Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Cây cẩu tích hay rễ lông cu ly, kim mao cẩu tích, cẩu tồn mao, cây lông khỉ, cù lần, tên tiếng Anh là barometz, golden chicken fern, woolly fern (danh pháp khoa học là Cibotium barometz (L.) J.Sm.), là một loài thực vật có hoa thuộc họ Lông cu li Dicksoniaceae. Cẩu tích hay kim mao cẩu tích (Rhizoma Cibotii) là thân rễ phơi hay sấy khô, có khi thái mỏng, phơi hay sấy khô của cây lông cu ly.
Cẩu là con chó, tích là lưng, xương sống. Vì vị thuốc chưa thái giống lưng con chó, do đó có tên này.






Chưa kể, thân rễ có lông tơ của cây này được coi là nguồn cảm hứng cho truyền thuyết “Cừu rau của Tartary” (Vegetable Lamb of Tartary). Đây là một sinh vật huyền thoại được cho là vừa là thực vật vừa là động vật, xuất hiện trong các truyền thuyết từ Trung Á. Theo mô tả, nó là một loài cây mọc ra những con cừu như quả của nó. Những con cừu này được kết nối với cây bằng một cuống giống như dây rốn, cho phép chúng ăn cỏ xung quanh. Khi hết thức ăn trong tầm với, cả cây và cừu đều chết.

Mô tả cây giống cẩu tích
Cẩu tích – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây lông cu ly là một loại quyết thực vật, có khi cao tới 2,50m. Lá dài đến 2m, phủ bởi nhiều vẩy vàng bóng. Ở mỗi bên gần giữa bậc ba, có một hay hai ổ tử nang. Thân rễ có lông tơ màu vàng bao phủ, trông tựa như con chó con hay như con cu ly.
Vì thân rễ cây này trông giống con vật cho nên ngày xưa tại châu Âu hồi thế kỷ thứ 16 – 17, người ta cũng cho nó là một con vật và đặt tên là Agnus scythicus. Người ta cho rằng cây động vật này sinh ra do một hạt dính vào rễ, có máu và thịt như một con vật ăn cỏ. Vì con vật này không đi lại được cho nên sau khi nó ăn hết cỏ xung quanh nơi nó được sinh ra thì nó chết đi.
Cây cẩu tích – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Loài khuyết thực vật hay dương xỉ thụ trang, có thân rễ mọc đứng, thường ngắn, to, phủ lông mềm màu vàng nâu. Khi cắt hết lá chỉ còn lại những gốc cuống thì thân rễ lúc này giống con cu ly. Lá kép dài 1 – 2m, chia nhiều lá chét xếp dạng lông chim, các lá chét này chia thành nhiều lá chết bậc hai sít nhau, lá chét bậc hai có gốc bằng nhau, đầu thon mảnh, lại chia thành nhiều đoạn thuôn hẹp, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt hơn; cuống lá kép rất to và cứng, màu nâu, cũng có lông mềm.
Cơ quan sinh sản là những túi bào tử có áo màu nâu, mọc ở mặt dưới lá, xếp đều đặn ở hai bên gân giữa, trong đựng nhiều bào tử; bào tử hình tam giác hay hơi tròn, sần sùi, màu sáng hay đen nhạt, có cánh. Mùa sinh sản: tháng 10 – 1.
Cây dễ nhầm lẫn:
Cây áo cốc (Sitobolium zeylanicum (Sw.) L.A.Triana & Sundue; đồng nghĩa: Dennstaedtia scabra (Wall.) T.Moore), họ Áo cốc Dennstaedtiaceae. Cây có thân rễ mọc bỏ, dài và nhỏ, lông mềm màu vàng nâu rất giống lông cẩu tích. Lá kép dài 30 – 50cm. Bào tử hình 4 mặt, màu vàng nhạt. Cây mọc trong rừng thưa ở vùng cao thuộc tỉnh Lào Cai, Tây Nguyên.
Cây lá lược (Microlepia speluncae (L.) T.Moore), cùng họ Áo cốc Dennstaedtiaceae. Thân rễ mọc bò, có lông mềm hoặc cứng, dài, màu vàng nhạt. Lá kép dài 1 – 2m. Áo túi bào tử màu trắng nhạt, bào tử hình 4 mặt, lõm, màu vàng nhạt. Cây mọc hoang ở miền Bắc và miền Nam.
Cây vảy lợp (Davallia divaricata Blume), họ Vảy lợp Davalliaceae. Thân rễ dày, mọc bò, có lông dạng vảy mỏng, màu hung. Lá kép dài đến 40cm. Bào tử hình trứng hay hình thận, không màu. Cây mọc hoang, gặp ở miền Bắc và miền Nam.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cẩu tích – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cẩu tích mọc hoang khắp nơi ở miền rừng núi Việt Nam, Lào, Campuchia, Philippines, Malaysia và Indonesia. Miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Vân Nam) cũng có.
Thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào cuối thu sang đông. Khi hái về thì rửa sạch cắt bỏ rễ con, cuống lá và lông vàng phủ xung quanh thân rễ, thái mỏng, phơi khô. Có khi đồ hơi nước rồi mới phơi, làm như vậy nhiều lần; có khi lại còn đồ với đậu đen chín lần đồ, chín lần phơi rồi cuối cùng thái mỏng phơi khô.
Cây cẩu tích – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Cibotium Kaulf. có khoảng 10 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới châu Mỹ và châu Á, trong đó cẩu tích là loài có vùng phân bố tương đối rộng, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia, Ấn Độ, Philippines và Indonesia.
Ở Việt Nam, cẩu tích phân bố tập trung ở các tỉnh miền núi phía bắc: Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn. Ở Miền Nam, cây chỉ thấy ở một số vùng núi cao, như Ngọc Linh (Kon Tum, Quảng Nam), Langbiang (Lâm Đồng) và Bì Đúp (Đắk Lắk).
Cẩu tích là cây ưa ẩm và có thể chịu bóng. Cây thường mọc thành từng đám hoặc thành những quần thể gần như thuần loại ở ven rừng hoặc dọc theo các bờ khe suối. Độ cao thường thấy từ 600m (ở miền Bắc) hoặc 800m (ở miền Nam) đến 1600m. Cẩu tích mọc nơi đất ẩm và nhiều mùn. Thân rễ mọc vùi sắt mặt đất hoặc nổi hẳn trên mặt đất. Ở những cây già, thân rễ lớn (1 – 3kg) thường có hiện tượng hóa gỗ nhiều và mục ruỗng ở giữa. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm. Mỗi năm mọc lên từ 3 – 5 lá, sinh sản bằng bào tử. Bình thường cây cẩu tích không đẻ nhánh, nhưng nếu thân rễ bị chặt, phần còn lại có khả năng tiếp tục tái sinh.
Trữ lượng cẩu tích ở Việt Nam tương đối dồi dào những điểm có cây mọc tập trung, có thể khai thác từ 1 – 3 tấn thân rễ tươi trên một hecta. Nhu cầu trong nước mỗi năm khoảng vài trăm tấn. Những năm gần đây (1992 – 1998) loại dược liệu này bị khai thác ồ ạt (hàng ngàn tấn) để xuất khẩu qua biên giới. Hiện tượng khai thác và phá rừng làm nương rẫy, đã làm cho các vùng phân bố của cẩu tích bị thu hẹp. Thêm vào đó là quá trình sinh sản bằng bào tử (đặc điểm chung của quyết thực vật) rất phức tạp. Từ một cây cẩu tích con đến khi khai thác được, có thể là 10 năm. Cẩu tích đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam để lưu ý bảo vệ.
Thân rễ thu hái vào mùa hạ bay mùa đông, cạo sạch hết lông, để riêng dùng làm thuốc gọi là lông cu ly hay kim mao. Nếu không lấy lông, có thể đốt hoặc rang thân rễ với cái nóng cho cháy hết lông, rồi ngâm nước, rửa sạch, đồ kỹ cho mềm, thái mỏng, phơi hay sấy khô. Khi dùng, tẩm dược liệu với rượu để một đêm, rồi sao vàng.
Dược liệu cẩu tích là những đoạn thân rễ có màu nâu hay nâu hơi hồng, đường kính 2 – 5cm, dài 4 – 10cm, mặt ngoài gồ ghề, chỗ lồi, chỗ lõm, xung quanh còn dính ít lông vàng nâu, chất cứng khó cắt, khó bẻ gãy khi khô, vị đắng ngọt. Cẩu tích dễ bị mốc, cần bảo quản nơi khô ráo.
2. Thành phần hoá học
Cây cẩu tích – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thân rễ cẩu tích chứa 30% tinh bột. Lông cu li chứa tanin và sắc tố. Yuan Zhong và cs (1996) đã phân lập từ thân rễ cẩu tích nhiều hợp chất và nhận dạng là β-sitosterol, acid stearic, daucosterol, acid protocatechuic, acid caffeic (CA 125, 67940).
3. Tác dụng dược lý
Cây cẩu tích – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thân rễ cẩu tích đã được nghiên cứu dược lý và nhận thấy có tác dụng chống viêm, tác dụng ức chế chủ yếu giai đoạn viêm cấp tính, tác dụng yếu trên giai đoạn mạn tính của phản ứng viêm. Nó có độc tính thấp.
Một bài thuốc bổ thận của đông y gồm 9 vị, trong đó có cẩu tích (chiếm 15% trọng lượng) đã được thử dược lý và chứng minh có tác dụng gây động dục kiểu oestrogen trên chuột nhắt cái.
Công dụng và liều dùng cẩu tích
Chỉ mới được dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc bổ gan, thận chữa đau lưng, đau khớp xương, đầu gối, chữa phong thấp. Người già hay đi tiểu tiện nhiều lần.
Ngày dùng 10 – 18g dưới dạng thuốc sắc.
Còn dùng chữa bệnh phụ nữ khí hư, bạch đới, phụ nữ có thai mà lưng, người đều đau.
Theo tài liệu cổ: Cẩu tích có vị đắng, ngọt, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh lưng gối, trừ phong thấp, chữa phong hàn, thấp tỳ, lưng đau chân mỏi, thất niếu (không đi đái được), lâm lô (đái nhỏ giọt).
Những người thận hư hữu nhiệt, tiểu tiện bất lợi hoặc đỏ vàng không dùng được.
Đơn thuốc có cẩu tích chữa ngang lưng đau nhức:
Kinh nghiệm nhân dân: Cẩu tích 15g, ngưu tất 16g, đỗ trọng 10g, sinh mễ nhân 12g, mộc qua 6g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Có thể thêm 20ml rượu trong khi uống thuốc, nếu uống được rượu.
Địa chỉ bán cây giống cẩu tích uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống cẩu tích phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








