Bộ sưu tập











Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Đơn tướng quân hay châm chụm ba (danh pháp khoa học là Syzygium formosum (Wall.) Mason; đồng nghĩa: Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb.) Duthie) là loài thực vật có hoa thuộc họ Sim Myrtaceae.
Chú ý: Tránh nhầm lẫn với cây đơn lá đỏ (Excoeccaria cochinchinensis Lour.) thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae do cây này cũng thường được gọi với cái tên là đơn tướng quân ở một số nơi tuy nhiên mặt dưới lá màu tía đỏ và mép lá răng cưa.
Mô tả cây đơn tướng quân
Đơn tướng quân – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây to cao 5 – 7m hay hơn. Phân cành nhiều, vỏ cành mềm, có màu tro, cộng thêm sẹo của những lá đã rụng. Cành nhỏ hơi dẹt, có khi 3 cạnh. Lá đơn tướng quân mọc đối, đôi khi từng ba lá một, riêng ở đầu cành lá mọc sít với nhau. Phiến lá dài khoảng 20 – 30cm, rộng 8 – 12cm, phía cuống hẹp lại, đầu lá tù, phần cuống rất to và ngắn. Cụm hoa tận cùng hay ngang ở trên thân, rộng 10cm, cao 7cm trục phụ đệ nhị và đệ tam 5 – 15mm. Hoa to, màu tía đỏ, nụ hoa hình lê. Quả mọng to kích thước bằng hạt dẻ hay quả táo hình cầu, thõng xuống, trên có thùy của đài và vòi. Số lượng hạt 2.
Đơn tướng quân (Syzygium sp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây to, cao 10m hay hơn. Thân cành phân nhánh nhiều, vỏ mềm màu xám, có những vết sẹo do lá rụng để lại, cành non hơi có cạnh. Lá to, mọc đối, thường mọc vòng 3, rất sát nhau ở ngọn, phiến dai gần như không cuống, dài 20 – 30 cm, rộng 8 – 12 cm, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn. Cụm hoa mọc ở cành già, lá đã rụng; hoa to màu đỏ tía; đài có 4 răng tròn; tràng 4 – 5 cánh hình mắt chim; nhị có bao phấn thuôn; bầu hơi cong. Quả hình cầu, có đài tồn tại; hạt 2, màu lục nhạt. Mùa hoa: tháng 4 – 5; mùa quả: tháng 6 – 7.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Đơn tướng quân – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Đơn tướng quân mọc hoang phần lớn ở Phú Thọ (Chân Mộng), Hà Tây (Ba Vì), Bắc Kạn. Tại Hà Nội chủ yếu được trồng ở làng Đại Yên để dùng làm thuốc. Ngoài ra còn thấy ở miền Nam, Campuchia, Ấn Độ, Miến Điện.
Khi thu hái thường hái lá bánh tẻ. Dùng tươi, nhưng có thể phơi hay sấy khô cũng được.
Đơn tướng quân (Syzygium sp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trên thế giới, đơn tướng quân phân bố tập trung ở vùng Ấn Độ – Malaysia, sau đến Thái Lan, Campuchia, Myanmar và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên rải rác ở các tỉnh vùng núi thấp (dưới 1000m) như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Dương … Cây còn được trồng rải rác trong nhân dân để làm thuốc.
Đơn tướng quân là cây gỗ thường xanh, ưa sáng, thường mọc ở ven rừng ẩm, dọc theo các bờ khe suối. Khi còn nhỏ, cây ưa bóng. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên tốt. Ở vườn thuốc của Trạm nghiên cứu dược liệu Hải Dương, có cây đơn tướng quân trồng được 30 năm tuổi. Xung quanh gốc cây mẹ có rất nhiều cây con mọc từ hạt. Sau 2 năm cây có thể cao tới 2 m. Cây trồng từ hạt sau 5 – 6 năm bắt đầu có hoa.
2. Thành phần hóa học
Đơn tướng quân – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Sơ bộ thấy có tinh dầu (chừng khoảng 2 – 3%), một ít tanin. Hoạt chất khác chưa xác định rõ.
3. Tác dụng dược lý
Đơn tướng quân – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Năm 1968, Giáo sư Nguyễn Đức Minh (trực thuộc Phòng đông y thực nghiệm Viện nghiên cứu Đông y; Y học thực hành 1968 – số 152) đã thăm dò tính chất kháng sinh của đơn tướng quân đối với tự cầu khuẩn vàng và trực khuẩn Coli và đưa tới kết luận rằng: Vỏ và rễ cây không có tính chất kháng sinh. Những lá tươi già hoặc non, lá úa, lá rụng và nụ đều có tính kháng sinh mạnh, đặc biệt là nụ. Mùa đông kháng sinh sẽ tập trung nhiều ở lá. So sánh tính kháng sinh của lá tươi, lá phơi khô trong râm, ngoài nắng, sấy khô ở 70o, chưng cách thủy ở 100oC trong nửa giờ, thì thấy tính kháng sinh của lá đơn tướng quân không bị phá hủy trong điều kiện nhiệt độ cao.
Các tác giả còn thử chiết hoạt chất bằng các dung môi khác nhau cụ thể như ete etylic, ete dầu hỏa, cồn 90o, cồn tuyệt đối, benzen, chloroform, acetone, nước cốt lá, nước sắc 100oC trong 1 giờ (1g lá khô/1ml) dầu lạc, dầu ve, mỡ lợn. Cuối cùng đã đi tới kết luận là hoạt chất trong đơn tướng quân tan trong nước và hầu hết trong các dung môi hữu cơ thông thường, nhanh nhất là ete dầu hỏa. Vững bền ở một môi trường có pH từ 2 – 9.
Tác dụng kháng sinh mạnh đối với những vi trùng Gram+, nhưng không tác dụng đối với vi trùng Gram-.
Đơn tướng quân (Syzygium sp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tác dụng kháng khuẩn: Đã thử trên Staphylococcus aureus và Escherichia coli, thấy:
– Vỏ thân và rễ cây không có tác dụng kháng khuẩn.
– Lá non hoặc lá già, lá úa, lá rụng, lá tươi hoặc khô, chiết bằng cách sắc với nước đều có tác dụng.
– Chất chiết từ lá bằng các dung môi khác nhau như ether ethylic, ether dầu hoả, cồn 90o, benzene, chloroform, aceton, các loại dầu động hoặc thực vật, đều có tác dụng kháng khuẩn. Hoạt chất bền vững trong một phạm vi pH rất rộng từ 2 đến 9.
Đã thử trên nhiều loại vi khuẩn khác, thấy đơn tướng quân có tác dụng tốt trên vi khuẩn gram dương, ít tác dụng trên vi khuẩn gram âm.
Tác dụng ức chế sốc phản vệ: Tiêm lòng trắng trứng cho chuột lang. Sau 3 tuần, phun sương dung dịch lòng trắng trứng 5%, chuột sẽ ngạt thở gây co giật và chết 100%, thời gian từ khi chuột tiếp xúc với mù sương lòng trắng trứng đến khi co giật và chết là 174 giây. Ở lô dùng cao lá đơn tướng quân, tỉ lệ chuột chết chỉ có 50%, những con chết có thời gian tiếp xúc trước khi chết kéo dài gần gấp 2 lần.
Tác dụng ức chế phản ứng quá mẫn trên da: Gây miễn dịch cho chuột lang bằng cách tiêm lòng trắng trứng. Sau một thời gian, gây phản ứng quá mẫn trên da bằng cách cạo lông và tiêm lòng trắng trứng dưới da chuột. Tiêm tĩnh mạch chuột dung dịch xanh Evans. Chỗ da tiêm lòng trắng trứng xảy ra phản ứng quá mẫn sẽ có màu xanh đậm. Những chuột dùng đơn tướng quân ức chế phản ứng quá mẫn nên màu xanh sẽ nhạt hơn.
Tác dụng chống viêm cấp: Đã thử trên các mô hình gây phù chân chuột bằng formalin, dextran và cao lanh, thấy đơn tướng quân có tác dụng chống viêm cấp mức độ trung bình.
Tác dụng chống viêm mạn tính: Thử trên mô hình gây u hạt thực nghiệm, thấy đơn tướng quân có tác dụng yếu.
Cùng danh mục – Cây đương quy chữa bách bệnh
Tác dụng của cây thuốc đơn tướng quân
Đơn tướng quân có vị hơi chát, có tác dụng giải độc, tiêu viêm.
Đơn tướng quân chữa nhọc độc, sưng tấy, mẩn ngứa, mày đay, dị ứng Ngày dùng 100 g lá tươi sắc uống, dùng riêng hoặc phối hợp với các loại đơn khác như đơn châu chấu, đơn kim, đơn đỏ. Còn chữa viêm họng, viêm phế quan cấp và mạn, viêm bàng quang. Dùng ngoài, nấu nước tắm trị mẩn ngứa, ghẻ.
Bài thuốc có đơn tướng quân:
Chữa dị ứng, mày đay, mẩn ngứa. Đơn tướng quân, tầm phỏng, mỗi vị 100 g dùng tươi sắc uống và xông, hoặc nấu nước tắm khi nước còn ấm.
Chữa viêm họng đỏ, viêm phế quản cấp và mạn tính: Lá đơn tướng quân nấu cao đặc, trộn với bột nếp và mật ong, làm thành viên. Ngày 10 – 20 g, uống hoặc ngậm nếu là viêm họng.
Địa chỉ bán cây đơn tướng quân giá rẻ uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây đơn tướng quân phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Đơn tướng quân – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Đơn tướng quân (Syzygium sp.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Luận văn Thạc sĩ Hóa học. “Bước đầu nghiên cứu thành phần hoá học của lá cây đơn tướng quân (Syzygium formosum Wall.), họ Myrtaceae ở Thái Nguyên” của Nông Thị Liễu (2009); chuyên ngành: Hóa hữu cơ; mã số luận văn: 60.44.27.
Xem thêm sản phẩm lá đinh lăng khô tại shop













