Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Địa liền hay thiền liền, tam nại, sơn nại, … tên tiếng Anh là kencur, aromatic ginger, sand ginger, cutcherry, … (danh pháp khoa học là Kaempferia galanga L.) là cây thân thảo một lá mầm thuộc họ Gừng Zingiberaceae. Cây được tìm thấy chủ yếu ở các vùng đất trống ở Indonesia, miền nam Trung Quốc, Đài Loan, Campuchia và Ấn Độ, nhưng cũng được trồng rộng rãi trên khắp Đông Nam Á.





Mô tả cây địa liền
Cây địa liền – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Địa liền là một loại cỏ nhỏ, sống lâu năm, có thân rễ hình củ nhỏ, bám vào nhau, hình trứng. Lá 2 hoặc 3 mọc sát mặt đất, hình trứng, phía cuống hẹp lại thành một cuống dài độ 1 – 2cm, mặt trên xanh lục và nhẵn, mặt dưới có lông mịn, có hai mặt đều có những điểm nhỏ, dài rộng gần bằng nhau, chừng 8 đến 15cm. Cụm hoa mọc ở giữa, không cuống, gồm 8 đến 10 hoa màu trắng với những điểm tím ở giữa. Cây quanh năm xanh tốt. Mùa hoa vào tháng 8, tháng 9.
Cây địa liền – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm, không có thân. Thân rễ gồm nhiều củ nhỏ, hình trứng mọc nối tiếp nhau, có nhiều vân ngang. Lá, 2- 3 cái hình trứng gần tròn, xòe rộng sát mặt đất, đầu tù rồi thuôn nhọn, gốc thuôn hẹp thành một cuống ngắn rộng có rãnh, mặt trên nhẵn bóng, mặt dưới hơi có lông mịn, mép mỏng màu đỏ, hai mặt có nhiều chấm hình vòng, phiến lá dài 8 – 10cm, rộng 6 – 7cm.
Cụm hoa không cuống, nằm ẩn trong be lá, lá bắc hình mũi mác nhọn; hoa 6 – 12 cái, xếp thành hình bánh xe, màu trắng có đốm tím ở giữa; đài có 3 răng dài, hẹp và nhọn; tràng có ống dài, mang 3 thùy, nhị không có chỉ nhị, bao phấn có 2 ô song song, có nhị lép, cánh môi to chẻ đôi thành 2 thùy. Toàn cây nhất là thân rễ có mùi thơm và vị nóng. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.
Tránh nhầm lẫn với cây Kaempferia angustifolia Roscoe mà nhân dân Phú Thọ cũng gọi là địa liền.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây địa liền – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi trong cả nước. Cây còn mọc ở Campuchia, Trung Quốc, (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Đài Loan), Malaysia, Ấn Độ.
Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, người ta đào củ về, cần chọn những cây đã trên 2 năm, rửa sạch đất cát, thái thành miếng mỏng, xông diêm sinh một ngày rồi phơi khô. Tuyệt đối không sấy than, củ sẽ đen, mùi kém thơm. Có nơi chỉ đào củ về, rửa sạch phơi khô. Địa liền rất dễ bảo quản, hầu như không bị mốc mọt mặc dù điều kiện bảo quản không hơn so với các vị thuốc khác.
Cây địa liền – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Kaempferia L. có 9 – 10 loài ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Loài địa liền phân bố ở Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Lào, Campuchia và Trung Quốc. Ở Việt Nam có loài địa liền lá hẹp mọc tự nhiên dưới các rừng thưa, rụng lá hoặc nửa rụng lá ở Đắk Lắk, Đồng Nai và ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh.
Địa liền là cây vốn mọc tự nhiên ở Tây Nguyên cũng như một số tỉnh miền núi như Hà Giang, Yên Bái, Sơn La. Cây đã được trồng ở nhiều nơi vùng đồng bằng sông Hồng (Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh), Nghệ An và Thanh Hoá. Địa liền là cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu hạn. Hàng năm, cây mọc lá non vào tháng 4 – 5, sinh trưởng nhanh trong mùa hè và sau đó ra hoa. Hoa nở mỗi ngày một cái vào lúc sáng sớm, rồi tàn lúc 10 giờ. Địa liền có khả năng đẻ nhánh khỏe. Từ một củ con (mẩu thân rễ) lúc mới trồng, sau một năm đã tạo thành khóm lớn. Toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi vào mùa đông.
Đầu những năm 90, các tỉnh phía bắc trồng nhiều địa liền để xuất khẩu. Hiện nay, cây trồng chủ yếu cho nhu cầu sử dụng trong nước. Nguồn địa liền tự nhiên ở Tây Nguyên cũng cần chú ý để tận thu.
2. Cách trồng
Cây địa liền – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Địa liền là loại cây quen thuộc và được trống ở khắp nơi để làm thuốc. Thông thường, cây được trồng phân tán ở các vườn gia đình. Gần đây, khi thị trường có nhu cầu, cây mới được trồng trên quy mô sản xuất. Nông trường Hữu Nghị (Hoành Bồ – Quảng Ninh) và Trại nghiên cứu cây thuốc Văn Điền (Viện Dược liệu) trước đây đã nghiên cứu kỹ thuật trồng địa liền.
Cây được nhân giống bằng rễ củ. Khả năng tái sinh của rễ củ địa liền rất mạnh. Chỉ cần một mảnh nhỏ cũng có thể mọc thành cây. Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất, cần chọn những nhánh củ chưa mọc thành cây, có đường kính 1,5 – 2cm, không bị nhiễm bệnh, không dập nát.
Địa liền trồng được trên nhiều loại đất, nhưng phải tơi xốp, cao ráo, thoát nước, đủ ánh sáng. Cây hơi chịu bóng nên có thể trồng xen với các cây khác. Ở các vườn gia đình, trong điều kiện bị che bóng một phần, cây vẫn sinh trưởng tốt. Đất cần làm nhỏ, để ải, vơ sạch cỏ, bón phân lót, lên luống rồi trồng. Củ địa liền ăn nông trên mặt đất nên luống chỉ cần cao 20 – 30cm. Mặt luống rộng hay hẹp tuỳ theo việc chăm sóc. Trung bình, mỗi hecta dùng 20 – 25 tấn phân chuồng hoai mục, 250kg supe lân, 150kg kali và có thể thêm 3 – 5 tạ tro bếp để bón lót. Riêng đối với kali bón lót một nửa và một nửa để bón thúc. Phân có thể bón lót theo hốc, theo hàng hay trộn đều với đất trên mặt luống. Mầm được trồng với khoảng cách 15 x 20 hoặc 20 x 20cm, phủ đất dày 1 – 2cm, cho trấu hoặc rơm rạ lên trên rồi tưới nước giữ ẩm hằng ngày. Mỗi hecta cần 1,5 – 2 tấn củ giống.
Ruộng địa liền phải luôn sạch cỏ. Thời kỳ đầu, cần xới xáo nhẹ để giữ cho mặt luống thông thoáng. Từ tháng 5 đến tháng 8, dùng nước phân, nước giải hoặc đạm pha loãng để bón thúc cho cây, cứ 25 – 30 ngày bón một lần.Địa liền ít bị sâu bệnh. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý tháo nước sau mưa. Cây bị úng dễ thối củ. Sang tháng 12, cây bắt đầu tàn lụi. Lúc này có thể thu hoạch củ hoặc để đến tháng giêng. Củ đào về, rửa sạch, thái nhỏ, sấy lưu huỳnh qua một đêm rồi phơi hoặc sấy nhẹ đến khô. Năng suất củ tươi đạt trung bình 15 – 20 tấn/ha. Tỷ lệ tươi/khô dao động trong khoảng 3,5 – 4.
3. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Cây địa liền – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thân rễ địa liền khô chứa 2,4 – 3,9% tỉnh dầu. Thành phần chủ yếu là acid p-methoxycinamic, ethylcinnamate và p-methoxy ethylcinamate. Hợp chất p-methoxy ethylcinamate chiếm tới 30% dễ dàng kết tinh khi bảo quản trong điều kiện lạnh. Phần lỏng còn lại sau khi tách khỏi phần kết tinh có các hằng số vật lý sau: Trọng lượng riêng 0,8792 – 0,8914, chỉ số acid 0,5 – 1,3, chỉ số xà phòng 99,7 – 109, |α|D30 – 2,60o – 4,5o, nD30 14773 – 14855.
Ngoài ra, thân rễ còn có các hợp chất n-pentadecane, Δ3-carene, camphene, O-methoxy ethylcinamate, borneol, p-methoxystyrene, acid trans-cinamic, cinnamic aldehyde, cineol và kaempferol.
Tinh dầu từ thân rễ của cây địa liền (Kaempferia galanga L.) trồng tại Malaysia được phân tích bằng các phương pháp hiện đại như sắc ký khí mao quản (capillary GC), GC-MS và 1H-NMR thu được 54 hợp chất, trong đó các thành phần chính gồm trans-p-methoxycinnamate (51.6%), ethyl cinnamate (16.5%), pentadecane (9.0%), 1,8-cineole (5.7%), γ-car-3-ene (3.3%) và borneol (2.7%) (K. C. Wong et al.; 1992).
Báo cáo của Si-Yu Wang cùng cộng sự về thành phần hóa học của K. galanga cho thấy sự tồn tại của nhiều loại chất chuyển hóa thứ cấp như terpenoid, phenolic, cyclic dipeptide, diarylhaptanoid, flavonoid, polysaccharide và tinh dầu. Danh sách một số hợp chất được liệt kê ở phía dưới:
- Terpenoid: 3-caren-5-one (1); (3R,4R,6S)-3,6-dihydroxy-1-menthene (2); (1R,2S,4R)-p-menth-5-ene-1,2,8-triol (3); oxyphyllenodiol B (4); hedytriol (5); kaemgalangol A (6); 6β-hydroxypimara-8(14),15-diene-1-one (7); sandaracopimaradien-6β,9α-diol-1-one (8); (-)-sandaracopimaradiene (9); sandaracopimaradiene-9α-ol (10); kaempulchraol I (11); kaempulchraol E (12); 8(14),15-sandaracopimaradiene-1α,9α-diol (13); kaempulchraol L (14); 2α-acetoxysandaracopimaradien-1α-ol (15); 1,11-dihydroxypimara-8(14),15-diene (16); 6β,14α-dihydroxyisopimara-8(9),15-diene (17); 6β,14β-dihydroxyisopimara-8(9),15-diene (18); 1α-hydroxy-14α-methoxyisopimara-8(9),15-diene (19); 1α,14α-dihydroxyisopimara-8(9),15-diene (20); boesenberol I (21); boesenberol J (22); 6β-acetoxysandaracopimaradiene-9α-ol (23); 6β-acetoxysandaracopimaradiene-9α-ol-1-one (24); 6β-acetoxysandaracopimaradiene-1α,9α-diol (25); 6β-acetoxy-1α,14α-dihydroxyisopimara-8(9),15-diene (26).
- Phenolic: p-methoxybenzoic acid (27); p-hydroxybenzoic acid (28); vanillic acid (29); methyl 3,4-dihydroxybenzoate (30); 4-methoxybenzyl-O-β-D-glucopyranoside (31); methyl (2R,3S)-2,3-dihydroxy-3-(4-methoxyphenyl) propanoate (32); ethyl (2R,3S)-2,3-dihydroxy-3-(4-methoxyphenyl) propanoate (33); trans ethyl p-methoxycinnamate (34); ferulic acid (35); trans p-hydroxycinnamic acid (36); trans p-methoxycinnamic acid (37); trans ethyl cinnamate (38); cis ethyl p-methoxycinnamate (39); 4-methoxy-benzyl (E)-3-(4-methoxyphenyl) acrylate (40); 1-O-4-carboxylphenyl-(6-O-4-hydroxybenzoyl)-β-D-glucopyranoside (41).
- Cyclic dipeptide: Cyclo-(L-Val-L-Phe) (42); cyclo-(L-Leu-L-Ile) (43); cyclo-(L-Val-L-Leu) (44); cyclo-(L-Val-L-Val) (45); cyclo-(L-Ala-L-Ile) (46); cyclo-(L-Ala-L-Leu) (47); cyclo-(L-Ala-L-Phe) (48); cyclo-(L-Val-L-Ala) (49); cyclo-(L-Phe-L-Tyr) (50); cyclo-(L-Leu-L-Tyr) (51); cyclo-(L-Val-L-Tyr) (52); cyclo-(L-Asp-OCH3-L-Phe) (53); cyclo-(L-Tyr-L-Ile) (54); cyclo-(L-Pro-L-Tyr) (55); cyclo-(L-Leu-L-Phe) (56); cyclo-(L-Glu-OCH3-L-Phe) (57).
- Flavonoid: Kaempferol (58); luteolin (59); kaempferide (60).
- Diarylheptanoid: (1R,3R,5R)-1,5-epoxy-3-hydroxy-1-(3,4-dihydroxyphenyl)-7-(3,4-dihydroxyphenyl) heptane (61); (1R,3R,5R)-1,5-epoxy-3-hydroxy-1-(3,4-dihydroxyphenyl)-7-(4-hydroxyphenyl) heptane 3-O-beta-D-glucopyranoside (62); phaeoheptanoxide (63); hedycoropyran B (64); 1-(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)-7-(4-hydroxyphenyl) heptane-1,2,3,5,6-pentaol (65); (3R,5S)-3,5-dihydroxy-1,7-bis(3,4-dihydroxyphenyl) heptane (66); kaempsulfonic acid A (67); kaempsulfonic acid B (68).
- Acid béo và ester: Stearic acid (69); dec-5-enoic acid (70); 2-tetradecenoic acid (71); linolenic acid (72); linoleic acid (73); ethyl icosanoate (74); monopalmitin (75); 5,6-dimethyl citrate (76); 3-carboxyethyl-3-hydroxyglutaric acid 1,5-dimethyl ester (77); trimethyl citrate (78); 1,5-dimethyl citrate (79).
- Polysaccharide: Fucose (80); arabinose (81); xylose (82); rhamnose (83); mannose (84); galactose (85); glucose (86), glucuronic acid (87), galacturonic acid (88).
- Ngoài ra còn có L-p Glu-L-Leu-OCH3 (89); pyroglutamyl-phenylalanine methyl ester (90); pyroglutamyl-tyrosine methyl ester (91); benzoic acid (92); phenylmethanol (93); dibutyl phthalate (94); furan-2-carboxylic (95); β-sitosterol (96); β-daucosterol (97).
Các hợp chất chính trong tinh dầu là ethyl cinnamate, p-methoxycinnamate, pentadecane, δ-selinene, borneol, eucalyptol.





4. Tác dụng dược lý
Cây địa liền – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dựa vào kinh nghiệm sử dụng làm thuốc trong nhân dân, ở Việt Nam, địa liền đã được tiến hành nghiên cứu một số tác dụng sau:
Tác dụng giảm đau: Trên mô hình gây đau nội tạng bằng cách tiêm dung dịch acid acetic 0,6% vào xoang bụng chuột nhắt trắng để tạo nên những cơn đau quặn, địa liền dùng với liều 5g/kg thể trọng, bằng đường uống, một giờ sau khi dùng thuốc làm giảm 69% số lần xuất hiện cơn đau (P< 0,02). Còn trên mô hình gây đau bằng sức nóng, địa liền không thể hiện tác dụng giảm đau kiểu morphin.
Tác dụng chống viêm: Trên mô hình gây phù bàn chân chuột cống trắng bằng cách tiêm nhũ dịch kaolin 10%, địa liền có tác dụng chống viêm rõ rệt, dạng cao cồn với liều 10g/kg thể trọng ức chế viêm 63,8%, dạng cao nước với liều 10g/kg thể trọng cũng ức chế viêm 60% (P < 0,02). Tinh dầu và dạng tinh thể chiết từ địa liền cũng có tác dụng chống viêm tương tự.
Tác dụng hạ sốt: Trên thỏ gây sốt thực nghiệm bằng pyrogen chuẩn (natri nucleinat). Địa liền với liều 5g/kg bằng đường uống, 2 giờ sau khi dùng thuốc, làm hạ sốt 0,4 – 0,5oC so với lô đối chứng. Theo tài liệu nước ngoài, địa liền còn có một số tác dụng khác. Trên ống nghiệm, nước sắc thân rễ có tác dụng ức chế sự phát triển của một số nấm thường gây bệnh ngoài da; chất p-methoxycinamic acid ethylester có phổ kháng nấm khá rộng. Cao chiết bằng chloroform từ thân rễ trên ống kính có tác dụng ức chế co thắt giải động mạch chủ chuột cống trắng gây nên do K+ hoặc do phenylephrine. Thí nghiệm trên chuột lang, chất ethyl p-methoxy trans-cinamate gây giãn khí phế quản, chứng tỏ việc sử dụng địa liền trong điều trị bệnh hen suyễn là có cơ sở. Chất ethyl p-methoxy trans-cinamate còn có tác dụng như một chất ức chế monoaminoxydase (Monoamine oxidase inhibitors hay MAOIs), có thể dùng làm thuốc chữa trầm cảm.
Cao chiết bằng ethanol từ địa liền có tác dụng độc tế bào đối với tế bào carcinoma cổ tử cung (Hela) và diệt amip. Các thành phần ethylcinnamate, p-methoxycinnamate và acid p-methoxycinnamic, có tác dụng diệt dòi bọ. Borneol có tác dụng làm ra mồ hôi, gây hưng phấn, giải co thắt.
Tác dụng trong Đông y của địa liền
Theo tài liệu cổ, địa liền có vị cay, tính ôn, vào các kinh tâm, tỳ, vị, có tác dụng ôn trung, tán hàn, trừ thấp, tiêu thực, bạt khí độc.
Theo kinh nghiệm nhân dân, địa liền được dùng chữa ngực bụng lạnh đau, tiêu chảy, thuốc kiện vị, giúp tiêu hoá chữa chứng ăn uống khó tiêu, đau dạ dày, cảm, ho, nôn mửa, hen suyễn.
Liều dùng: Ngày 3 – 6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên hay thuốc hãm.
Địa liền (1kg) phối hợp rau má (1kg), thổ phục linh (1kg), cam thảo (0,5kg). Tất cả phơi khô tán bột. Ngày uống 2 – 4g. Chữa cảm sốt, nhức đầu, táo bón kinh niên, ăn không tiêu (kinh nghiệm của Hợp tác xã Thuốc dân tộc Hợp Châu).
Viên bạch – địa – can gồm địa liền (0,03g), bạch chỉ (0,10g), cát căn (0,12g) do Viện Dược liệu nghiên cứu sản xuất đã được ứng dụng trong điều trị trên lâm sàng ở Bệnh viện Saint Paul – Hà Nội, đạt kết quả tốt.
Thuốc có tác dụng hạ sốt rõ rệt, giảm đau, kháng khuẩn, ít gây tác dụng phụ nên được sử dụng an toàn cho người lớn và trẻ em. Dùng ngoài, rượu ngâm riêng địa liền hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác như huyết giác, thiên niên kiện, đại hồi, quế chi, long não dùng xoa bóp, chữa đau nhức, tê phù hoặc ngậm chữa đau nhức răng (không được uống).
Ngoài ra, tinh dầu địa liền để chế nước hoa, mỹ phẩm, làm vị điều hương trong thực phẩm. Bột địa liền có tác dụng bảo vệ quần áo chống nhậy cắn.
Ở Philippines, nước sắc địa liền chữa ăn uống khó tiêu, sốt rét. Lá địa liền giã nát hơ nóng, đắp chữa tê thấp. Ở Malaysia, thân rễ địa liền được dùng chữa cao huyết áp, lở loét, hen suyễn. Lá và thân rễ nhai ngậm chữa ho và đau họng. Thân rễ dùng riêng chữa cảm lạnh. Một vài nơi dùng lá và thân rễ địa liền làm rau ăn sống.
Bài thuốc có địa liền:
Chữa ăn uống khó tiêu, đau dạ dày, đau thần kinh (Diệp Quyết Tuyền): Địa liền 2g, quế chi 1g. Hai vị tán nhỏ thành bột mịn, trộn đều, chia làm 3 lần uống trong ngày.
Chữa ngực bụng lạnh đau: Địa liền, đinh hương, đương quy, cam thảo, với lượng bằng nhau. Tán nhỏ thành bột, trộn với hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 10 viên.
Địa chỉ bán củ giống địa liền uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm củ giống địa liền phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây địa liền – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- K. C. Wong, K. S. Ong, C. L. Lim (1992). “Compositon of the essential oil of rhizomes of kaempferia galanga L.”. Flavour and Fragrance Journal. 7(5): 263 – 266.
- Si-Yu Wang, Hui Zhao, Hong-Tao Xu, Xiao-Dong Han, Yun-Shan Wu, Fang-Fang Xu, Xiao-Bo Yang, Ulf Göransson, Bo Liu (2021). “Kaempferia galanga L.: Progresses in phytochemistry, pharmacology, toxicology and ethnomedicinal uses”. Front Pharmacol. 2021;12: 675350.








