Bộ sưu tập






Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Kim tiền thảo hay bạch nhĩ thảo, bản trì liên, biến địa hương, biến địa kim tiền, cửu lý hương, nhũ hương đằng, phật nhĩ thảo, thiên niên lãnh (Trung Quốc Dược học Đại từ điển), đại kim tiền thảo, Giang Tô kim tiền thảo, quá lộ hoàng, quảng kim tiền thảo, Tứ Xuyên đại kim tiền thảo (Trung Dược Học), đồng tiền lông, mắt rồng, mắt trâu, vảy rồng (Việt Nam) (danh pháp khoa học là Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr.) là một loài thực vật thuộc chi Thóc lép hay chi Tràng Desmodium trong họ Ðậu Fabaceae. Tên gọi kim tiền thảo có nguồn gốc Hán – Việt (金钱草).
Mô tả cây kim tiền thảo
Kim tiền thảo (mắt trâu) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (sửa chính tả):
Cây cỏ, cao 30 – 50cm, mọc bò. Ngọn non dẹt và có phủ lông tơ, màu trắng. Lá mọc so le, gồm một hoặc ba lá chét tròn dài 1,8 – 3,4cm, rộng 2 – 3,5cm, do đó có tên đồng tiền, mặt dưới có lông trắng bạc, mặt trên có những đường gân rất rõ. Hoa màu tía, mọc thành thịnh xim ở kẽ lá. Quả đậu nhỏ, giữa các hạt thắt lại. Mùa hoa quả: Tháng 3 – 5.
Kim tiền thảo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, mọc bò, sau đứng thẳng, cao 0,3 – 0,5m. Ngọn non dẹt, có khía và lông tơ trắng. Lá mọc so le, gồm 1 (đa số) hoặc 3 lá chét hình tròn, dài 1,5 – 3,4cm, rộng 2 – 3,5 cm, gốc bằng hoặc hơi hình tim, đầu tù hoặc hơi lõm, mặt trên màu lục xám nhạt, có gân rất rõ, mặt dưới phủ lông màu trắng bạc, mềm như nhung; lá kèm có lông, có khía; cuống lá dài 1 – 2,5cm, có lông. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu ngọn thành chùm ngắn hơn lá; lá bác sớm rụng; hoa màu hồng; đài 4 răng đều, có lông ngắn; tràng có cánh cờ hình bầu dục, các cánh bên thuôn, cánh thìa cong có tai; nhị 2 bó; bầu hơi có lông. Quả đậu hơi cong; hạt 3 có lông. Mùa hoa quả: tháng 3 – 5.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Kim tiền thảo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trên thế giới, kim tiền thảo phân bố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào. Ở Việt Nam, cây thường gặp ở các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du phía bắc, từ Nghệ An trở ra. Các tỉnh có nhiều kim tiền thảo là Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Hà Tây, Hòa Bình …
Kim tiền thảo là cây ưa sáng, ưa ẩm nhưng cũng có thể hơi chịu được khô hạn. Cây thường mọc thành đám ở ven rừng, nhất là những nương rẫy mới bỏ hoang. Độ cao phân bố của cây thường dưới 600 m. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, quả chín tự mở để hạt thoát ra ngoài. Về mùa đông, cây có hiện tượng rụng lá hoặc tàn lụi. Cây con mọc từ hạt thường xuất hiện vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5.
Do khai thác liên tục, đặc biệt 4 – 5 năm trở lại đây, nguồn kim tiền thảo ở Việt Nam giảm đi rõ rệt. Một số vùng trước kia có nhiều, như ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên); Lập Thạch (Vĩnh Phúc), nay trở nên hiếm.
2. Cách trồng kim tiền thảo
Kim tiền thảo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Kim tiền thảo đang được nghiên cứu trồng ở một số nơi.
Cây được nhân giống bằng hạt. Hạt kim tiền thảo chín vào tháng 9 – 10. Khi quả chín vàng, thu về phơi khô, đập lấy hạt, bảo quản đến tháng 2 – 3 đem gieo ở vườn ươm, rồi đánh cây con đi trồng. Cũng có thể gieo thẳng theo rạch rồi tỉa bớt, định khoảng cách.
Ngoài đất đồi núi, bước đầu thấy có thể trồng kim tiền thảo trên nhiều loại đất ở đồng bằng. Đất cao ráo, thoát nước, không bị úng ngập là tốt. Đất cần được cày bừa, lên thành luống cao 20 – 25 cm, mặt luống rộng tùy ý. Cây trồng hoặc gieo thẳng đều giữ khoảng cách từ 30 x 30 cm đến 30 x 40 cm. Trước khi trồng, nên bón lót cho mỗi hecta 10 15 tấn phân chuồng. Sau khi trồng, cần tưới đủ ẩm, làm cỏ, xới xáo vài ba lần, đến khi cây bò lan phủ kín mặt luống.
Cũng thời gian này, cần bón thúc cho mỗi hecta 150 – 200 kg urê, chia làm 3 lần để tưới. Kim tiền thảo ít bị sâu bệnh. Sau khi thu hoạch, có thể dùng phân mục, tro bếp, đất bột phủ lên mặt luống, sang xuân từ gốc lại mọc lên chồi mới.
3. Thành phần hóa học
Kim tiền thảo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Kim tiền thảo chứa:
– Polysaccharide (Li Huizhi và cs, 1992; CA. 119: 699k).
– Saponin triterpenic, trong đó có soyasaponin I (Hirayma H và cs, 1993; CA. 119: 695f; PROSEA 12(1), 1999).
– Flavonoid isovitexin, vicenin glycoside, isoorientin (Su Yalun và cs, 1993, CA. 119: 245580t).
– Các nhóm khác: Desmodimine, desmodilactone, lupenone, lupeol, tritriacontane, acid stearic, eicosanoic acid eicosyl ester , β-sitosterol (Yang J.S và cs, 1993; CA. 119, 156209m).
Kim tiền thảo thu thập được ở Việt Nam có flavonoid 0,46% và saponin 3,1% (Vũ Văn Điền và cs, 1996).
Nguyễn Thị Màu cùng cộng sự (2010) đã phân lập và nhận danh cấu trúc 3 hợp chất là genistein (DS02), β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranoside (DS03) và allantoin (DS05) từ cây kim tiền thảo 6 tháng tuổi trồng tại Phú Yên. Cấu trúc các chất được nhận danh bằng các phương pháp phổ nghiệm.
Valentyna Opryshko cùng cộng sự (2024) đã tổng hợp từ nghiên cứu hóa thực vật của các tác giả trước đó hơn 200 hợp chất từ các đại diện của chi Desmodium, bao gồm các flavonoid, alkaloid, steroid, terpenoid, phenylpropanoid và các thành phần khác. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ trong số các hợp chất này được đánh giá là có hoạt tính sinh học. Trong đó, các polyphenol đóng vai trò quan trọng trong các tác dụng dược lý của D. styracifolium là: Apigenin (IUPAC: 5,7-dihydroxy-2-(4-hydroxyphenyl)chromen-4-one), genistein (IUPAC: 5,7-dihydroxy-3-(4-hydroxyphenyl)chromen-4-one), kaemferol (IUPAC: 3,5,7-trihydroxy-2-(4-hydroxyphenyl)chromen-4-one), luteolin (IUPAC: 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-5,7-dihydroxychromen-4-one), quercetin (IUPAC: 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-3,5,7-trihydroxychromen-4-one) và shaftoside (IUPAC: 5,7-dihydroxy-2-(4-hydroxyphenyl)-6-[(2R,3R,4R,6S,7R)-3,4,6-trihydroxy-7-(hydroxymethyl)oxan-2-yl]-8-[(2S,3R,4S,6S)-3,4,6-trihydroxyoxan-2-yl]chromen-4-one).
4. Tác dụng dược lý
Kim tiền thảo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trong số các saponin triterpenic tồn tại trong kim tiền thảo, chất soyasaponin I đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi canxi oxalat ở thân (Hirayma H. và cộng sự 1993; CA 119: 695f; PROSEA 12(1), 1999). Cao kim tiền thảo thí nghiệm trên chuột cống trắng có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi canxi oxalat ở thận do polysaccharide ức chế sự tăng trưởng của canxi oxalat monohydrat (Li Huizhi và công sự, 1992, CA. 119: 699h) đồng thời làm tăng lượng bài tiết nước tiểu.
Đối với gan mật, kim tiền thảo có tác dụng tăng cường sự phân tiết dịch mật. Đối với hệ tim mạch, dung dịch chế từ kim tiền thảo trên chó gây mê, tiêm tĩnh mạch với liền 1,6ml/kg (tương đương 8g/kg) làm tăng lưu lượng mạch vành 197%, hạ huyết áp khoảng 30%, làm tim đập chậm, đồng thời giảm mức tiêu thụ oxygen của cơ tim. Kim tiền thảo có tác dụng đối kháng với các triệu chứng do pituitrin gây nên lưu lượng mạch vành giảm, thiếu máu cơ tim thể hiện trên điện tâm đồ và rối loạn nhịp tim. Trên tiêu bản tim cô lập chuột lang, kim tiền thảo có tác dụng tăng sức co bóp.
Dạng chiết nước của kim tiền thảo thí nghiệm trên chuột cống trắng có tác dụng hạ huyết áp thông qua sự kích thích các bộ phận cảm nhận cholinergic và sự phong bế các bộ phận cảm nhận adrenergic. Dạng chiết còn đối kháng với tác dụng gây co bóp giải động mạch chủ cô lập do methoxamine gây nên. Thành phần flavonoid của kim tiền thảo cũng có tác dụng hạ huyết áp.
Cây kim tiền thảo có tác dụng gì ?
Kim tiền thảo có vị ngọt, tính mát, vào các kinh: can, thận, bàng quang, có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp, lợi tiểu, thông lâm.
Kim tiền thảo được dùng chữa sỏi đường tiết niệu, sỏi mật, viêm gan vàng da, viêm thận phù thũng, nhiệt lâm, thạch lâm. Liều dùng hàng ngày: 15 – 30g, sắc nước uống.
Bài thuốc có kim tiền thảo:
Chữa sỏi đường tiết niệu:
- Kim tiền thảo 30g, hải kim sa 15g (gói trong vải), đông quỳ tử 15g, xuyên phá thạch 15g, hoài ngưu tất 12g, hoạt thạch 15g. Sắc nước uống.
- Kim tiền thảo 30g; xa tiền tử 15g; chích sơn giáp, thanh bì, ô dược, đào nhân mỗi vị 10g, xuyên ngưu tất 12g. Sắc nước uống.
- Kim tiền thảo 40g, mã đề 20g, tỳ giải 20g, trạch tả 12g, uất kim 12g, ngưu tất 12g, kê nội kim 8g. Các vị trên thái nhỏ, phơi khô sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày.
Nếu đái ra máu thêm nhọ nồi 16g. Hoặc kim tiền thảo, mã đề, rễ dền gai (sao vàng), rễ thiên lý, vỏ bí đao, rễ cỏ tranh, đậu đen (sao thơm); mỗi vị 12g, sắc nước uống.
- Có thể dùng độc vị kim tiền thảo uống thay nước chè để tống sỏi.
Chữa sỏi đường mật:
- Kim tiền thảo 30g, chỉ xác (sao) 10 – 15g, xuyên luyện tử 10g, hoàng tinh 10g, sinh đại hoàng 10g. Sắc nước uống.
- Hoặc kim tiền thảo 20g; rau má tươi 20g, nghệ vàng 8g; cỏ xước 20g; hoạt thạch, vảy tê tê, củ gấu, mỗi vị 12g, mề gà 6g; hải tảo 8g, nước 500 ml. Sắc còn 200 ml, uống làm một lần lúc đói, hoặc sắc uống làm hai lần trong ngày.
Chữa viêm thận, phù, viêm gan, viêm túi mật: Kim tiền thảo 40g; mộc thông, ngưu tất mỗi vị 20g; dành dành, chút chít, mỗi vị 10g, sắc uống, ngày một thang.
Địa chỉ bán cây giống kim tiền thảo tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống kim tiền thảo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Kim tiền thảo (mắt trâu) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Kim tiền thảo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Nguyễn Thị Màu, Phùng Văn Trung và Nguyễn Ngọc Hạnh (2010). “Góp phần khảo sát thành phần hóa học cây kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr.)”. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 2010:15a: 15 – 20.
- Valentyna Opryshko, Anna Prokhach, Oleh Akimov, Mykola Riabushko, Heorhii Kostenko, Viktoriia Kostenko, Artur Mishchenko, Natalia Solovyova, Vitalii Kostenko (2024). “Desmodium styracifolium: Botanical and ethnopharmacological insights, phytochemical investigations, and prospects in pharmacology and pharmacotherapy”. Heliyon. 10(3): e25058.











