Bộ sưu tập







Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Mía dò hay còn được gọi là cát lồi, đọt đắng, đọt hoàng, tậu chó (Lạng Sơn), củ chóc, … tên tiếng Anh là crêpe ginger (danh pháp khoa học là Hellenia speciosa (J.Koenig) S.R.Dutta; đồng nghĩa: Costus speciosus (J.Koenig) Sm.). Được biết đây là loài thực vật phổ biến nhất thuộc chi Costus (chi Mía dò) của họ Mía dò Costaceae. Loài này được (J.König) C.Specht mô tả khoa học đầu tiên vào năm 2006. Cây có nguồn gốc chính ở Đông Nam Á, ngoài ra cũng được du nhập tới quần đảo Cook, Fiji, và Hawaii. Chi Mía dò khác với gừng thông thường ở chỗ là chỉ có một hàng lá xếp hình xoắn ốc.



Mô tả cây mía dò
Cây mía dò (cây tậu chó) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Loại cỏ cao chừng 50 – 60cm, thân mềm, có thân rễ phát triển thành củ, lá xoè ra, hình mác, phía đáy lá tròn, đầu phiến nhọn, nhẵn, dài 15 – 20cm, rộng 6 – 7cm, cuống ngắn. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành, không cuống, hình trứng, mọc rất sít, lá bắc xếp cặp đôi không đối xứng, màu đỏ, có lông dài và hơi nhọn, tràng hình phễu, phiến chia thành 3 phần đều, môi rất lớn, màu hồng hay trắng, dài và rộng 4 – 8cm. Quả nang dài 13mm, nhiều hạt nhẵn, màu đen, bóng, dài 3mm.
Cây mía dò – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm, cao 1 – 2m, có khi đến 3m. Thân rễ to, nạc, mọc bò ngang, phần non có vảy bao bọc, vảy có lông ngắn. Thân xốp, ít phân nhánh. Lá mọc so le, hình trứng thuôn, gốc tròn có bẹ, đầu nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn, dài 15 – 20cm, rộng 6 – 7cm, gân chính nổi rõ. Lá non mọc thành một đường xoắn ốc rất đặc biệt. Bẹ lá nhẵn hoặc có lông, lúc non màu lục nhạt sau chuyển trắng ngà hoặc đỏ sẫm; lưỡi bẹ phẳng hoặc hơi vát.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành bông chuùy, dài 8 – 13cm, rộng 5 – 9cm; lá bắc dày, xếp lợp, màu đỏ, có mũi nhọn, lá bắc con kề bên, cùng màu; đài hình ống loe ở đầu, có 3 răng cứng màu đỏ sẫm; tràng hình phễu, có ống ngắn và cong màu trắng, họng vàng, nhẵn hoặc có lông; nhị dạng cánh mang một bao phấn, chỉ nhị kết hợp với trung đới kéo dài thành một phần phụ hình trứng đảo hẹp, đầu tròn cong lòng máng ôm lấy vòi nhụy; cánh môi to, màu hồng, trắng hoặc vàng, khía răng ở đầu; bầu nhẵn hoặc có lông. Quả nang hình trứng hoặc hình bầu dục có 3 cạnh, màu đỏ sẫm, có đài tồn tại; hạt nhiều, có cạnh không đều, màu đen. Mùa hoa quả: tháng 7 – 11.
Loài này còn có một thứ là Costus speciosus var. argyrophyllus Wall. ex Baker với đặc điểm là mặt dưới lá màu lục nhạt phủ lông dài và dày hơn Lá bắc, đài hoa, bầu và quả có lông cứng, nhỏ màu hung xám.
Xem thêm sản phẩm Dâu quả dài tại shop
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mía dò (cây tậu chó) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây mọc hoang khắp nơi trên nước ta, miền núi cũng như đồng bằng, nhất là những nơi ẩm thấp. Ngoài ra còn thấy mọc ở Malaysia, Ấn Độ, Papua New Guinea.
Loài này sinh trưởng bằng thân rễ và phát tán bằng hạt nhờ các loài chim chóc.
Bộ phận dùng của cây mía dò là thân rễ, được thu hái quanh năm. Cát lồi còn dùng được cả búp và cành non. Thân và lá thường được dùng làm thuốc, đọt có thể ăn trực tiếp được.
Cây mía dò – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Costus L. có khoảng 175 loài trên thế giới, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt dới. Ở Việt Nam có 2 loài và một thứ. Mía dò chỉ thấy phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, bao gồm Ấn Độ, Sri Lanca, Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia, Việt Nam, các tỉnh Nam Trung Quốc và đảo Hải Nam. Ở Việt Nam, cây phân bố rộng rãi ở tất cả các tỉnh thuộc vùng núi, trung du và cả đồng bằng. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc thành khóm lớn trên đất ẩm, xen với các cây cỏ khác ở ven rừng, ven bờ sông suối, bờ nương rẫy. Ở vùng đồng bằng ít gặp hơn, trong các lùm bụi quanh làng hay vườn đã bị bỏ hoang lâu ngày. Các tỉnh có nhiều mía dò là: Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp. Ở miền Nam cây mọc trên các bờ kênh rạch. Độ cao phân bố của cây rất rộng, từ vài chục mét đến gần 1500m.
Mía dò là cây sinh trưởng phát triển nhanh trong mùa xuân – hè. Từ thân rễ, hàng năm mọc ra nhiều chồi theo hướng nằm ngang. Loại chồi này mọc thành cây và có thể ra hoa quả ngay trong năm đầu tiên. Sau khi quả già, phần trên mặt đất thường lụi đi. Cá biệt có trường hợp cây không lụi, nhưng lại mọc chồi ở nách lá. Quả mía dò khi già tách thành 3 mảnh để hạt thoát ra ngoài. Cây con mọc từ hạt thường thấy vào tháng 3 – 4 hàng năm.
Mía dò có khả năng tái sinh vô tính khoẻ. Các đoạn thân khi sinh cũng như các đoạn thân rễ đều có thể tạo thành cây mới. Nguồn trữ lượng mía dò ở Việt Nam rất dồi dào, ước tính đến hàng ngàn tấn.
2. Thành phần hóa học
Cây mía dò – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Thân rễ chứa 77 – 78% là nước. Trong thân rễ khô có 5,5% nước; 0,75% chất tan trong ete; 6,75% chất albuminoid; 66,65% carbohydrate; 10,65% xơ cùng 9,70% tro.
Năm 1970, từ rễ cái khô của củ chóc, Pandey V. B và B. Dasgupsta đã chiết được 2,12% diosgenin C27H42O3 tinh khiết. Ngoài ra còn có tigogenin C27H44O3 và một số saponin khác.
Cây mía dò – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thân rễ mía dò còn tươi chứa 77 – 87% nước, khi khô là 5,5% nước, 0,75% chất tan trong ether, 6,75% chất albuminoid, 66,65% carbohydrate, 10,65% xơ, và 9,70% tro.
Năm 1970, Pandey V.B và Dasgupta đã chiết từ rễ khô mía dò được 2,12% diosgenin tinh khiết, tigogenin và một số saponin khác (CA, 1971, (74), 50513t).
Banerjee S và Sharma A.K đã phân tích hàm lượng diosgenin trong 4 quần thể mía dò khác nhau bằng sắc ký lớp mỏng kết hợp đo phổ tử ngoại thấy hàm lượng cao nhất trong quần thể lưỡng bội tử (diploid population) và thấp nhất trong quần thể tứ bội tứ (tetraploid population) (CA 112, 1990, 54035t). Năm 1985, Phạm Kim Mãn và cộng sự (Viện Dược liệu) đã chứng minh các saponin steroid trong mía dò (di thực từ Ấn Độ vào Việt Nam dưới dạng furostan (vòng F mở) lên men trong môi trường nước sẽ biến thành dạng spirostan (vòng F đóng). Khi thuỷ phân, dạng spirostan sẽ nâng cao hiệu suất diosgenin lên nhiều lần.
Năm 1997, Inoue Kentaro, Ebizuka, Yutaka đã tinh chế và xác định β-glucosidase để chuyển hoá các furostanol glycoside trong mía dò thành spirostanol glycosid (CA 126, 1997, 302993a).
Sự biến đổi các glucoside dạng furostanol sang dạng spirostanol bởi men β-glucosidase cũng được công bố trong một số nghiên cứu và ứng dụng (CA. 124, 1996, 139388r; CA. 124,1996, 141137r).
Năm 1988, Gupta M. M., Singh S. B., Shukla Y. N. đã xác định một số triterpene trong thân rễ mía dò là 31-norcycloartanon, cycloartanol, cycloartenol và cyclolaudenol (CA, 109, 1988, 187305n).
Năm 1990, Gaitonde R.V, Sapre S.P đã chiết và phân lập được chất curcumin, từ thân rễ tươi mía dò (CA. 1990, 113, 218329n).
Năm 1988, một chất có hoạt tính sinh học là este của acid phthalic là bis(2-ethylhexyl) phthalateđã được Farooqui A.H; Abad; Shukla Y.N phân lập từ thân rễ mía dò. Chất này ức chế sự phát triển của lúa mỳ ở nồng độ 200 – 400 µg/l. (C.A. 108, 1988, 147182t).
Phương pháp chiết xuất diosgenin từ thân rễ mía dò: Dịch chiết mía dò đem ủ men. Các men α-glucosidase trong dược liệu sẽ chuyển hoá dạng vòng F mở sang dạng vòng F đóng (spirostanol glycoside), thuỷ phân bằng acid (HCl, H2SO4). Sẽ cho genin là diosgenin. Cũng có thể ủ men ngay trong môi trường nước. Bột, thân, rễ mía dò (ở 38 – 39o) rồi thuỷ phân dược liệu đã ủ men, xong chiết diosgenin bằng dung môi không phân cực (xăng, ether dầu …).
Bài viết “Tổng quan về cây Mía dò (Costus specciosus (Koen.) Sm.), họ Costaceae” của Đỗ Thị Anh Thư; Tạp chí khoa học và công nghệ – Trường Đại học Bình Dương – Quyển 6, số 1/2023 có tổng hợp lại nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước:
Phân tích thành phần hóa thực vật của C. speciosus có sự hiện diện của alkaloid, glycoside, steroid, phenolic, flavonoid, polyphenol, tannin và β-caroten. Các chất diosgenin, β-sitosterol, saponin furostanol-costusoside, β-D-glucoside, prosapogenin, dioscin, gracillin, dihydrophytylplastoquinone và α-tocopherolquinone được phân lập từ C. speciosus có nhiều các hoạt động sinh học khác nhau. Ngoài ra, β-amyrin, camphene, costunolide, diosgenin, α-humulene, lupeol và zerumbone có hoạt động chống ung thư đã được thử nghiệm.
…
Nhiều công trình khác nhau đã nghiên cứu về khả năng kháng tế bào ung thư của cây C. speciosus. Chất chiết của C. speciosus trong hexane, ethyl acetate hay methanol có hiệu quả ức chế tế bào ung thư dòng COLO 320 DM bởi thúc đẩy quá trình apotosis của các tế bào phân chia mất kiểm soát. Ở nghiên cứu của Nair và các cộng sự (2014), tế bào ung thư HepG2 và THP-1 sẽ được trở lại chu trình tế bào, giảm khả năng sinh tồn và đảm bảo apotosis khi bổ sung chất chiết của C. speciosus trong methanol. Ngoài ra, costunolide và diosgenin chiết từ cây C. speciosus thúc đẩy quá trình apotosis của các dòng tế bào ung thư MAD-MB-231, MCF-7, MCF-10A và HepG2.
3. Tác dụng dược lý
Cây mía dò – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tác dụng chống viêm: Ở cả hai giai đoạn viêm cấp tính và mạn tính, cao mía dò đều có tác dụng chống viêm rõ rệt. Trên các mô hình viêm cấp như gây phù bàn chân chuột cống trắng bằng carragenin (0,8%), cao mía dò với các liều 0,15g/kg và 0,25g/kg ức chế phù đạt 32% và 58,5%. Trên mô hình gây phù bằng kaolin với những liều dùng trên mức độ ức chế phù đạt 49,7% và 52%; còn trên mô hình gây viêm nội khớp thực nghiệm trên chuột cống trắng, cao mía dò với liều 0,25g/kg ức chế hiện tượng sưng khớp đạt 55,6%. Ở giai đoạn viêm mạn tính với mô hình gây u hạt thực nghiệm trên chuột trắng; cao mía dò với các liều 0,75g/kg và 1,25g/kg làm giảm trọng lượng u hạt 29,5% và 47,2%.
Tác dụng gây thu teo tuyến ức: Thí nghiệm trên chuột cống trắng đực còn non, cao mía dò tiêm dưới da với liều 0,3g/kg và 0,5g/kg làm giảm trọng lượng tuyến ức 34,5% và 49,7% so với lô đối chứng.
Tác dụng giảm đau: Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, gây đau nội tạng (douleur viscérale) bằng cách tiêm xoang bụng dung dịch acid acetic, cao mía dò với các liều 0,17g/kg và 0,25g/kg có tác dụng làm giảm số lần quặn đau 48,8% và 60% so với lô đối chứng.
Ảnh hưởng của cao mía dò đối với sự sinh sản: Thí nghiệm được tiến hành trên chuột cống trắng cả đực và cái, cao mía dò dùng liều hàng ngày 0,7g/kg trong 10 ngày liên tục. Khi bắt đầu dùng thuốc cho chuột giao phối, theo dõi tỷ lệ chuột có chửa, tình hình sinh đẻ, số lượng và quá trình phát triển của chuột con. Kết quả cho thấy so với lô đối chứng, cao mía dò không ảnh hưởng đến sự sinh sản của chuột.
Về độc tính: Đã tiến hành xác định độc tính cấp và mạn của cao mía dò. Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, bằng đường uống, cao mía dò có LD50 = 7,28g/kg (5,38 – 9,82g/kg). Về độc tính mạn, liều dùng hằng ngày 0,3g/kg trong 30 ngày liên tiếp, được tiến hành trên thỏ không gây ảnh hưởng đến cân nặng, các chỉ số huyết học và công năng gan, thận. Theo tài liệu nước ngoài (Pandey V.B), hỗn hợp saponin chiết được từ mía dò có tác dụng chống viêm rõ rệt, tương đương với tác dụng của β-methasone. Thí nghiệm trên chuột cống cái đã cắt buồng trứng, hỗn hợp này làm tăng trọng lượng tử cung một cách có ý nghĩa.
Tham khảo thêm giống Chanh ngón tay lạ mắt chưa từng thấy.


Cây mía dò có tác dụng gì ??
Mía dò có vị chua, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, chống viêm.
Ngọn hay cành non mía dò đem nướng, rồi vắt lấy nước nhỏ chữa đau mắt, đau tai. Thân, rễ mía dò chữa sốt, đái buốt, đái nước tiểu vàng, viêm bàng quang. Ngày dùng 5 – 10g dưới dạng nước sắc, cao lỏng hoặc cao mềm. Dùng riêng hoặc phối hợp với lá lành ngạnh chữa bí tiểu tiện, với mộc tặc chữa đái đục, với cỏ xước, cà gai leo, thổ phục linh chữa tê thấp, nhức xương. Dùng ngoài, thân rễ mía dò giã đắp chữa rắn cắn. Ở Trung Quốc, người ta dùng mía dò chữa viêm thận, phù thũng, xơ gan cổ trướng, tiểu tiện không thông, mề đay. Ở Ấn Độ, mía dò được dùng làm thuốc chữa sốt, bệnh ngoài da, rắn cắn. Ở Indonesia mía dò chữa các bệnh về mắt. Ở Lào và Malaysia, dịch hãm hoặc nước sắc của lá mía dò là thuốc ra mồ hôi hoặc dùng làm nước tắm cho bệnh nhân sốt cao. Ở Malaysia, người ta còn dùng mía dò với trầu không để chữa ho.
Sau đây là một số cách dùng cây mía dò trong dân gian:
- Chữa đau tai, viêm tai mãn tính: Chuẩn bị cây mía dò tươi (ngọn) giã nhuyễn vắt lấy nước. Sau đó nhỏ trực tiếp vào tai để 5 phút rồi lấy bông thấm cho khô, ngày làm 3 lần.
- Viêm thận phù thũng cấp: Dùng 15g mía dò đem đi đun sôi uống.
- Chữa mề đay, mẩn ngứa, mụn nhọt sưng đau: Thân rẽ mía dò 100g sắc nước đặc để xoa, rửa, đắp lên chỗ mề đay mẩn ngứa (chú ý dùng lúc còn ấm) hoặc pha loãng với nước để tắm hàng ngày.
- Chữa đái dắt, đái buốt: Nguyên liệu gồm mía dò, bồ công anh, mã đề, rau má, râu ngô, cam thảo dây, rễ cỏ tranh mỗi thứ lấy ra 10g, sắc mỗi ngày một thang, chia làm 2 – 3 lần uống.
- Chữa viêm gan siêu vi trùng: Chuẩn bị sẵn mía dò 12g, nhân trần 20g, chi tử 12g, thổ phục linh 12g, xa tiền tử 12g, sâm bố chính 12g, bồ công anh 12g, mạch môn 10g, thủy xương bồ 8g, cam thảo đất 6g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa viêm tai, đau mắt: Cành lá mía dò non, tươi đem đi nướng, vắt lấy nước hay giã lấy nước nhò vào tai, mắt đau.
- Chữa đái dắt, đái vàng, đái buốt, thấp khớp, đau lưng, đau vai, đau dây thần kinh: Sử dụng thân rễ mía dò 20g sắc uống hàng ngày.
- Eczema, mề đay: Nấu nước Mía dò với lượng vừa đủ để có thể xoa, rửa.
- Chữa sốt, đái buốt, đái vàng, thấp khớp, đau lưng, đau dây thần kinh: Ngày 10 – 20g dạng thuốc sắc, hoặc dưới dạng cao lỏng.
Thuốc quý quanh ta – Rượu hạt gấc – tìm hiểu ngay
Cách trồng cây mía dò
Cây mía dò – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Mía dò đã được nghiên cứu trồng ở Trại cây thuốc Văn Điển và một số địa phương vào cuối những năm 70 đến những năm 80. Cây ưa khí hậu nóng ẩm, nhưng không chịu được úng.
Mía dò có thể nhân giống bằng hạt, đoạn thân hoặc rễ củ. Cây trồng từ hạt sinh trưởng chậm, củ nhỏ, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế kém. Trong sản xuất người ta áp dụng phương pháp nhân bằng đoạn thân hoặc bằng rễ củ.
Vào tháng 12, chọn những thân 1 năm tuổi, cắt thành đoạn dài 20 – 25cm, chứa 2 – 3 mắt, nhúng vào nước vôi trong khoảng 15 phút, vớt ra để ráo, rồi đem trồng hoặc ủ trong cát ẩm cho nảy mầm. Trong quá trình ủ không tưới quá ẩm dễ làm thối hom giống. Hoặc lấy đoạn thân rễ có ít nhất 2 mầm ngủ khoẻ, nặng 40 – 80g để ủ mầm. Không dùng đoạn thân rễ dưới 40g hoặc trên 80g. Nếu đoạn giống nhỏ quá, cây mọc yếu vì không đủ chất dinh dưỡng dự trữ trong thời gian đầu; hoặc to quá, trồng sẽ lâu mọc vì thời gian ngủ nghỉ của mầm kéo dài. Một hecta cần 2 – 2,5 tấn củ giống.
Thời vụ trồng mía dò ở miền Bắc tốt nhất là tháng 2 – 3. Chọn đất cao, nhẹ, thoát nước và giữ ẩm tốt. Đất được cày bừa kỹ, để ải, lên luống cao 20 – 25cm, rộng 80 – 120cm. Ở sườn đồi, bãi ven sông hoặc đất dốc thoát nước, có thể trồng thành vạt, không cần lên luống. Khoảng cách trồng thường 30 x 40cm, 40 x 40cm hoặc 40 x 50cm, tuỳ theo độ phì của đất. Mỗi hecta cần bón lót 20 tấn phân chuồng mục, 270 – 400kg supe lân và 100 – 150kg kali. Hom giống được trồng sâu 8 – 10cm, lấp đất và tưới ngay. Nếu có điều kiện, dùng rơm, rác phủ trên mặt luống để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại.
Sau khi cây mọc, chỉ cần tưới khi trời quá khô hạn, nhưng phải chú ý thoát nước nhanh sau mỗi trận mưa lớn. Lúc cây còn nhỏ, cần làm cỏ 1 – 2 lần, về sau cây lớn có khả năng lấn át cỏ dại. Vào tháng 5 – 6, trước mùa cây sinh trưởng mạnh, cần bón thúc cho mỗi hecta 100 – 150kg đạm. Khi cây ngủ đông, làm vệ sinh đồng ruộng, chặt bỏ những cây gầy, đổ, thu dọn lá già, lá héo, bổ sung thêm 10 – 15 tấn phân chuồng, 150kg supe lân và 100 kg kali. Sang xuân, cây tái sinh và mọc thêm mầm mới. Đến tháng 5 – 6, lại bón thúc cho mỗi hecta 100kg đạm. Mía dò không có sâu bệnh gì đáng kể.
Cây trồng được 18 – 20 tháng cho thu hoạch thân rễ. Thu lúc cây bắt đầu ra hoa (tháng 8) tuy tỷ lệ diosgenin cao, nhưng năng suất thân rễ còn thấp, nước còn nhiều. Thu muộn hơn, lúc cây đã ngủ đông (tháng 11), tỷ lệ diosgenin giảm nhưng năng suất lại cao, hàm lượng nước cũng ít.
Nhân dân dùng thân rễ, búp non, cành non. Thân rễ, thu hoạch vào mùa thu, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, thái phiến phơi hay sấy nhẹ cho khô. Nếu thân rễ khô phải ủ cho mềm rồi thái phiến. Dùng lửa nhỏ sao đến khi bề mặt phiến có màu vàng. Búp và cành non dùng tươi.
Địa chỉ bán cây mía dò uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây mía dò phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.













