Bộ sưu tập





Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Trinh nữ hoàng cung hay náng lá rộng, tỏi lơi lá rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sĩ, hoàng cung trinh nữ (danh pháp khoa học là Crinum latifolium L.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Thủy tiên Amaryllidaceae. Loài này được L. miêu tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1753. Đây là loại cây ngày trước các Ngự y thường dùng để trị bệnh cho nữ còn trinh tiết trong hoàng cung nhưng không được vua chú ý nên mắc một số bệnh riêng của những phụ nữ sống trong cùng hoàn cảnh.
Mô tả cây trinh nữ hoàng cung
Cây trinh nữ hoàng cung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cỏ đa niên, thân hành như củ hành tây to, đường kính 10 – 15cm. Bẹ lá úp vào nhau thành một thân giả dài khoảng 10 – 15 cm. Có nhiều lá mỏng kéo dài từ 80 – 100 cm, rộng 3 – 8 cm, hai bên mép lá lượn sóng. Gân lá song song, mặt trên lá lõm thành rãnh. Mặt dưới lá có một sống lá nổi rất rõ, đầu bẹ lá nơi sát đất có màu đỏ tím. Hoa mọc thành tán gồm 6 – 18 hoa, trên một cán hoa dài 30 – 60 cm. Cánh hoa màu trắng có điểm thêm màu tím đỏ. Từ thân hành mọc rất nhiều củ con có thể tách ra để trồng riêng dễ dàng.
Cây trinh nữ hoàng cung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây cỏ lớn. Thân hành to, gần hình cầu hoặc hình trứng thuôn, đường kính 8 – 10 cm, phủ bởi những vảy hình bầu to, dày, màu trắng. Lá mọc thẳng từ thân hành, hình dài dài đến 50 cm, có khi hơn, rộng 7 – 10 cm, mép nguyên, gốc phẳng có bẹ, đầu nhọn hoặc tù, gân song song.
Cụm hoa mọc thành tán trên một cán dẹt, dài 30 – 40 cm; lá bắc rộng hình thìa dài 7 cm, màu lục, đầu nhọn; hoa màu trắng pha hồng, dài 10 – 15 cm; bao hoa gồm 6 phiến bằng nhau, hàn liền 1/3 thành ống hẹp, khi nở đầu phiến quăn lại; nhị 6; bầu hạ. Quả gần hình cầu (ít gặp). Mùa hoa quả: tháng 8 – 9.
Xem thêm sản phẩm: Xuyên tâm liên


Thông tin thêm
1. Cây trinh nữ hoàng cung mọc ở đâu ?
Cây trinh nữ hoàng cung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Nhân dân ta thường nói rằng trinh nữ hoàng cung chỉ mọc ở Thái Lan, Campuchia nhưng thực tế ở Việt Nam cây cũng có mọc từ lâu và hiện nay có thấy trồng ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam. Ở nước ta bộ phận dùng chủ yếu là lá, dùng tươi hay phơi hoặc thái nhỏ sao vàng dùng dần. Ở một số nơi khác người ta còn dùng cán hoa, thân hành của cây đem đi thái nhỏ phơi khô.
Cây trinh nữ hoàng cung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Crinum L. có khoảng 100 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới; trong đó, một số loài được trồng làm cảnh và làm thuốc tương đối phổ biến.
Cây trinh nữ hoàng cung có nguồn gốc từ Ấn Độ, hiện được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Philippin, Campuchia, Lào, Việt Nam, Ấn Độ và cả ở phía nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào, sau được trồng ở các tỉnh phía bắc.
Trinh nữ hoàng cung là cây ưa ẩm, ưa sáng hoặc có thể chịu bóng một phần, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới, với nhiệt độ trung bình từ 22 đến 27oC, lượng mưa trên 1500 mm/năm. Trinh nữ hoàng cung sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè, mỗi năm 1 cây có thể sinh ra 6 – 8 lá mới. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc có hiện tượng hơi tàn lụi vào mùa đông. Cây có khả năng đẻ nhanh khoẻ, hàng năm có thêm 3 – 5 hành con từ thân hành mẹ. Cây trồng được 3 năm sẽ tạo thành một khóm lớn, có đến 20 nhánh ở các tuổi khác nhau.
Trinh nữ hoàng cung ra hoa hàng năm, nhưng không đậu quả ở Việt Nam. Trong khi đó, ở Thái Lan, Ấn Độ…, có thể thu được hạt giống để nhân trồng.


2. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Tổng hợp của Anju Goyal cùng cộng sự (2023):
Nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của lá, hoa, thân hành và rễ Crinum latifolium cho thấy trong dịch chiết có mặt chủ yếu các alkaloid isoquinoline, cùng với các hợp chất không phải alkaloid như tannin, hợp chất phenolic, terpene, flavone, glycoside, lectin, chalcone, coumarin và một số thành phần phụ khác.
Các alkaloid được xem là thành phần hoạt tính sinh học chính của C. latifolium có tác dụng dược lý. Đã phát hiện được 7 nhóm alkaloid isoquinoline đặc trưng của họ Amaryllidaceae trong cây này, bao gồm:
- Lycorine-type alkaloid: Lycorine (1), 1-O-acetyllycorine (2), 2-epilycorine (3), pratorimine (4), pratorinine (5), pratosine (6), hippadine (7), oxoassoanine (8), 2-epipancrassidine (9).
- Homolycorine-type alkaloid: Đại diện là hippeastrine (10).
- Haemanthamine-type alkaloid: 3-epicrinamine/haemanthamine (11), crinamine (12), hamayne (13), 11-O-methylcrinamine (14), 3-O-acetylhamayne (15), dihydro-oxo-demethoxyhaemanthamine (16), delagoensine (17).
- Galanthamine-type alkaloid: Đại diện là galanthamine (18).
- Tazettine-type alkaloid: Latifaliumin A (19), latifaliumin A-N-demethyl (20), 4a-methoxyl-latifaliumin A-N-demethyl (21), 12-O-acetylated-latifaliumin A (22), 12-O-aceyled-latifaliumin A (23), latifaliumin B (24), dihydro-latifaliumin C (25).
- Crinine-type alkaloid: Crinine (26), buphanidrine (27), 6α-hydroxybuphanidrine (28), filifoline (29), ambelline (30), 11-O-acetylambelline (31), powelline (32), 6-hydroxypowelline (33), 11-O-1,2-β-epoxyambelline (34), 1β,2β-epoxyambelline (35), undulatine (36), 6α-methoxyundulatine (37), 6α-hydroxyundulatine (38), crinamidine (39), 6-hydroxycrinamidine (40), 6α-methoxycrinamidine (41), epoxy-3,7-dimethoxycrinane-11-one (42), crinum latine A (43), crinum latine B (44), undulatine N-oxide (45), crinumlatine C (46), perlolyrine (47), crinane-3α-ol (48).
- Các alkaloid khác: Augustamine (49), cherylline (50), cripowellin C (51), 4,8-dimethoxy-cripowellin C (52), 9-methoxy-cripowellin B (53), 4-methoxy-8-hydroxy-cripowellin B (54), 4,8-dimethoxy-cripowellin D (55).
Ngoài ra, từ lá, rễ và thân hành của C. latifolium cũng đã phân lập được 14 hợp chất không phải alkaloid là: Acid hydrobenzoic (1), glucan A (2), glucan B (3), lectin (4), 4-senecioyloxymethyl-6,7-dimethoxycoumarin (5), 5,6,3’-trihydroxy-7,8,4’-trimethoxyflflavone (6), 4’,7-dihydroxy-3’-methoxyflflavan (racemate) (7), 4’,7-dihydroxyflflavan (racemate) (8), 2’,4’,7-trihydroxydihydrochalcone (9), latififine (10), cycloartenol (11), lupeol (12), acid linoleic (13), acid oleanolic (14).
Trinh nữ hoàng cung chữa bệnh gì ?
Trích trong sách “Những Cây thuốc và Vị thuốc Việt Nam” của GS.TS Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Từ những năm 1989 – 1990, nhân dân ta đồn nhau tìm sử dụng lá cây trinh nữ hoàng cung tươi để chữa những trường hợp u xơ, ung thư tử cung, u xơ và ung thư tiền liệt tuyến với cách sử dụng như sau: ngày uống nước sắc của ba lá trinh nữ hoàng cung hái tươi thái nhỏ ngắn 1 – 2 cm, sao khô màu hơi vàng, uống luôn trong 7 ngày, rồi nghỉ 7 ngày, sau đó uống tiếp 7 ngày nữa, lại nghỉ 7 ngày và uống tiếp 7 ngày. Tổng cộng 3 đợt uống là 7 x 3 x 3 là 63 lá, xen kẽ 2 đợt nghỉ uống, mỗi đợt 7 ngày.
Nhiều người chỉ uống nước sắc trinh nữ hoàng cung như trên cũng thu được kết quả tốt. Nhưng có một số bệnh nhân uống thêm cùng nước sắc trinh nữ hoàng cung nước sắc một “đơn thuốc bổ thận” khi hỏi từ đầu có đơn thuốc này, thì câu trả lời không rõ ràng, nhưng vì tôi được đọc một bản chụp một tờ báo tiếng Việt ở nước ngoài gửi về (không thấy ghi tên, ngày tháng), nhiều người chỉ uống nước sắc trong đơn thuốc này không cùng uống nước sắc trinh nữ hoàng cung mà cũng khỏi cho nên tôi cứ ghi lại ở đây để mọi người cùng theo dõi: Đơn thuốc có 18 vị như sau: Chế viễn chi 8 gram, Đảng sâm 12 gram, Quảng bì 12 gram, Hắc Đỗ trọng 12 gram, Sơn thù nhục 8 gram, Phục linh 12 gram, Nhục thung dung 12 gram, Câu kỳ tử 12 gram, Bạch truật 8 gram, Liên nhục 12 gram, Thục địa 12 gram, Mẫu đơn 8 gram, Hắc táo nhân 16 gram, Trích hoàng kỳ 8 gram, Trích thảo 8 gram, Ngưu tất 12 gram, Hoài sơn 12 gram, Trạch tả 12 gram.
Ðể tiện cho người dùng cũng như tiện cho thầy thuốc theo dõi kết quả điều trị. Sau khi kiểm tra đúng các vị thuốc, chúng tôi chế thành ba dạng thuốc: trà trinh nữ hoàng cung, trà thuốc bổ thận, trà phối hợp thuốc bổ thận và trinh nữ hoàng cung. Ở những nơi khí hậu quá ẩm thấp, dạng trà khó bảo quản, chúng tôi chế thành dạng nước sắc đóng ống, cũng với ba dạng như trên.
Khi uống phối hợp nước sắc trinh nữ hoàng cung với đơn thuốc bổ thận, thi cân 10 thang thuốc bổ thận. Tuần đầu uống 4 thang thuốc bổ thận, cùng với uống 7 ngày uống nước sắc trinh nữ hoàng cung. 2 tuần sau, khi uống nước sắc thì mỗi tuần uống 3 thang thuốc bổ thận.


Cách trồng trinh nữ hoàng cung
Cây trinh nữ hoàng cung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trinh nữ hoàng cung đang được trồng ở nhiều nơi, từ miền Bắc đến miền Nam.
Cây được nhân giống bằng chân hành vào mùa xuân (tháng 2 – 3) ở miền Bắc và vào đầu mùa mưa ở miền Nam. Chọn thân hành bánh tẻ, chưa ra hoa, không sâu bệnh để làm giống. Năm đầu, cây hầu như không đẻ nhánh. Từ năm thứ hai trở đi, cây mới bắt đầu đẻ nhánh. Vì vậy, tốc độ nhân giống rất chậm, nhất là khi cần nhân một dòng đã chọn lọc. Hiện nay, đã có phương pháp nhân dòng vô tính khá nhanh bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro.
Trinh nữ hoàng cung ưa bóng, ưa ẩm (luôn luôn là 60 – 70%). Chọn loại đất thịt nhẹ hoặc trung bình, có khả năng giữ ẩm. Đất cần cày bừa kỹ, dễ ái, bón lót cho mỗi hecta 25 – 30 tấn phân chuồng, 500 kg supe lân, 300 kg sulfat kali. Trộn đều phân với đất, lên luống cao 25 – 30 cm, mặt luống rộng 0,8 m rồi trồng 2 hàng, mỗi hốc trồng 1 thân hành với khoảng cách 40 x 40 cm. Khi trồng, cần cắt bỏ bớt rễ, cắt bớt lá, vùi sâu vừa hết phần thân hành.
Thường xuyên làm cỏ, xới xáo, vun kín thân hành, tưới đủ ẩm. Cây có thể chịu được úng ngập trong vài ngày.
Sau khi trồng 40 – 50 ngày, bắt đầu bón thúc lần đầu, mỗi hecta dùng 50 kg ure pha loãng với nước, tưới xung quanh gốc. Đến tháng 6 – 7, đã có thể thu hoạch lá. Sau mỗi lần thu lá (khoảng 25 – 30 ngày), lại bón thúc như trên. Chỉ thu những lá bánh tẻ, thu đến khi cây ngừng sinh trưởng (vào mùa đông, nhất là ở miền Bắc). Trồng một lần có thể thu hoạch trong nhiều năm. Hàng năm, khi cây chuẩn bị sinh trưởng trở lại, cần bón thúc thêm phân. Lượng phân các loại bằng 1/2 lượng bón lót để duy trì độ phì và độ tơi xốp của đất.
Thời gian đầu, có thể trồng xen cây họ đậu, cỏ ngọt, kim tiền thảo hoặc cam, chanh, bưởi, quýt, nhưng chú ý chỉ được che bóng không quá 30%.
Trinh nữ hoàng cung bị một loại sâu đặc hiệu gây hại rất nghiêm trọng, đó là Brithys crini Fabricius thuộc họ Noctuidae, bộ Lepidoptera. Sau xuất hiện thành từng đám, ăn trụi lá và cả thân hành. Phòng trừ bằng thuốc Tập kỳ 5EC (với nồng độ 0,1 – 0,2%), phun toàn cây vào buổi chiều râm mát.
Vậy mua cây trinh nữ hoàng cung ở đâu uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây trinh nữ hoàng cung phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Crinum latifolium – Wikipedia tiếng Việt.
- Cây trinh nữ hoàng cung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây trinh nữ hoàng cung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Anju Goyal, Manish Devgun, Lalita Dahiya, Sachin Bisyan, Gajender Saini, Dimple Kumar (2023). “Crinum latifolium: An updated review on its pharmacognosy, phytochemistry and pharmacological profile”. Biological Forum – An International Journal. 15(2): 656 – 664. ISSN No. (Online): 2249 – 3239.
Sản phẩm liên quan: Hà thủ ô đỏ












