ tầm xuân sắc với nước, cô thành cao đặc, rồi chiết với cồn cho bay hơi cồn rồi tiêm trong màng bụng cho chuột nhắt trắng. Đã xác định được LD50 = 127g/kg tính theo dược liệu khô.
Công dụng của tầm xuân
Rễ tầm xuân có vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong, hoạt lạc, giải độc. Quả có vị chua, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, hoạt huyết, lợi thủy, giải độc. Hoa có vị đắng, chát, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, hóa trọc, thuận khí, hòa vị.
Rễ tầm xuân được dùng chữa tiêu khát, đái tháo, trẻ đái dầm, người già đái nhiều lần, phong thấp đau nhức; sao vàng sắc uống chữa kiết lỵ cấp và mạn. Ở Trung Quốc, rễ còn được dùng chữa chảy máu mũi, kinh nguyệt quá nhiều. Ngày 10 – 20g sắc uống.
Quả được dùng làm thuốc nhuận tràng, lợi tiểu mạnh, chữa phong thấp nhức mỏi, kinh nguyệt không đều, hành kinh đau bụng. Ở Ấn Độ, quả còn được dùng đắp các vết loét, vết thương, bong gân. Hoa là thuốc trị ho, nóng ngực, tâm phiền, miệng khát. Lá giã nát, đắp chữa sưng đau, mụn nhọt.
Bài thuốc có tầm xuân:
Chữa đái tháo, đái nhiều, vãi đái không nén được, trẻ đái dầm: Rễ tầm xuân (20 – 30g) sắc đặc uống trong ngày.
Chữa kiết lỵ kéo dài:
- Rễ tầm xuân, vỏ quả lựu, rễ tầm xoọng, vỏ quả chuối hột, mỗi vị 20g. Sắc uống làm 2 lần trong ngày. Dùng liền 3 – 5 ngày.
- Rễ tầm xuân 20 – 30g, chặt nhỏ, sao vàng, sắc đặc uống.
Chữa phong thấp, teo cơ, lưng gối đau mỏi:
- Rễ tầm xuân, cây vú bò, rẻ ngưu tất, dây chiều, rễ thanh táo, hà thủ ô, cẩu tích, mỗi vị 20g, sắc uống trong ngày.
- Rễ tầm xuân 12g, khúc khắc, rễ gấc, rễ tầm xoọng, mỗi vị 10g. Sắc uống làm 2 lần trong ngày.
Cách trồng tầm xuân
Cây tầm xuân – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tầm xuân được trồng làm hàng rào kết hợp lấy hoa. Cây không kén đất, dễ sống. Vào mùa xuân, cắt lấy cành bánh tẻ, dài 40 – 50cm, đặt nghiêng xuống hố hoặc rãnh làm sẵn từ trước với khoảng cách tùy ý.
Muốn hàng rào nhanh kín thì đặt dày. Đặt xong, lấp đất, tưới ẩm cho đến khi cây mọc. Cây ít sâu bệnh, không đòi hỏi chăm sóc. Hoa được thu hái để bán, rễ làm thuốc.
Là cây có sức sống khỏe, tầm xuân được dùng làm gốc ghép hoặc lai tạo các giống hồng mới. Với mục đích này, người ta nhân giống tầm xuân bằng hạt. Quà cần thu khi chín nhưng thịt quả chưa mềm, tách lấy hạt, rửa sạch rồi gieo ngay trong vườn ẩm. Qua mùa đông, sang xuân hạt sẽ nảy mầm và đánh cây con đi trồng. Muốn cho hạt nảy mầm đều với tỷ lệ cao, cần giữ hạt trong cát ẩm ở nhiệt độ 2 – 4oC trong 6 tuần, rồi đem gieo.
Địa chỉ bán cây tầm xuân tại Hà Nội uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống tầm xuân phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








