Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Đương quy hay tần quy, vân quy, dong quai (当归) (danh pháp khoa học là Angelica sinensis (Oliv.) Diels.) là loài thực vật có hoa thuộc họ Hoa tán Apiaceae. Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ do đó có cái tên như vậy.

Mô tả cây đương quy
Đương quy – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Cây nhỏ, nhưng sống lâu năm. Cây cao chừng 40 – 80cm, thân cây màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2 – 3 lần xẻ lông chim, cuống dài khoảng 12cm, 3 đôi lá chét. Với đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên đỉnh thì không có cuống; lá chét lại xẻ 1 – 2 lần nữa, mép có răng cưa. Phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Hoa đương quy rất nhỏ màu xanh trắng họp thành cụm hoa hình tán kép gồm 12 – 40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa chủ yếu vào tháng 8.
Đương quy (Angelica spp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đương quy Trung Quốc (Angelica sinensis (Oliv.) Diels): Cây thảo lớn, sống lâu năm, cao 40 – 60 cm, có thể đến 1 m khi cây có hoa. Thân hình trụ, có rãnh dọc, màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần, gốc phát triển thành bẹ to, đầu nhọn, lá chét phía dưới có cuống, lá chét gần đầu lá không cuống, mép chia thùy và răng cưa không đều. Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán kép gồm 12 – 20 tán, dài ngắn không đều; hoa nhỏ màu lục nhạt. Quả bế dẹt, có rìa màu tím nhạt. Toàn thân nhẵn và có mùi thơm đặc biệt. Mùa hoa quả: tháng 7 – 8.
Đương quy Nhật Bản (Angelica acutiloba (Siebold & Zucc.) Kitag.): Cây thảo lớn, sống nhiều năm, cao 40 – 80 cm, không lông. Lá mọc so le, ở phía dưới có cuống dài 10 – 30cm, gốc có bẹ ngắn dạng máng, xẻ lông chim 1 – 2 lần, lá chét phân thùy hình mác dài 2 – 7 cm, rộng 1 – 3cm, có cuống ngắn hoặc không cuống; các thùy lại phân nhỏ, gốc hình nêm, đầu nhọn, mép có răng to sắc; lá ở phía ngọn tiêu giảm. Cụm hoa là tán kép, có cuống dài 5 – 20 cm gồm 25 – 40 tán; tổng bao và tiểu bao giống nhau có lá bắc dạng sợi; hoa nhỏ màu trắng lục nhạt; đài không có răng, tràng 5 cánh lõm ở đầu; nhị 5, bầu hình chóp ngược, có gân lồi. Quả bế đôi, hơi dẹt, có cạnh và gân lồi, gân ở mép rộng dạng cánh.

Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Đương quy – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên, ta đã nhiều lần thí nghiệm trồng nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ ở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi.
Nhưng mới đây chúng ta đã trồng thành công đương quy ở vùng đồng bằng quanh Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác.
Tại Trung Quốc, đương quy được trồng nhiều nhất ở các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây.
Hằng năm vào mùa thu gieo hạt, cuối thu đầu đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa đông. Qua mùa xuân lại trồng, đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mùa thu năm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ về cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào trong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô. Trên thị trường người ta còn phân biệt ra quy đầu là rễ chính và một bộ phận cổ rễ; quy thân hay quy thoái là phần dưới của rễ chính hoặc là rễ phụ lớn.
Quy vĩ là rễ phụ nhỏ, Đông y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay tại Trung Quốc người ta cũng đơn giản bớt đi và phần lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta không phân biệt nữa. Toàn rễ cái rễ phụ được gọi là toàn quy.
Đương quy (Angelica spp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Angelica L. có khoảng 70 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu và New Zealand. Việt Nam đã 3 lần nhập giống đương quy của Trung Quốc (khoảng giữa năm 60), Triều Tiên (1978) và gần đây là của Nhật Bản (1996). Giống đương quy nhập từ Trung Quốc hiện không còn, hai giống còn lại vẫn đang được trồng ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, xung quanh Hà Nội. Theo Nguyễn Chiều và Lê Kim Loan (1999) 2 giống đương quy này đều thuộc một loài A. acutiloba. Nhìn chung các giống đương quy đều có nguồn gốc ở vùng ôn đới. Cây được đưa vào trồng từ lâu ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Cây ưa khí hậu ẩm mát, đến mùa đông toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi, phần củ dưới mặt đất chịu đựng được băng tuyết và mọc lại vào mùa xuân năm sau. Đương quy trồng ở Việt Nam thường cũng phải lựa chọn thời vụ, sao cho mùa gieo hạt và sinh trưởng của cây trùng với thời gian có nhiệt độ thấp trong năm.
Cây trồng ở vùng đồng bằng ra hoa quả sớm hơn ở vùng núi cao (trên 1500m), những hạt giống này không được dùng để sản xuất dược liệu. Đó là những đặc điểm về mặt sinh học cần lưu ý khi lựa chọn vùng trồng đương quy thích hợp ở Việt Nam.
2. Thành phần hoá học
Đương quy – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Trong cây đương quy có tinh dầu. Với tỷ lệ tinh dầu được xác định là 0,2%. Tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15oC, màu vàng sẫm, trong. Tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%. Thành phần chủ yếu của tình dầu giống tinh dầu của đương quy Nhật Bản (Dược học thông báo, 1954, trang 432 và Thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, tr. 384).
Trong đương quy Nhật Bản Angelica acutiloba (Siebold & Zucc.) Kitag., người ta thấy có tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là n-butylidenephthalide C12H12O2 và axit n-valerophenone-O-cacboxylic C12H14O3. Ngoài ra còn có thêm n-butylphthalide C12H14O2, bergapten C12H8O4. Cùng sesquiterpene và một ít vitamin B12.
Đương quy (Angelica spp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đương quy Trung Quốc chứa:
Tinh dầu 0,2 – 0,4%: Tinh dầu đương quy là chất lỏng màu vàng sẫm, tỷ trọng ở 15oC 0,955. Tinh dầu có:
– Các terpen: Myrcene, β-ocimene, allo-ocimene, β-phellandrene, p-cymene, α-pinene, trans-β-farnesene, β-bisabolene, bicycloelemene, γ-elemene, cedrene, cuparene.
– Các hợp chất phenolic: Acetophenone, acid anisic, o-cresol, p-cresol, ethylresorcinol, acid valerophenone-O-carboxylic, 2,4-dihydroxyacetophenone, phenol, m-ethylphenol, p-ethylphenol, 2,3-dimethylphenol, guaiacol, carvacrol, isoeugenol, vanilin.
– Các dẫn chất phthalide: senkyunolide, Δ2,5-dihydrophtalic, ligustilide, n-butylphthalide, n-butylidenephthalide. Trong đó 3 thành phần n-butylphthalide 1,81%, ligustilide 50,2% và n-butylidenephthalide 7,35% đặc trưng cho đương quy Trung Quốc.
– Các thành phần khác: 2-methyldecane-5-on, acid myristic, acid nonandioic, acid camphoric, acoradiene, isoacoradiene, 6-n-butylcycloheptadiene-1,4.
Coumarin: Umbelliferone, scopoletin, xanthotoxin, isopimpinellin, bergapten, acutilobin, decursin.
Acid hữu cơ: Acid vanillic, acid palmitic, acid linoleic, acid nicotinic, acid succinic.
Polysaccharide khi thuỷ phân cho: L-arabinose, D-galactose, D-glucose, L-rhamnose.
Acid amin: Alanine, valine, isoleucine, serine, threonin, acid γ-aminobutyric, leucine, glycine, aspartate, acid glutamic, lysine, arginine, phenylalanine, tyrosine, proline, tryptophan, histidine, methionine, cytidine, uracil, choline.
Vitamin: vitamin B1, vitamin B12, vitamin E.
Polyacetylene: Falcarinol, falcarindiol, falcarinolone.
Sterol: β-sitosterol, stigmasterol, β-sitosteryl-β-D-glucosid.
Nguyên tố vi lượng: Mg 48,10 ppm, Ca 60,50 ppm, Al 12,50 ppm, Cr 0,214 ppm, Cu 0.371 ppm, Zn 1,701 ppm, As 0,832 ppm, Pb 0,201 ppm, Cd 0,018 ppm, Hg 0,207 ppm, P 118,4 ppm, Fe 6,345 ppm, Si 0,819 ppm, Ni 0,057 ppm, V 0,025 ppm.
Thành phần khác: Brefeldin.
Đương quy Nhật Bản chứa:
Tinh dầu ở rễ là 0,26%, chứa ligustilide 0,1941%, n-butylphthalide 0,0244%, n-butylidenephthalide 0,1762%, cnidilide, p-cymene.
Lá đương quy Nhật Bản trồng ở Thanh Trì (Hà Nội) chứa 0,60 – 0,70% tinh dầu (so với khối lượng khô tuyệt đối).
Tinh dầu lá chứa γ-terpinene 36,5%, p-cymene 17,1%, ligustilide 16,1%, myrcene 5,1%, β-ocimene 3,1%, limonene 2,4%, caryophyllene oxide 82,6% (Lê Kim Loan và cs, 1998).
Lá đương quy Nhật Bản trồng ở Thái Nguyên chứa 0,64 – 0,88% tinh dầu với các thành phần chính là p-cymene, γ-terpinene, ligustilide ở cây 6, 7, 8 tháng tuổi (Thái Thanh Hải và cs, 1999).
Coumarin: Umbelliferone, scopoletin, xanthotoxin, isopimpinellin, bergapten.
Saccharide: Monosaccharide: glucose, sucrose, fructose. Polysaccharide có thể là polysaccharide đồng thể (bao gồm glucan hoặc araban), có thể là polysaccharide dị thể bao gồm arabinogalactan, rhamnogalacturonan, angelico-pectin A (acid galacturonic, L-rhamnose, L-arabinose, D-galactose, D-glucose), AR-2IIa-IId (acid galacturonic, rhamnose, arabinose, galactose) …
Acid amin: Adenosine.
Polyacetylene: Falcarinol, falcarindiol, falcarinolone.
Sterol: β-sitosterol.
Nghỉ một lát, sao không chuyển qua tìm hiểu Lá đnh lăng khô chuẩn hàng của shop nhỉ
3. Tác dụng dược lý
Đương quy – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu.
Tác dụng trên tử cung và các cơ trơn: Trên tử cung. Đương quy có 2 loại tác dụng: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế.
Theo Schmidt, Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med. J. 38: 362) thì hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương quy (dùng nước đun sắc hoặc rượu nhẹ độ thấm kiệt), tiêm cho chó đã gây mê (tĩnh mạch) thì thấy đối với tử cung 10 con không có chửa có 37,5% hiện tượng co, đối với chó có chửa hoặc đẻ không lâu thì 100% hiện tượng co tử cung. Đối với các cơ quan có cơ trơn khác như ruột, bàng quang cũng có hiện tượng đó, đồng thời huyết áp hạ thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sucrose cao trong thuốc). Nếu như dùng tinh thể (không có tính chất bay hơi, không có đường và kiềm tính) chiết từ đương quy ra để tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì cũng thấy sức co bóp của tử cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao; nếu dùng tinh thể nói trên pha với dung dịch Tyrốt thành 1/2.000.000, rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài; dung dịch pha loãng 1/100.000 cũng làm cho mẩu ruột cô lập của thỏ co bóp mạnh. Các tác giả cho rằng tính chất kích thích này do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn.
Theo Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ và Trương Diệu Đức (Trung Hoa y học tạp chí 21: 611; 1935) thì đã dùng tinh dầu của đương quy tiến hành 88 lần thí nghiệm trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện thấy đối với tử cung cô lập của thỏ, chó và chuột bạch (có chửa hay không có chửa) với nồng độ 1/50 có tác dụng giãn nghỉ, nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn trương lại khôi phục lại, như vậy chứng tỏ tinh dầu đương quy không làm thương tổn nhiều đối với cơ của tử cung. Với nồng độ 1/25 thì sự co của tử cung lập tức đình chỉ; với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ. Tác dụng trên của đương quy ngược lại với tác dụng cùa tuyến yên và của histamin, tức là sau khi tác dụng bằng atropin sulfat thì có thể xuất hiện, do đó cho rằng tác dụng của đương quy không do tác dụng trên hệ thống thần kinh mà do tác dụng trực tiếp ức chế trên cơ trơn của tử cung và do tác dụng trực tiếp trên cơ của tử cung này mà chữa bệnh thống kinh, so với atropin thì an toàn hơn. Những năm 1949 (Trung Hoa y học tạp chí, 35; 353) Trương Xương Thiệu cho rằng xem tính chất trực tiếp ức chế cơ trơn của tử cung là đại diện cho cách tác dụng của đương quy chưa được đúng đắn.
Kinh nghiệm dùng đương quy trên lâm sàng cho biết đương quy có tác dụng làm dịu tử cung co quắp. Theo báo cáo của Dương Đại Vọng, Triệu Túc Quân (1948 Trung Hoa y học tạp chí, 34: 457) đã dùng đương quy chữa cho 129 bệnh nhân thống kinh (kinh nguyệt đau đớn) tất cả đã dùng 257 lần thì thấy kết quả tốt, không có triệu chứng nào không tốt, lại làm tăng sự phát dục của tử cung. Các tác giả đề xuất ra 3 loại tác dụng của đương quy.
– Ức chế sự co của tử cung, làm giãn nghỉ sự căng của tử cung. Trực tiếp làm cho hành kinh không đau.
– Do cơ tử cung giãn nghỉ, huyết lưu thông mạnh, do đó có tác dụng cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, làm cho tử cung chóng bình thường, gián tiếp chữa chứng thống kinh (thấy kinh đau đớn).
– Đương quy có tác dụng làm cho ruột trơn và có thể chữa táo bón, làm giảm sung huyết vùng xương chậu do đó tham gia làm giảm đau trong lúc kinh nguyệt.
Năm 1954, Ngô Bảo Sam và những người cộng tác đã báo cáo dùng đương quy mua ở Thượng Hải chế thành nước sắc, cồn thuốc, chiết bằng ete dầu hỏa, ete sunfuric, chloroform, cồn nguyên chất và cồn 70o. Với 8 loại chế phẩm đó thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và theo phương pháp trường diễn của Reynolds (1929) thì thấy cả 8 loại đều làm tăng tính tiết luật của tử cung cô lập thỏ, làm giảm trương lực (tonus); liều lớn thì hoàn toàn ức chế; nếu tiêm vào tĩnh mạch súc vật đã gây mê (mèo, chó, thỏ) thì thấy sự co của từ cung tại chỗ được tăng mạnh, đồng thời huyết áp hạ xuống; nếu tiêm tĩnh mạch những con thỏ theo dõi theo phương pháp Reynolds (mãn tính, trường diên) thì thấy có tác dụng hưng phấn.
Dùng nước sắc đương quy với liều 300, 150, 30, 15 mg trên 10g thể trọng tiêm vào màng bụng chuột nhắt và thuốc chiết bằng ête dầu hỏa với liều 200, 100, 50 mg trên mỗi con chuột tiêm dưới da chuột nhắt đều không thấy tác dụng của các nội tiết tố nữa.
Năm 1954 (Trung Hoa y học tạp chí, 9; 670 – 682), Lã Phú Hoa, Ngô Hy Đoan và Hồng Sơn Hải báo cáo đã dùng một loại đương quy (có lẽ là Ligusticum acutilobum) chế thành thuốc sắc, cất kéo hơi nước và chiết bằng ête thí nghiệm trên tử cung cô lập, tử cung tại chỗ và trên tử cung trường diễn, cũng đi đến kết quả gần như kết quả của Ngô Bảo Sam kể trên và các tác giả đề xuất rằng đương quy có hai loại tác dụng hưng phấn và ức chế. Ức chế có trong đương quy chủ yếu nằm trong phần bay hơi được, có độ sôi 189 – 210oC ở 5 mm thủy ngân, thành phần này trong quá trình sắc thuốc thông thường vẫn được áp dụng trong nhân dân thường không bị bay đi nhiều. Thành phần có tác dụng hưng phấn tan trong nước, trong rượu êtylic, không tan trong ete là chất không bay hơi.
Năm 1954, Chu Nhan (Trung dược đích dược lý dữ ứng dụng) đã đề xuất rằng đương quy có hai tác dụng: Thành phần tan trong nước, không bay hơi, có tinh thể, có tác dụng hưng phấn cơ tử cung làm cho sự co bóp tăng mạnh; thành phần bốc hơi có tác dụng ức chế cơ tử cung, làm cho tử cung giãn nghỉ, nếu muốn làm cho có tác dụng co bóp tử cung thì cần sắc thuốc có đương quy lâu để trừ bỏ bớt phần bay hơi; trái lại nếu muốn làm cho tử cung giãn nghỉ thì chỉ nên sắc rất chóng để bảo vệ phấn bay hơi.
Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E: Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. physiol. 16; 373) dùng thức ăn thiếu vitamin E nuôi chuột trong 2 – 5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5 – 6% đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc dâm dương hoắc, đan sâm, tục đoạn và xuyên khung cũng có tác dụng tương tự, Nghệ Chương Kỳ suy luận rằng nhân dân sở dĩ dùng đương quy làm thuốc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.
Tác dụng trên trung khu thần kinh: Theo sự nghiên cứu của một tác giả Nhật Bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim.
Tác dụng trên huyết áp và hô hấp: Theo Schmidt. Y Bác An và Trần Khắc Khôi (1924 Chinese Med. J. 38; 362) tinh dầu của đương quy có tác dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao. Lưu Thiệu Quang, Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức (1935 Trung hoa y học tạp chí 21: 611) đã theo dõi tác dụng của tinh dầu đương quy trên thỏ, mèo, chó đối với huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn. Nhỏ tinh dầu tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau.
– Liều nhỏ: Huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.
– Liều trung bình: Huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn.
– Liều lớn: Huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại, gây chết.
Tác dụng làm hô hấp khó khăn đối với thỏ ít hơn so sánh với mèo và chó. Cho nên có thể nói độ độc của đương quy đối với huyết áp hay hô hấp rất thấp.
Tác dụng trên cơ tim: Theo Ngụy Liên Cơ (1950 sinh lý học báo 20 (2); 105-110-Trung văn) thì tác dụng trên tim của đương quy giống tác dụng của quinidine. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong ete etylic.
Tác dụng kháng sinh: Năm 1950, Lưu Quốc Thanh đã báo cáo nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ và tụ cầu trùng.
Đương quy (Angelica spp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đương quy Nhật Bản di thực trồng ở Việt Nam có các tác dụng:
– Có hoạt tính trên chức năng nội tiết sinh dục động vật cái, gây tác dụng kiểu oestrogen và progesterone yếu.
– Rễ và lá có tác dụng hướng sinh dục yếu trên chuột cống trắng cái non, tác dụng này không ổn định. Dược liệu không có tác dụng hướng sinh dục trên chuột cống đực non.
– Rễ và hạt gây tăng trương lực và biên độ co bóp tử cung cô lập và tại chỗ của động vật thí nghiệm. Liều 0,2 g rễ và 0,4 g hạt đương quy tăng biên độ co bóp tử cung cô lập chuột lang tương đương 0,1 đơn vị pituitrin.
– Rễ có tác dụng tăng lực rõ rệt trong thí nghiệm chuột nhắt trắng bơi gắng sức.
– Rễ có tác dụng tăng sức đề kháng cơ thể động vật trong thí nghiệm gây độc với amôn clorid một cách rõ rệt.
– Rễ có tác dụng chống viêm đối với cả hai giai đoạn cấp tính và mạn tính của phản ứng viêm thực nghiệm và không có tác dụng gây thu teo tuyến ức chuột non. Như vậy, đương quy có đặc điểm tác dụng chống viêm tương tự các thuốc chống viêm phi steroid, tác dụng chống viêm không kèm theo tác dụng ức chế miễn dịch.
– Độc tính cấp tính của rễ và hạt đương quy rất thấp. Rễ có độc tính cấp tính thấp hơn so với hạt.
Bài thuốc Tứ vật trong có đương quy Trung Quốc đã được nghiên cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng acetat chì, có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố của động vật gây thiếu máu.
Đương quy Trung Quốc có tác dụng ức chế sự co thắt cơ trơn ruột cô lập gây bởi acetylcholin và histamin và có khả năng bảo vệ hệ thống miễn dịch đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng đang điều trị bằng tia xạ. Nó làm tăng số lượng tế bào lympho T nói chung và số lượng tế bào lympho T hoạt động, đồng thời làm phục hồi khả năng tạo hoa hồng của tế bào lympho T bị ức chế bởi theophylin. Dược liệu làm tăng sức đề kháng của cơ thể bệnh nhân, tăng chất lượng của hồng cầu và hạn chế sự giảm tỷ lệ huyết sắc tố.
Rễ của đương quy Trung Quốc có 2 thành phần một thành phần kích thích tử cung, và một thành phần ức chế tử cung. Thành phần ức chế chủ yếu là tinh dầu. Thành phần kích thích không phải tinh dầu và tan trong nước hoặc cồn. Trên chuột nhắt trắng được nuôi với thức ăn có 5% đương quy trong 4 tuần thấy ở tổ chức gan, lượng tiêu thụ oxy tăng và năng lực sử dụng glucose của tử cung tăng. Trong tử cung, sự tổng hợp acid nucleic không tăng, nhưng lượng ADN tăng rõ rệt, do đó đương quy có tác dụng gây tăng sinh tử cung.
Cao nước đương quy hoặc dạng chiết với ether tác dụng trên tâm nhĩ thỏ cô lập, kéo dài giai đoạn trơ, do đó có tác dụng đối kháng với chứng cuồng động nhĩ gây thực nghiệm bởi acetylcholin hoặc kích thích điện, và đối kháng với hoạt tính gây tăng nhanh nhịp tim của cà độc dược. Nước sắc hoặc cao cồn đương quy tiêm tĩnh mạch cho động vật gây mê có tác dụng hạ huyết áp. Có ý kiến cho rằng thành phần tinh dầu làm tăng huyết áp, thành phần không tinh dầu làm hạ huyết áp. Nước sắc và dạng chiết bằng ether của đương quy có tác dụng gây trấn tĩnh. Đương quy cho vào thức ăn của chuột với tỷ lệ 5 – 6% có tác dụng phục hồi đối với những chuột đực mà tinh hoàn bị thoái hoá do thiếu vitamin E. Đương quy chứa vitamin B12 và acid folic, nên có tác dụng chống thiếu máu ác tính. Thử với phương pháp hệ nồng độ cho thấy đương quy có tác dụng ức chế trực khuẩn dịch hạch ở nồng độ 1:160 và Shigella shigae ở nồng độ 1:80. Các trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, phẩy khuẩn tả cũng bị ức chế ở nồng độ 1:80. Nồng độ 1:120 ức chế phế cầu khuẩn.
Cao nước đương quy có tác dụng ức chế sự ngưng tập tiểu cầu chuột cống trắng trong ống nghiệm cũng như khi tiêm tĩnh mạch cho chuột, và ức chế sự giải phóng serotonin từ tiểu cầu chuột cống gây bởi thrombin.
Hiệu quả của đương quy trong điều trị huyết khối não và viêm tắc tĩnh mạch huyết khối có thể có liên quan với tác dụng ức chế sự ngưng tập tiểu cầu và giải phóng serotonin từ tiểu cầu.
Một bài thuốc gồm đương quy, sinh địa, hà thủ ô đỏ, quả ích mẫu được thông báo có tác dụng kích thích nang trứng.
Nhiều nghiên cứu cơ bản đã chứng minh có mối liên quan giữa công năng tăng cường tuần hoàn não và điều trị ứ trệ máu của đương quy theo y học cổ truyền với việc điều trị những bệnh chẩn đoán theo tây y như bệnh tim mạch, bệnh viêm mạch tạo huyết khối nghẽn, và nghẽn mạch não. Đương quy (cao cồn) có hoạt tính chống loạn nhịp; đương quy làm tăng hoạt tính thực bào của đại thực bào trên thực nghiệm.
Một thành phần chủ yếu khác (ligustilide) phân lập từ rễ đương quy Trung Quốc có tác dụng chống hen và chống co thắt rõ rệt. Ligustilide tiêm phúc mạc ức chế phản ứng hen gây bởi acetylcholin và histamin trên chuột lang. Ligustilide có tác dụng chống co thắt trên khí quản cô lập chuột lang được gây co thắt bởi acetylcholin, histamin hoặc bari clorid, và gây giãn khí quản không co thắt.
Đã chứng minh phthalide là thành phần chống hen chính của những dẫn chất phthalide của đương quy Trung Quốc. Tác dụng gây giãn cơ trơn của các phthalide không liên quan với các thụ thể β-adrenergic và không bị ảnh hưởng bởi kích thích giải phóng chất trung gian từ hệ thần kinh giao cảm. Các phthalide có tác dụng ức chế mạnh co thắt cơ khí quản gây bởi acetylcholin và histamin, những tác dụng này không liên quan với các thụ thể đáp ứng với histamin và acetylcholin. Phthalide có hoạt tính đối kháng nhanh và mạnh đối với tác dụng của bari clorid gây co cơ trơn khí quản, gợi ý rằng phthalide gây giãn cơ trơn khí quản do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn.
Đương quy Nhật Bản có tác dụng gây trấn tĩnh, kéo dài thời gian ngủ gây bởi thuốc ngủ; giảm đau đối với cơn quặn đau gây bằng tiêm màng bụng acid acetic; giải nhiệt, chống viêm, làm giảm khả năng đông máu; điều kinh, nhuận tràng; và kích thích miễn dịch, gây hoạt hoá lympho bào B và T, làm tăng sản sinh kháng thể. Những phân đoạn polysaccharide từ đương quy Trung Quốc và đương quy Nhật Bản được nghiên cứu về tác dụng chống bổ thể, hoạt tính sản sinh interferon và hoạt tính tạo phân bào. Phân đoạn polysaccharide của rễ đương quy Nhật Bản có những tác dụng nêu trên mạnh nhất; phân đoạn polysaccharide của rễ đương quy Trung Quốc có hoạt tính kém hơn, trừ hoạt tính sản sinh interferon. Những phân đoạn polysaccharide có hoạt tính mạnh hơn chứa lượng arabinose nhiều hơn; những phân đoạn polysaccharide có hoạt tính thấp hơn chứa lượng arabinose ít hơn.
Một bài thuốc cổ truyền Trung Quốc gồm 10 vị được dùng cho bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục sau khi phẫu thuật, hoặc có bệnh mạn tính để điều trị thể trạng suy yếu. Hai vị trong bài thuốc này là đương quy Nhật Bản và nhân sâm, được thử nghiệm dưới dạng cao chiết với nước nóng, đã thể hiện hoạt tính điều hoà miễn dịch.

Cây đương quy có tác dụng gì ?
Đương quy có vị ngọt hơi đắng, hơi cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, thông kinh, dưỡng gân, tiêu sưng, nhuận tràng.
Đương quy là một vị thuốc dùng rất phổ biến trong đông y, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời được chỉ định trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh như thuốc chữa thiếu máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, suy tim, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đại tiện táo bón, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ứ huyết, kinh nguyệt không đều, đau kinh, bế kinh (uống trước khi thấy kinh 7 ngày). Ngày uống 10 – 20g, dạng thuốc sắc hoặc rượu thuốc.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản, đương quy được dùng điều trị kinh nguyệt không đều, huyết ứ trệ, đau kinh, bế kinh, sa tử cung, chảy máu, phong thấp, mụn nhọt, táo bón, hói đầu, thiếu máu, lao phổi, tăng huyết áp, ung thư và làm thuốc giảm đau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm. Phụ nữ uống nước sắc đương quy vài ngày trước cho tới khi đẻ sẽ dễ đẻ, làm giảm đau khi đẻ.
Bài thuốc có đương quy
1. Chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, sau khi đẻ máu hôi chảy mãi không hết (Tứ vật thang):
- Đương quy 16g, thục địa 12g, bạch thược 8g, xuyên khung 6g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
- Đương quy 20g, bạch thược 20g, thục địa 10g, xuyên khung 15g.
Đối với phụ nữ sau khi đẻ xong bị bệnh nhiều, có thể dùng bài Tứ vật nói trên, thêm hắc can khương, đậu đen, trạch lan, ngưu tất, ích mẫu, bồ hoàng.
2. Chữa các chứng uất, ngoại cảm, phụ nữ can uất, nóng rét không khỏi (Bát vị tiêu giao tán):
Đương quy, bạch truật, bạch thược, bạch linh, sài hồ, bạc hà, chích thảo, mỗi vị 4g, đơn bì 2,8g, chi tử 2,8g. Sắc uống trong ngày.
3. Chữa phụ nữ rong kinh, rong huyết, có thai ra máu hoặc sảy thai ra máu không dứt (Giao ngải thang):
Đương quy 12g, sinh địa 12g, bạch thược 16g, xuyên khung 8g, a giao 8g, cam thảo 8g, ngải diệp 8g. Sắc uống.
4. Chữa ngoại cảm trong lạnh ngoài nóng, sợ rét, không khát, chân tay lạnh, ỉa chảy ra phân sống (Ngũ tích tán):
Đương quy, nhục quế, bạch linh, bạch chỉ, xuyên khung, bạch thược, cam thảo, mỗi vị 12g, bán hạ 8g, cát cánh 6g, thương truật 3g, trần bì 3g, can khương 2g, hậu phác 1,6g. Sắc uống.
5. Chữa huyết nhiệt, táo bón (Nhuận táo thang):
Đương quy, thục địa, đại hoàng, cam thảo, đào nhân, mỗi vị 4g, sinh địa 3g, thăng ma 3g, hồng hoa 1g. Sắc uống.
6. Chữa rụng lợi, môi miệng sưng đau, chảy máu (Thanh vị tán):
Đương quy, sinh địa, mỗi vị 1,6g, thăng ma 2g, hoàng liên 1,2g, mẫu đơn 1,2g, thêm thạch cao, nếu đau nhiều. Sắc uống.
7. Thống tăng phương, chữa ra mồ hôi trộm, đêm mất ngủ, ăn ít, hơi thở ngắn:
Đương quy (rửa rượu) 20g, thục địa (nướng) 12g, liên nhục (sao) 12g, bạch thược (sao mật) 12g, nhân sâm (sao) 6g, phục thần 6g, đơn sâm (rửa rượu) 4g, mẫu đơn (sao rượu) 4g, a giao (sao phồng) 4g, cao quy bản 10g, ngũ vị (sao mật) 15 hạt. Sắc uống.
8. Bình can khi hoà can huyết thang, chữa đau nhói hông sườn, khó trở mình và phong nhiệt úng bế, trên đầu xây xẩm, đau mắt, chảy nước mắt:
Đương quy, thục địa, bạch thược, mỗi vị 8g, sinh địa 12g, đan sâm 6g, sài hồ 6g, sơn thù 4g, táo nhân (sống) 4g, ngô thù (tẩm hoàng liên sao) 4g, đơn bì (tẩm rượu) 4g, quế mỏng 2,8g. Sắc uống.
9. Hoà can ôn thận thang, chữa đau sưng tinh hoàn và rút gân:
Đương quy 12g, bạch thược 10g, đơn bì 4g, sài hồ 4g, chi tử (sao đen) 4g, độc hoạt 4g, bạch truật (sao mật) 4g, xuyên khung 3,2g, ô dược (sao) 2g, ngô thù (sao mật rượu) 2,8g, quất hạch (bỏ vỏ sao) 2,8g, tiểu hồi 1,2g. Sắc uống.
10. Hậu thiên lục vị phương, chữa gầy yếu, sốt về chiều, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, thiếu máu:
Đương quy 20g, thục địa 40g, nhân sâm 12g, đan sâm 8g, viễn chí 4g, táo nhân (sao đen) 4g, táo, gừng sống. Sắc uống.
12. Lương huyết tán tà phương, chữa cảm mạo, sốt cao, nhức đầu, đau mình, khát nước, tiểu tiện đỏ, hoặc sốt nóng đã lâu mà không khỏi:
Đương quy 8g, sinh địa 12g, bạch thược 6g, xuyên khung 4g, đan sâm 4g, mẫu đơn 4g, huyền sâm 4g, sài hồ 4g, bạc hà 3.2g, chích thảo 2g, gừng nướng 3 lát. Sắc uống.
13. Gia vị tứ vật thang, chữa đại tiện táo kết để hạ nhiệt, dùng cho người huyết hư gầy khô:
Đương quy 40g, sinh địa 20g, bạch thược 12g, xuyên khung 8g, (nóng nhiều thì giảm đi), đại hoàng (tẩm rượu) 4g, chỉ xác 4g. Sắc uống.
14. Bổ tỳ âm phương, thuốc bổ tỳ vị chữa bệnh suy yếu:
Đương quy 40g, thục địa 12g, bạch truật (tẩm sữa sao) 8g, nhục thung dung (tẩm rượu nướng) 4g, ngưu tất 2g. Sắc uống.
15. Dưỡng huyết tán tà thang, chữa cảm hàn hoặc phụ nữ bị cảm trong khi có kinh hay sau khi đẻ:
Đương quy 8g, bạch thược 6g, trần bì 12g, sài hồ 12g, cam thảo 4g, gừng 3 lát. Sắc uống.
16. Song bổ tán tà thang, chữa sốt rét cơn đã lâu mà bị cảm:
Đương quy, bạch truật, mỗi vị 8g, bạch thược 6g, chích thảo 4g, sài hồ 8 – 12g. Sắc uống.
17. Trợ âm tán tà thang, chữa sốt đau mình, nhức đầu, mặt đỏ, lưỡi khô mà không khát nước, mình nóng mà ưa ấm:
Đương quy 12g, thục địa 20g, chích thảo 8g, can khương 8g, nhục quế 8 – 12g. Sắc uống.
18. Phù dương tán tà thang, chữa cảm hàn, mình tuy nóng nhưng rất sợ rét, nôn mửa, chân tay lạnh:
Đương quy (ỉa lỏng thì thay hoài sơn), ma hoàng, mỗi vị 12g, nhân sâm 8g, thục địa 20g, bạch truật 20g, chích thảo 4g, sài hồ 16g, nhục quế 8g, can khương 8g, gừng sống 3 lát. Sắc uống.
19. Ma quế thang chữa bệnh sốt sợ rét, nhức đầu đau mình, không ra mồ hôi:
Đương quy, chích thảo, mỗi vị 8g, ma hoàng 8 – 12g, quan quế 12g, trần bì 4g, gừng sống 3 lát. Sắc uống.
20. Tán kết cứu tạng thang, chữa đau rát ở bụng dưới xung quanh rốn kéo lên hông:
Đương quy, nhân sâm, cam thảo, phụ tử chế, mỗi vị 40g, bạch truật 20g, nhục quế 2g. Sắc uống.
21. Vinh dưỡng tâm can phương, chữa trẻ em cảm mạo phát sốt, lở ngứa, mình đỏ, sưng thóp, cứng đầu co cứng, đơn sưng, đơn chảy, ra máu (gia giảm theo chứng):
Đương quy, sa sâm, mỗi vị 4g, sinh địa 8g, bạch thược 3,2g, xuyên khung 1,6g, tiêu khương 1,2g, cỏ bấc 10 sợi. Sắc uống.
22. Hoà huyết khai uất phương chữa phụ nữ đau xóc hông sườn, tay chân lạnh:
Đương quy, xuyên khung, mỗi vị 12g, hương phụ 6g, thanh bì 4g, long đởm thảo 4g, chỉ xác 4g, chích thảo 4g, tân lang 2g, tiêu khương 2g, phụ tử chế 1,2g, mài thêm trầm hương vào thuốc mà uống.
23. Nhuận cơ cao, chữa bỏng và lở loét chảy mủ, sẽ bớt đau và sinh da:
Đương quy, hoàng kỳ, mỗi vị 80g, hoàng đơn 40g, sáp ong 60g, dầu vừng 16g. Dán ngoài.
24. Đương quy kiến trung thang, thuốc bổ máu, dùng cho phụ nữ bị thiếu máu sau khi đẻ:
Đương quy 8g, quế chi, sinh khương, đại táo, mỗi vị 6g, bạch thược 10g, đường phèn 50g, nước 600ml. Sắc lấy 200ml, thêm đường, chia làm 3 lần uống trong ngày.
25. Dưỡng não hoàn, chữa mất ngủ, nhức đầu, ngủ hay mê:
Đương quy 100g, viễn chí 40g, xương bồ 40g, táo nhân 60g, ngũ vị 60g, khởi tử 80g, đởm tinh 40g, thiên trúc hoàng 40g, long cốt 40g, ích trí nhân 60g, hổ phách 40g, nhục thung dung 80g, bá tử nhân 60g, chu sa 40g, hồ đào nhục 80g. Tất cả tán thành bột, thêm mật ong vào, làm viên 4g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên. Uống trong 15 ngày liền.
26. Chữa chảy máu cam không ngừng:
Đương quy sao khô tán nhỏ, mỗi ngày dùng 2 – 3 lần, mỗi lần 4g. Dùng nước cháo chiêu thuốc.
27. Chữa thiếu máu, xanh xao, kinh nguyệt không đều:
Đương quy, thục địa, mỗi vị 12g. Sắc uống.
28. Chữa viêm quanh khớp vai, vai và cánh tay đau nhức không giơ tay lên được:
Đương quy 12g, ngưu tất 10g, nghệ 8g. Sắc uống. Kết hợp với luyện tập hàng ngày giơ tay cao lên dần.
29. Điều trị sa sinh dục:
Đương quy 10g, dáng sâm 12g, bạch truật 10g, sài hồ 8g, thăng ma 12g, trần bì 6g, tục đoạn 10g, quất hạch 10g, cam thảo 4g. Sắc uống mỗi ngày một thang.
30. Chữa tăng huyết áp và các triệu chứng như tim đập nhanh, ra mồ hôi, ứ trệ máu ở các mạch ngoại vi, nước da xanh tím, tê các ngón tay, ngón chân:
Đương quy 31g, ngưu tất 25g, sinh địa 31g, mạch môn 31g, tri mẫu 10g, long đởm 31g, lô hội 15,5g, vân mộc hương 6g, xa hương 1,5g, chỉ tử 31g, hoàng liên 31g, hoàng cầm 31g, hoàng bá 31g, đại hoàng 15,5g, hà thủ ô đỏ 15,5g, thạch cao 31g. Tán bột, cho thêm mật ong làm thành viên 0,5g. Uống mỗi lần 4 viên, ngày 3 lần. Nên ăn thức ăn có gừng.
31. Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh thận:
Đương quy 10g, vỏ trai 15,5g, sinh địa 10g, đảng sâm 10g, trắc bách (hạt) 15,5g, táo chua (quả) 15,5g, phục linh 15,5g, vân mộc hương 6g, hoàng liên 3g. Cho 800ml, sắc còn 300ml. Chia 3 lần uống trong ngày.
32. Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có giãn tim, chóng mặt, khó thở, ra mồ hôi, có triệu chứng ứ trệ máu:
Đương quy 10g, sinh địa 10g, phục linh 6g, thạch xương bồ 6g, ngũ vị tử 10g, mạch môn 15g, táo chua (quả) 10g, chỉ tử 3g, huyền sâm 10g, cúc hoa 6g, hà thủ ô đỏ 15g, cam thảo 6g, dáng sâm 6g. Sắc với 800ml nước, còn 300ml. Uống làm một lần trong ngày.
33. Chữa xuất huyết não do xơ cứng mạch máu kèm theo liệt nửa người và mất tiếng hoàn toàn hay không hoàn toàn:
Đương quy 6g, hoàng kỳ 15,5g, long đởm thảo 10g, sinh địa 15,5g, bạch thược 6g, hạt mơ 10g, hồng hoa 3g, cát cánh 3g, cam thảo 3g, phòng phong 3g. Sắc, chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong 2 – 3 tháng.
34. Chữa suy nhược tâm thần với những hiện tượng tim đập nhanh, thở hổn hển:
Đương quy 1.562g, hoàng liên 781g, sinh địa 1.562g, thuỷ xương bồ 781g, nhân sâm 781g, táo chua (hạt) 1.562g, huyền sâm 781g, phục linh 781g, đan sâm 781g, cát cánh 781g, viễn chí 781g, ngũ vị tử 1.562g, thiên môn đông 1.562g, cam thảo 781g, mạch môn 1.562g. Tổng cộng: 16.401g. Tán bột và làm thành viên hoàn, mỗi viên nặng 9,375g. Mỗi lần uống 1 viên, ngày 2 lần, với nước nóng.
35. Chữa suy nhược tâm thần:
Đương quy, nhân sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo, viễn chí, xà sàng, phụ tử chế, mỗi vị 6g, toan táo nhân 9g, khởi tử 9g, bạch chỉ 9g. Sắc, chia 3 lần uống trong ngày.
36. Chữa suy nhược tâm thần với các triệu chứng chóng mặt, mệt lả, mất trí nhớ, mất ngủ:
Đương quy 20g, xuyên khung 10g, viễn chí 15g, phục linh 20g, sinh địa 20g, tục tuỳ tử (quả) 15g, mạch môn 15g, khởi tử 20g, cúc hoa 20g, hoàng bá 10g, nhân sâm 10g, toan táo nhân 25g, bạch truật 15g. Sắc, chia 2 lần uống trong ngày.
37. Chữa suy nhược tâm thần với các biểu hiện trầm cảm và mệt mỏi nhiều:
Đương quy 25g, nhân sâm 5g, bạch thược 15g, bạch truật 15g, phục linh 15g, hoàng kỳ 25g, vân mộc hương 5g, cam thảo 7,5g, tục tuỳ tử (quả) 50g, toan táo nhân 20g, viễn chí 7,5g, ngũ vị tử 5g. Sắc, chia 2 lần uống trong ngày.
38. Chữa suy nhược thần kinh với các triệu chứng mất ngủ, chóng mặt, nhức đầu:
Đương quy, mạch môn, khởi tử, sinh địa, mỗi vị 50g, phục linh 25g, viễn chí 20g, toan táo nhân 100g, hạt sen 25g, nhân sâm 20g, huyền sâm 25g, ngũ vị tử 25g, địa liền 20g. Tán bột, trộn với mật ong, làm thành viên hoàn, mỗi viên 15g. Mỗi lần uống 1 viên, ngày 2 lần, với nước nóng.
39. Chữa các bệnh trùng roi:
Đương quy 10g, bạch thược 6g, xích thược 6g, dồ trọng 10g, sinh địa 10g, trần bì 3g, hoạt thạch 12g, bối mẫu12g, xuyên khung 6g. Ngâm trong 500ml rượu 40 độ trong 7 ngày. Mỗi lần uống 20ml, ngày 2 lần.
40. Chữa bệnh cứng bì:
Đương quy 3g, dây đau xương 3g, hoàng kỳ 3g, tần cửu 3g, đào nhân 3g, hồng hoa 3g, bạch truật 3g. Sắc với 400ml nước trong 30 phút, chia uống làm 3 lần trong ngày.
41. Chữa bệnh bạch biến:
Đương quy 10g, sinh địa 16g, tri mẫu 10g, xuyên khung 10g, bạch thược 10g, hậu phác 10g, trần bì 6g. Khi có chứng bạc tóc, bạc râu, gia thêm hà thủ ô đỏ 9g, đảng sâm 12g. Tán bột, làm thành viên 0,6g, mỗi lần uống 15 viên, ngày 3 lần.
42. Chữa lao phổi:
Đương quy, sinh địa, nhân sâm, phục linh, bạch thược, dầu hạt mơ, quả táo chua, cam thảo, mỗi vị đều 1g, ngũ vị tử 5g. Sắc và chia 2 lần uống trong ngày.
43. Chữa thiếu máu:
Đương quy 9g, bạch thược 6g, sinh địa 9g, xuyên khung 5g. Sắc với 400ml nước trong 15 phút. Mỗi lần uống 150ml, ngày 2 lần.
44. Chữa thiếu máu với các triệu chứng giảm trí nhớ, mất ngủ, bệnh về niêm mạc:
Đương quy 50g, nhân sâm 25g, phục linh 25g, huyền sâm 25g, cát cánh 25g, viễn chí 25g, sinh địa 200g, ngũ vị tử 50g, mạch môn 50g, thiên môn đông 50g, đan sâm 50g, toan táo nhân 50g, trắc bách (hạt) 50g. Tán nhỏ, trộn với mật ong, làm thành viên hoàn 15g. Mỗi lần uống 1 viên, ngày 2 lần.
45. Chữa ung thư các cơ quan đường tiêu hoá, ung thư vú, ung thư tử cung trong giai đoạn đầu của bệnh:
Đương quy 10g, bạch thược 10g, vân mộc hương 3,3g, phụ tử chế 16,5g, đinh hương 3,3g, gừng 10g. Lượng phụ tử chế nêu trên được đun sôi riêng với nước trong 2 giờ (bỏ phụ tử vào nước đã sôi và đun sôi tiếp). Nước sắc thu được, cho thêm nước sôi để được 300ml và cho những dược liệu còn lại vào. Đun sôi thêm 30 phút. Sau đó lọc qua rây. Không được dùng dụng cụ bằng kim khí và đồ sành sứ. Uống mỗi lần 100ml nước sắc, mỗi ngày 3 lần. Trước và sau khi uống thuốc 3 giờ, không được ăn trứng gà, thức ăn chua và lạnh, không uống những thức uống lạnh. Trong thời kỳ điều trị, theo dõi bệnh nhân cẩn thận để tránh bị những bệnh do cảm lạnh.
Cây mắt quỷ có đáng sợ như tên gọi
Kỹ thuật trồng dược liệu đương quy từ hạt
Đương quy (Angelica spp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đương quy được gieo trồng từ hạt. Hạt giống cần được sản xuất ở vùng núi cao, thu từ cành cấp 1 và 2 của cây 2 năm tuổi, lúc có màu xanh chuyển sang màu vàng sẫm. Hạt được phơi hoặc sấy ở nhiệt độ 40 – 45oC tới độ ẩm 5 – 7% và bảo quản trong bao bì kín ở nhiệt độ 10 – 25oC, có thể giữ được 6 tháng. Nếu trồng bằng hạt giống của cây 1 năm tuổi, cây sẽ ra hoa sớm ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng rễ củ.
Hạt đương quy có thể gieo thẳng, gieo trong vườn ươm hoặc gieo trong bầu. Gieo trong bầu có nhiều ưu điểm hơn cả. Đất gieo hạt cần được chuẩn bị kỹ. Hạt được ngâm trước một đêm, vớt ra để ráo, trộn với cát hoặc đất bột để gieo cho đều. Mỗi sào vườn ươm (360m2) có thể gieo 1 kg hạt, gieo thẳng cần 200g, gieo bầu mỗi bầu 5 – 7 hạt. Gieo xong phủ rơm, rạ, cỏ khô và tưới nước hàng ngày. Ở nhiệt độ 18 – 23oC, đủ ẩm, hạt bắt đầu nảy mầm sau 12 – 15 ngày, và mọc rộ sau 20 – 21 ngày. Thời vụ gieo hạt kéo dài từ 25/9 đến 10/10. Hạt tốt có thể nảy mầm 65 – 75%.
Khi cây con có 4 – 5 lá thật, tiến hành tỉa định cây, khoảng cách trồng đương quy thường là 20 x 15 hoặc 20 x 20 cm. Khi tỉa cây ở vườn ươm, người ta thường giữ lại cây với khoảng cách như trên để thu dược liệu. Ruộng gieo thẳng cần được bón phân lót rồi mới gieo theo rạch (cách nhau 20cm) hoặc gieo vãi. Gieo bầu, mỗi bầu chỉ để lại một cây. Cây tỉa ra được đem đi trồng ở ruộng khác.
Đất trồng đương quy tốt nhất là đất trồng màu, đất ruộng cao, nhiều mùn, tơi xốp và rãi nắng. Đất cần làm tơi nhỏ, để ải, lên luống cao 30 – 35 cm, mặt luống rộng 60 – 70 cm. Mỗi hecta bón lót 25 – 30 tấn phân chuồng hoai và 300 – 500 kg supe lân. Phân có thể trộn đều với đất hoặc vùi cách mặt luống 10 – 15cm.
Sau khi trồng, cần thường xuyên giữ ẩm và làm cỏ kịp thời. Cứ 20 – 25 ngày lại bón thức một lần, ngừng trước khi thu hoạch từ 1 đến 1,5 tháng. Mỗi hecta bón thúc 450 – 550 kg urê, 250 – 300 kg kali, chia đều làm 7 – 8 lần để tưới. Ngoài ra, có thể dùng tro, nước phân, nước giải pha loãng, liều lượng không hạn chế.
Đương quy ít bị sâu bệnh, trừ rệp và các loại sâu ăn lá. Khi củ lớn, cần chú ý chống úng, thoát nước tránh thối củ. Ở đồng bằng, sau 8 – 9 tháng tuổi, ở miền núi sau 11 – 12 tháng tuổi, có thể thu hoạch củ đương quy. Một hecta có thể đạt được 2 – 2,5 tấn củ khô. Nếu thu hạt giống, cần để 2 năm. Sau khi thu hạt, củ vẫn có thể được tận dụng để làm thuốc.
Rễ đương quy trồng được 3 tuổi, đào vào mùa thu, cắt bỏ rễ con, bó thành bó nhỏ, xếp lên giá, đốt xông nóng (không được đốt trực tiếp), cho đến khi dược liệu có màu đỏ tươi hay màu vàng kim tuyến, rồi sấy than. Theo kinh nghiệm nhân dân Trung Quốc, không phơi chỗ râm mát (đương quy có màu xanh) và cũng không phơi nắng (mất tinh dầu).
Đương quy được phân thành nhiều loại: quy đầu gồm phần đầu của rễ chính, đường kính 1,5 – 4 cm, đầu tù và tròn, còn mang vết tích của lá; quy thân là rễ đã loại bỏ phần đầu và đuôi; quy vĩ là phần rễ phụ hay rễ nhánh, đường kính 0,3 – 1 cm và toàn quy gồm cả rễ cái và rễ phụ.
Rễ to, thịt chắc, dẻo màu trắng hồng, nhiều tinh dầu, có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt sau cay, là loại tốt.
Tham khảo thêm sản phẩm cây lá gai tại shop
Mua cây giống đương quy ở đâu uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống đương quy phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








