Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Dây đau xương hay khoan cân đằng (danh pháp khoa học là Tinospora sinensis (Lour.) Merr.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Tiết dê Menispermaceae, được (Lour.) Merr. miêu tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1934. Đây cũng là thành phần xuất hiện rất nhiều trong các sản phẩm thực phẩm chức năng hỗ trợ sức khỏe xương khớp trên thị trường hiện nay. Tên gọi dây đau xương ý chỉ người ta dùng cây này để chữa bệnh đau xương. Khoan cân đằng là tên gọi của loại cây này trong tiếng Trung Quốc, cũng mang nghĩa là làm cho xương cốt được khỏe.


Mô tả dây đau xương
Dây đau xương (khoan cân đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Dây đau xương là một loại cây leo, dài 7 – 8m, có cảnh dài rũ xuống, lúc đầu có lông, sau thì nhẵn, có bì không sần sùi, mang lòng. Lá có lòng, nhất là ở mặt dưới làm cho mặt dưới có màu trắng nhạt, phiến lá hình tim, phía cuống tròn và hôm lại, phía đỉnh hẹp lại thành mũi nhọn, dài 10-12cm, rộng 8-10cm, có 5 gân rõ, tỏa hình chân vịt. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đơn độc, hoặc mấy chùm tụ lại, chùm dài chừng 10cm, có lông măng, màu trắng nhạt. Quả hạch, khi chín có màu đỏ, có dịch nhầy, hạch hình bán cầu, mặt phẳng của bán cầu hõm lại. Mùa quả ở miền Bắc: tháng 3 – 4.
Dây đau xương – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dây leo bằng thân quấn, dài 8-10m. Thân hình trụ, màu xám, có nốt sần và có lông. Lá mọc so le, hình tim, đầu tù hay nhọn, dài 10 – 12cm, rộng 8 – 10cm, gân lá 5 hình chân vịt, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông tơ, đôi khi trắng nhạt. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm đơn độc hoặc nhiều chùm, có lông tơ màu trắng nhạt; hoa màu vàng lục, đài có 2 vòng, vòng ngoài gồm 3 răng hình mác, 3 răng vòng trong rộng và dài hơn; tràng có 6 cánh đối diện với lá đài trong, có lông tuyến ở gốc; nhị 6, bao phấn hình vuông. Quả hình bầu dục hoặc hình tròn, khi chín màu đỏ, chứa chất nhầy bao quanh 1 hạt hình bán cầu. Mùa hoa: tháng 3; mùa quả: tháng 4.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Dây đau xương – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Tinospora Miers có 33 loài phân bố ở vùng nhiệt đới. Ở châu Phi có 7 loài, Madagascar 2 loài, châu Á và một số đảo ở Thái Bình Dương có 24 loài, trong đó riêng Malaysia có tới 14 loài. Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Bân, 1997 có 6 – 7 loài, trong đó 5 loài được dùng làm thuốc (Võ Văn Chi, 1997).
Dây đau xương phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và Australia. Ở châu Á, có Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Lào, Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, dây đau xương phân bố rải rác khắp vùng đồng bằng, trung du và vùng núi thấp với độ cao dưới 800m.
Dây đau xương thuộc loại dây leo gỗ, rụng lá về mùa đông, ưa ấm và hơi chịu bóng, mọc lẫn trong các bụi cây quanh làng bản, ven rừng, đồi, bờ nương rẫy, gần các nguồn nước. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân – hè, có khả năng tái sinh vô tính mạnh. Trồng dễ dàng bằng các đoạn thân và cành.
Nguồn dây đau xương ở Việt Nam khá phong phú. Tuy nhiên, do khai thác thường xuyên, nên ở vùng đồng bằng và trung du, cây đã trở nên hiếm dần. Hiện nay có nhiều nơi trồng.
2. Cách trồng dây đau xương
Dây đau xương – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dây đau xương được nhân giống bằng cành. Vào tháng 2 – 3, chọn cành bánh tẻ, khoẻ mạnh, cắt thành từng đoạn 40 – 50cm để làm giống. Có thể dùng đoạn dây dài hơn và cuộn tròn lại để trồng.
Cây trồng trên mọi loại đất, nhưng cần cao ráo, thoát nước, không bị úng ngập. Thường trồng cạnh các cây to để lợi dụng làm giá thể cho cây leo. Có thể đào thành hố sâu 30 – 40cm, rộng 30 – 50cm hoặc đánh rạch như cách trồng khoai lang. Sau đó đặt hom giống hơi nghiêng, lấp đất sâu 20 – 30cm, dằn chặt và tưới nước. Nếu dùng hom giống dài, cuộn tròn thì lấp đất khoảng 2/3 vòng, để 1/3 nhô lên khỏi mặt đất.
Để cây sinh trưởng tốt, cần bón lót cho mỗi hốc 5 – 7kg phân chuồng và dùng nước giải, nước phân hoặc phân mục để bón thúc. Năm đầu, bón thúc một đợt vào tháng 6 – 7. Từ năm thứ hai trở đi, mỗi năm nên bón thúc 2 đợt, vào các tháng 2 – 3 và 5 – 6.
Cây có sức đề kháng cao, ít sâu bệnh. Cây 2 năm tuổi có thể cho 20kg thân lá. Thân và lá thu hái quanh năm. Đối với thân già, cắt thành từng đoạn dài 20 – 30cm rồi phơi hay sấy khô. Dùng sống hay tẩm rượu sao.
3. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Dây đau xương – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Toàn cây dây đau xương có alkaloid (Đỗ Tất Lợi, Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 1999).
Trong dây đau xương, người ta đã tách và xác định cấu trúc một glucoside phenolic là tinosinen (I).
(E)-1-(3-hydroxy-1-propenyl)-3-5-dimethoxyphenyl)-4-O-β-D-apio furanosyl-(1-3)-β-D-glucopyranoside (CA.122,1995, 156312b).
Trong cành người ta tìm thấy 2 chất dinorditerpene glucoside là tinosineside A và B.
Cây dây đau xương (Tinospora sinensis (Lour.) Merr) được trồng ở Vĩnh phúc là một trong những cây thuốc phổ biến và có giá trị sử dụng cao trong đời sống. Trong chương trình nghiên cứu và phát triển dược liệu, trên cơ sở sử dụng các phương pháp sắc kí đã phân lập được hai hợp chất từ cây dây đau xương thu hái ở Vĩnh Phúc. Cấu trúc hóa học của hai hợp chất này được xác định là decarin C19H13NO4 (1) và iwamid C20H13NO6 (2) dựa trên các dữ liệu phổ khối lượng và cộng hưởng từ hạt nhân kết hợp so sánh với dữ liệu phổ được công bố trong tài liệu tham khảo. Đây là công bố đầu tiên về thành phần benzophenanthridine của cây dây đau xương trồng ở Việt Nam (Vũ Đức Lợi cùng cộng sự; 2017).
4. Tác dụng dược lý
Dây đau xương – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Một bài thuốc bổ thận gồm 9 vị, trong đó có dây đau xương, dùng trong y học dân tộc để trị đau lưng, mỏi gối, đã được thử tác dụng nội tiết sinh dục bằng cách cho chuột nhắt cái thiến uống có tác dụng gây
động dụcMột bài thuốc chữa viêm khớp gồm 5 vị trong có dây đau xương trên thử nghiệm dược lý và dược lý lâm sàng đã được xác nhận hiệu lực chống viêm.
Dây đau xương có tác dụng ức chế hoạt tính gây co thắt cơ trơn của histamine và acetylcholine trong thí nghiệm ruột cô lập.
Dây đau xương có ảnh hưởng trên huyết áp động vật thí nghiệm, có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương biểu hiện trên các hiện tượng quan sát bên ngoài của động vật, có tác dụng hiệp đồng với thuốc ngủ, tác dụng an thần và lợi tiểu.
Tham khảo thêm sản phâm cây mâm xôi tại shop


Tác dụng của cây khoan cân đằng trong Đông y
Dây đau xương có vị đắng, tính mát, có tác dụng mạnh gân cốt, trừ phong thấp.
Dây đau xương được dùng chữa thấp khớp, tê bại, các khớp xương đau nhức, đau mình mẩy, ngã gãy tổn thương ứ máu đau nhức, bong gân, sai khớp. Còn dùng
chữa sốt rét mạn tính, rắn cắn, làm ngừng nôn mửa và làm thuốc bổ. Ngày dùng 12 – 20g thân, cành, dạng thuốc sắc, hoặc thái nhỏ, sao vàng rồi ngâm rượu với tỷ lệ 20% để uống. Dùng liên tục trong 10 – 15 ngày. Dùng ngoài, giã nhỏ lá dây đau xương, trộn với rượu, đắp lên những chỗ sưng đau.
Dây đau xương được dùng hầu như cùng một cách với dây thần thông (Tinospora cordifolia). Nó được dùng xông khói để chữa trĩ và những vết thương bị loét và để bào chế những dung dịch thuốc dùng ngâm làm trị bệnh gan. Rễ luộc chín, ăn trị sốt. Lá và thân cây tươi dùng uống để điều trị thấp khớp mạn tính.
Bài thuốc có dây đau xương:
Chữa sai khớp xương, bong gân (Hải Thượng Lãn Ông): Lá dây đau xương, quế, hồi hương, đinh hương, vỏ sồi, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, mùi xương, rồng bà (Opuntia dillenii), lá thầu dầu tía, lá nàng, lá kim cang, lá mua, huyết giác, củ nghệ, hạt trấp, hạt máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế. Các vị trên giã nhỏ, sao nóng và chườm.
Trị rắn cắn (Hải Thượng Lãn Ông): Lá dây đau xương 20g, lá thai lài 30g, lá tía tô 20g, rau sam 50g. Dùng tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, bã đắp.
Thuốc thấp khớp:
- Cao bào chế từ 2 vị dây đau xương, củ kim cang, lượng bằng nhau. Ngày uống 6g cao.
- Cao chế từ các vị dây đau xương, độc lực, hoàng lực, thổ phục linh, huyết giác, lá lốt, bưởi bung, tầm xuân, hoàng nàn chế, kê huyết đằng, ngưu tất.
Trị đau lưng, mỏi gối do thận hư yếu: Dây đau xương 12g, cẩu tích 20g, củ mài 20g, tỳ giải 16g, đỗ trọng 16g, bổ cốt toái 16g, thỏ ty tử 12g, rễ cỏ xước 12g, củ mài 12g. Sắc hoặc ngâm rượu uống.
Địa chỉ bán cây khoan cân đằng tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống dây đau xương phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Dây đau xương (khoan cân đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Dây đau xương – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Vũ Đức Lợi, Nguyễn Thị Mai Trang, Trương Thị Vân Hoài, Nguyễn Thúc Thu Hương, Nguyễn Thành Nam (2017). “Hai hợp chất alkaloid phân lập từ cây Dây đau xương (Tinospora sinensis (Lour.) Merr) trồng tại tỉnh Vĩnh Phúc”. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội – Khoa học Y Dược. Tập 33, Số 2: 56 – 61.
Cây mai xanh chuẩn giống hàng không giới hạn








