Độ hoàn thiện nội dung: 60% (✅♥️).
✅: Kiểm tra chính tả lần 1
♥️: Kiểm tra chính tả lần 2
Quế Trung Quốc hay quế đơn, quế, nhục quế, quế bì, tên tiếng Anh là Chinese cassia, cassia cinnamon, Chinese cinnamon (danh pháp khoa học là Cinnamomum cassia (L.) J.Presl) là loài thực vật thuộc họ Nguyệt quế Lauraceae. Trên thị trường quốc tế, quế bì (tên ghi trong Dược điển Trung Quốc, 1953) hay thường gọi là quế Trung Quốc (Cannelle de Chine) đứng hàng thứ hai sau quế Sri Lanka. Trong nước ta cũng có loài quế này. Ta dùng vỏ phơi khô Cortex Cinnamomi cassiae.
Mô tả cây quế Thanh Hóa
Cây quế Trung Quốc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Quế đơn hay quế bì là một loài cây có kích thước trung bình, thường cao 12 – 17m. Lá mọc so le, dài và cứng. Phiến lá dài 12 – 15cm, rộng 2,5 – 6cm, mặt trên bóng và nhẵn, mặt dưới lúc đầu có lòng, có 3 gần; Hai gân phụ nổi rất rõ ở mặt dưới. Cuống to, mặt trên có rãnh, dài 1,5 – 2cm. Hoa mọc thành chùy ở kẽ những lá phía trên. Quả hình trứng, thuôn dài 12 – 13mm phía dưới có dài tồn tại hoặc nguyên hoặc hơi chia thùy.
Cây quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây to, cao 10 – 20 m. Cành hình trụ, nhẵn, màu nâu. Lá mọc so le, dày cứng và dai, hình mác, dài 12 – 25 cm, rộng 4 – 8 cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mặt trên nhẵn, màu lục sẫm bóng, mặt dưới màu xám tro, hơi có lông lúc còn non, gân 3, hình cung, nổi rõ ở mặt dưới, gân bên kéo dài đến đầu lá, gân phụ nhiều, song song; cuống lá to, dài 1,5 – 2 cm, có rãnh ở mặt trên. Cụm hoa mọc ở kẽ lá gần đầu cành thành chùy dài 7 – 15 cm; bao hoa gồm 6 phiến gần bằng nhau, màu trắng, dài 3 mm, mặt ngoài có lông nhỏ. Quả hạch, hình trứng hoặc hình bầu dục, có cạnh dài 1,2 – 1,3 cm, nằm trong đài tồn tại nguyên hoặc chia thùy. Vỏ và lá vò ra có mùi thơm. Mùa hoa: tháng 4 – 7; mùa quả: tháng 10 – 12.
Cây có cùng công dụng:
Ngoài loài quế nêu trên, nhiều loài khác cũng được gọi là quế như quế quan, quế Thanh, quế rành.
Quế quan (Cinnamomum zeylanicum Blume), tên khác: Quế ống, quế Sri Lanka. quế khâu. Cây có kích thước trung bình. Cành non có 4 cạnh, hơi dẹt có lông nhỏ rải rác. Lá mọc đối hoặc gần đối (ít khi so le), hình bầu dục, gân lá 3 – 5, gồ lên ở cả hai mặt. Cụm hoa dài hơn lá, bao hoa dài 5 – 6 mm, màu vàng. Quả dài 1,3 – 1,7 cm, có đài tồn tại to. Mùa hoa quả. tháng 5 – 9.
Quế Thanh (Cinnamomum loureiroi Nees), tên khác: Quế Quỳ, de bầu, quế tử, quế lá tù, ngọc quế. Cây to, cành non có cạnh, có lông, sau nhẵn. Lá thuôn đến mác thuôn, có mũi nhọn mềm, mặt dưới phủ vảy nhỏ, gân bên không kéo dài đến đầu lá, gân phụ mờ. Hoa trắng, bao hoa dài 3 mm. Quả dài 8 – 10mm, đài tồn tại nhỏ.
Quế rành (Cinnamomum burmanni (Nees & T.Nees) Blume), tên khác: Quế bì, quế xanh, trèn trèn, quế lợn, âm hương. Cây có dạng dẹp, vỏ nhẵn, màu xám. Lá thuôn, màu lục sẫm ở cả hai mặt. Cụm hoa ngắn, mành. Quả gần hình cầu, có mũi nhọn. Mùa hoa: tháng 7.
Thông tin thêm
1. Phân bố, trồng hái và chế biến
Cây quế Trung Quốc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Loài quế này mọc rải rác ở khắp Việt Nam, nhiều nơi có trồng.
Tại Trung Quốc chủ yếu được trồng ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Chỉ thu hoạch khi cây đã được 7 năm trở lên. Sau khi bóc vỏ người ta chỉ phơi khô trong mát rồi đóng gói chứ không ủ như đối với quế Thanh Hóa. Thường không cao lớp biểu bì như loại quế Sri Lanka, nhưng có khi cũng được cạo, do đó cũng không dễ phận biệt hai thứ với nhau.
Cây quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cinnamomum Schaeff. là một chi lớn gồm khoảng 270 loài, hầu hết là cây gỗ; phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu Á. Ở Ấn Độ có 20 loài, Trung Quốc 12 loài và Việt Nam 40 loài. Ở Việt Nam, nhiều loài mang tên “quế”, trong đó, có 3 loài là cây trồng, còn lại là mọc hoang dại. Quế cũng được trồng ở một số tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc.
Quế có nguồn gốc ở Việt Nam, cách đây khoảng hơn 2000 năm, các triều đại phong kiến đã coi “quế Giao Chỉ” (Giao Chỉ là tên nước Việt Cổ) như là sản vật quý để trao đổi và triều cống (Lê Trần Đức, 1990). Song, hiện nay vẫn chưa xác định cụ thể cây được trồng từ bao giờ. Nhiều vùng quế đã được hình thành từ lâu đời ở Yên Bái; Quảng Ninh; Thanh Hoá (Thường Xuân); Quảng Nam (Trà My, Phước Sơn) và Quảng Ngãi (Trà Bồng) … Quần thể quế mọc hoang dại được phát hiện trong các kiểu rừng kín thường xanh còn nguyên sinh hay tương đối nguyên sinh ở độ cao 500 m (miền Bắc) – 700 m (miền Nam) trở lên. Tuy nhiên, do quá trình chọn lọc và trồng trọt lâu dài, giữa quế mọc tự nhiên và các giống quế trống hiện có nhiều sai khác về phẩm chất dược liệu.
Quế là cây gỗ ưa sáng và chịu bóng, nhất là thời kỳ cây còn nhỏ (1 – 5 năm). Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình năm cho cây sinh trưởng phát triển mạnh là 22 – 23oC; độ ẩm không khí trung bình khoảng 80%; lương mưa hàng năm khoảng 1.600 mm hoặc hơn. Cây mọc được trên nhiều loại đất ẩm, nhiều mùn và tơi xốp, pH: 4,5 – 5,5. Quế có bộ rễ cọc khoẻ, cắm sâu xuống đất nên ít bị đổ khi có gió bão.
2. Cách trồng
Cây quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Quế được trồng từ lâu ở một số tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam.
Cây có thể nhân giống được bằng hạt, chiết cành hoặc tách mầm. Hiện nay, phương pháp nhân giống bằng hạt qua vườn ươm là chủ yếu.
Hạt giống quế cần lấy ở cây 15 – 20 năm tuổi, mọc tốt, tán lá đều, quả mập và sai. Khi quả chín được 1/3, vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu tím thì thu hái. Nên lấy quả ở những cành cách ngọn cây 1 m trở xuống. Quả lấy về cần ủ 2 – 3 ngày cho chín đều, sau đó đem xát bỏ thịt quả, đãi lấy hạt. Hạt quế mất sức nảy mầm rất nhanh, không chịu được điều kiện bảo quản khô. Vì vậy, cần gieo ngay khi mới thu hái. Nếu chưa gieo ngay, phải bảo quản trong cát ẩm bằng cách trải 1 lớp hạt, 1 lớp cát trong góc nhà nơi thoáng mát. Hàng ngày đảo hạt một lần, loại bỏ hạt thối. Cần giữ cát luôn luôn ẩm ở mức khi dùng tay nắm cát rồi xoè ra, cát vẫn tơi, rời. Chú ý không giữ hạt lâu quá 2 tuần.
Trước khi gieo, hạt cần được xử lý trong nước 40 – 45oC trong 6 giờ, loại bỏ hạt nổi, rửa sạch, để ráo nước, ủ trong cát ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo vào bầu. Bầu cao 12 – 13 cm, đường kính 6 – 7 cm, thành phần giá thể gồm 85 – 89% đất, 10 -14% phân chuồng mục và 1% supe lân. Bầu được xếp thành luống, trên làm giàn che với độ che phủ khoảng 50%.
Cũng có thể gieo hạt trên luống ở vườn ươm. Hạt gieo sâu 2 cm, cách nhau 20 cm, phủ một lớp đất mỏng và làm giàn che như trên.
Sau khi gieo 15 ngày, hạt nảy mầm. Khi cây được 3 – 5 tháng tuổi, tiến hành bón thúc bằng phân vô cơ. Có thể bón theo tỷ lệ 2:2:1 (30g amoni sulfat + 40g supe lân + 10g kali clorua) hoặc 3:3:1 (45g amoni sulfat + 60g supe lân + 10g kali clorua), hòa phân với nước tưới cho 1 m2. Chú ý giữ ẩm và làm cỏ thường xuyên. Sang thu, cây đã cao 25 – 30 cm, có thể dỡ dần giàn che. Cây quế con nuôi trong vườn ươm 1 năm, được bứng đi trồng vào mùa xuân năm sau. Trường hợp cây con không gieo trong bầu mà gieo ở luống, nếu không bứng được cả đất, có thể nhổ cây lên, cắt bớt rễ cọc, nhúng vào dung dịch phân bón một đêm, rồi đem trồng cũng đạt tỷ lệ sống cao (90%).
Các phương pháp nhân giống vô tính (chiết cành và tách mầm) tuy có hệ số nhân thấp, nhưng có ưu điểm quan trọng là duy trì được những đức tính tốt của cây mẹ. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất quế, nhất là trong tình hình hiện nay, ở nhiều nơi quế có hiện tượng thoái hóa và tính chống chịu bệnh giảm. Sau khi chon lọc, việc nhân dòng quế không thể thực hiện được bằng con đường nhân hữu tính.
Khi chiết quế, chọn cành có đường kính 1,5 – 2cm, mọc thẳng để tiến hành theo phương pháp chiết thông thường. Chiết vào tháng 8 – 9, đến tháng 2 – 3 năm sau, đã có thể cất đi trồng.
Quế có khả năng tái sinh khá mạnh. Sau khi thu vỏ, cây quế được chặt sát gốc, sẽ sinh nhiều chồi non. Để lại một chồi, tiếp tục chăm sóc để sau này thu vỏ. Còn những chồi khác, chọn những chồi mọc từ rễ ngang gần mặt đất, tách lấy cả đoạn rễ mang đi trồng.
Quế ưa đất rừng có lớp đất mặt dày, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước, độ pH 4 – 5, độ dốc không quá 35%, độ cao trên 400 m, nhiều ánh sáng và khuất gió.
Khi trồng, đào hố 30 x 30 x 30 cm. Nếu có điều kiện nên bón lót 5 – 7 kg phân chuồng, phân xanh ủ mục. Quế thường được trồng xen với mía, sắn hoặc chè với khoảng cách 2 x 5 m hoặc tùy theo yêu cầu của cây trồng xen. Đây là những mô hình có giá trị kinh tế cao. Khi chăm sóc cho cây trồng xen cũng đồng thời chăm sóc cho quế. Nếu không trồng xen, khoảng cách trồng là 2 x 2m, mật độ khoảng 2500 cây/ha. Trong trường hợp này, cần làm cỏ, phát quang, xới đất, vun gốc cho quế trong 4 năm đầu. Những năm sau, cần phát dây leo, cây bụi hàng năm hoặc 2 năm một lần.
Bệnh đáng kể nhất của quế là bệnh tua mực, tức là cây bệnh bị chảy nhựa ra trông giống như tua con mực. Chưa rõ nguyên nhân, chỉ biết, quế trồng ở độ cao trên 400 m ít và trên 700 m hầu như không mắc bệnh này.
Cây quế nhân giống bằng phương pháp vô tính sau 6 – 7 năm cho thu hoạch, nhưng trồng bằng hạt phải sau 20 năm. Trong quá trình nuôi dưỡng, cần tỉa thưa 2 lần. Đối với cây trồng từ hạt, tỉa thưa lần thứ nhất vào tuổi 8 – 10, lần thứ hai vào tuổi 15. Cây trồng bằng chiết cành hoặc chồi thì tùy tình hình sinh trưởng của cây mà tỉa cho phù hợp. Cây để tái sinh liền chân không cân tỉa. Cường độ tỉa khoảng 30 đến 50% số cây.
Trung bình mỗi hecta cho 5 tấn quế vò và 7 tấn quế chi.Vỏ thân, vò cành non được phơi hoặc sấy khô (Quế chi).
Vỏ thân được phơi khô trong bóng râm (Quế nhục).
Thu tinh dầu từ cành hoặc lá.
3. Thành phần hóa học
Cây quế Trung Quốc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong vỏ quế Trung Quốc ngoài các chất thường gặp như chất nhầy, tanin, có 1,2% tinh đầu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là 75 – 90% cinnamic aldehyde, cinnamyl acetate (3-phenylprop-2-enyl acetate) C6H5-CH=CH-CH2-COOCH3, propyl phenyl acetate C6H5-(CH2)2-COOCH3. Trong tinh dầu quế Trung Quốc người ta không thấy có eugenol.
Ngoài vỏ quế, người ta cũng khai thác cả lá quế để cất tinh dầu.
Cây quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Vỏ quế nói chung chứa tinh dầu có thể đến 4% (thông thường 1%); tanin (gồm nhiều đơn vị 3,5,3′,4′-tetrahydroflavan-3,4-diol dã được polyme hóa); catechin và proanthocyanin; dầu béo; chất nhựa; chất nhầy; gôm; đường; calcium oxalate (calci oxalat); 2 hợp chất có tác dụng diệt côn trùng (cinnzeylanine và cinnzeylanol); tinh bột; protein; chất vô cơ; coumarin … (A. Y Leung và cs, 1996; Prosea 13, 1999).
Cinnamomum cassia (quế Trung Quốc, quê đơn, quế bì) là loài được trồng nhiều ở Việt Nam.
Vỏ chứa tinh dầu 1 – 2%; tanin; chất nhựa; đường; calci oxalat; chất nhầy và coumarin.
Tinh dầu quế chứa cinnamic aldehyde 75 – 90%; salicylaldehyde; methylsalicylaldehyde; methyleugenol; eugenol (vết). Ngoài га, còn có 2′-hydroxycinnamaldehyde (Kwon Byoung và cs. 1996) và polysaccharid (Ra Kuuna-soo và cs, 1997).
Theo tài liệu của W. Tang và cs, 1992, vỏ quế có β-sitosterol; choline; acid protocatechuic; acid vanillic; acid syringic (ít). Nhiều năm gần đây, vỏ thân quế được chứng minh có nhiều diterpene có tác dụng bổ thể gọi là cinnacassiol: Cinnacassiol A và glycoside; cinnacassiol B và glycoside; cinnacassiol C1 và glycoside; cinnacassiol C2 và C3; cinnacassiol D1 và glycoside; cinnacassiol D2 và glycoside; cinnacassiol D3; cinnacassiol D4 và glycoside; cinnzeylanine; anhydrocinnzeylanol; anhydrocinnzeylanine.
Nhiều chất nhân thơm cũng có ở và thân như lyoniresinol 2α-Ο-β-D-glucopyranoside; 3,4,5-trimethoxyphenol-O-β-D-apiofuranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranoside; syringaresinol; 2 epicatechin là 5,7,3′ (hoặc 4′)-trimethylepicatechin và 5,7-O-dimethyl-3′,4’di-O-methylenepicatechin và 2 chất là cinnamic aldehyde cyclic syringyl glycerol 1,3-acetal và 5′-hydroxy-5-hydroxymethyl-4”,5”-methylenedioxy-1,2,3,4-dibenzo-1,3,5-cycloheptatriene.
Ngoài ra, còn có dần chất của flavonol gồm 3′-O-methyl-; 5,3′-di-O-methyl-; 5,7,3-tri-O-methylepicatechin và 4′-O-methyl-; 7,4′-di-O-methyl-; 5,7,4′-tri-O-methylcatechin cùng với epicatechin 3-O-, 8-C- và 6-O-β-D-glucopyranoside.
Các procyanidin gồm procyanidin B1 và các epime B2, B5 và epime B7, A1=2 và 2 procyanidin glucoside là procyanidin B2 8-C- và 6-O-β-D- glycopyranoside; procyanidin C1 và cinnamtannin A2.
Acid 3-(2-hydroxyphenyl)propanoic cùng với O-β-D-glucopyranoside và các chất cassioside; cinnamosid; 3,4,5-trimethoxyphenol-β-D-apiofuranosyl(1→6)-β-D-glucopyranoside đều có tác dụng chống loét (W. Tang và cs, 1992).
Theo Vernin và cs, 1990, tinh dầu cất từ vỏ quế thu thập được ở Trung Quốc chứa (E)-cinnamic aldehyde 65,5%; coumarin 8,7%; cinnamyl acetate 3,6%; 2-methoxycinnamaldehyde 2,7%; benzaldehyde 0,9%; 2-methoxybenzaldehyde 0,7%; benzyl benzoate 0,6%; cinnamyl alcohol (styron) 0,2%; 2-phenylethyl acetate 0,2%; eugenyl acetate 0,2%; (Z)-cinnamic aldehyde 0,1%; 2-phenethyl benzoate 0,1%; 3-phenylpropanal 0,1% và 80 chất khác dưới dạng vết (Prosea 13, 1999).
Theo Zhu và cs, 1993, tinh dầu lá quế thu thập ở Trung Quốc chứa cinnamic aldehyde 74,1%; 2-methoxycinnamaldehyde 10,5%; cinnamyl acetate 6,5%; coumarin 1,2%; benzaldehyde 1,1%; 2-phenylethyl acetate 0,7%; 2-phenylethanol 0,6%; 2-methoxybenzaldehyde 0,2%; 2-methylbenzofuran 0,2%; 3-phenylpropanal 0,2%; cinnamyl alcohol 0,2%; nerolidol 0,2%; acetophenone 0,1%; α-pinene 0,1%.
Tinh dầu lá quế được sản xuất ở một số nước (Prosea 13, 1999) và được ghi vào cuốn Tiêu chuẩn quốc gia Pháp (NFT 75-242 (12/1991). Theo tiêu chuẩn này, tinh dầu được cất từ lá, cuống lá và cành non. Hàm lượng trans-cinnamic aldehyde trong tinh dầu là 70% (Recueil de normes françaises 1992, Huiles essentielles, Afnor).
Mô sẹo và nhũ dịch nuôi cấy mô từ lá qué là nguồn nguyên liệu sản xuất (+)-epicatechin; procyanidin B2 procyanidin B4 và procyanidin B1. Các chất này là tiến chất của tanin ngưng tụ.
Chưa thấy tài liệu nào nói về tổng hợp cinnamic aldehyde bằng nuôi cấy mô (PROSEA 13, 1999).
Vỏ quế được ghi vào các dược điển Việt Nam và Trung Quốc. Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, vỏ quế phải chứa ít nhất 1% tinh dầu và tinh dầu phải chứa ít nhất 90% aldehyde toàn phần.
Có một số công trình về quế ở Việt Nam. Một công trình về quế 30 tuổi ở Thanh Hoá cho biết hàm lượng tinh dầu ở các bộ phận của cây như sau:
Quế hạ căn 1,49%; quế thượng châu 1,60%; quế thượng biểu 2,16%; vỏ cành to 1,60%; vỏ cành nhỏ 0,55%.
Tinh dầu lá quế và vỏ quế Thanh Hoá chứa cinnamic aldehyde là chủ yếu (44,36 – 70,00% ở tỉnh dầu lá, 77% ở vỏ thân).Lê Tùng Châu và cs (1984) khảo sát tinh dầu lá và vỏ quế ở xã Viễn Sơn, huyện Văn Yên, Yên Bái cho biết:
– Tinh dầu trong lá cao vào tháng 3 và tháng 8 (tháng trước vụ bóc vỏ) và thấp nhất vào các tháng 10, 11 (ở thời điểm này quả già).
– Quế nhiều tuổi cho nhiều tinh dầu hơn cây ít tuổi:
Bộ phận Hàm lượng tinh dầu (%) Khảo sát Quế 8 tuổi Quế 30 tuổi Vỏ cành 1,09 1,46 Lá 0,85 1,17 – Một số thành phần hóa học trong tinh dầu quế:
Tinh dầu lá quế Tinh dầu vỏ quế trans-cinnamic aldehyde + + trans-cinnamyl acetate + + trans-methyl cinnamate + + coumarin + + 3-phenylpropanal – + cinnamyl alcohol – + – Hàm lượng cinnamic aldehyde trong tinh dầu vỏ là 80 – 95% và trong tinh dầu lá là 50 – 80%.
Hàm lượng cinnamic aldehyde cao trong tinh dầu lá quế gợi ý là các loài quế nghiên cứu nói trên đều là C. cassia.
Thân non đã phơi hay sấy khô (quế chỉ) còn được ghi vào Dược điển Trung Quốc 1997 (bản in tiếng Antı).
Quế chi thuộc nhóm thuốc giải biểu cay ấm (phát tán phong hàn).
Cinnamomum loureiroi Nees là loài quế mà giới đông y rất quan tâm khai thác. Vỏ lấy từ phần trên mặt đất từ dưới lên trên, mang nhiều tên khác nhau :
– Quế hạ căn lây từ cách mặt đất 0,20 – 0,40 m đến 1,20 m. Loại này có chất lượng kém.
– Quế thượng châu lấy từ 1,20 m lên tới chỗ phân cành thứ nhất. Loại này được coi là tốt nhất.
– Quế thượng biểu lấy từ cành to.
– Quế chi lấy từ những cành nhỏ.
Ở Thanh Hoá và Nghệ An, quế sau khi thu hái chỉ ủ những thanh lấy ở thân và cành tơ trong thời gian nửa tháng (mùa nóng) và 1 – 2 tháng (mùa lạnh) (Đỗ Tất Lợi, 1999). Vỏ quế chứa 1 – 7% tinh dầu. Đó là một chất lỏng màu nâu có thành phần chủ yếu là cinnamic aldehyde. Theo Lawrence, 1995, tinh dầu C. loureiroi thu thập được ở Việt Nam chứa (E)-cinnamic aldehyde 92,5%; 3-phenylpropanal 0,8%; (Z)-cinnamic aldehyde 0,6%; coumarin 0,6%; benzaldehyde 0,3%; eugenol 0,3%; β-caryophyllene 0,1%; benzyl benzoate 0,1%; camphor 0,1%; 1,8-cineol 0,1%; Iinalool 0,1%; β-phellandrene 0,1%; salicylaldehyde 0,1%; α-terpineol 0,1% (Prosea 13, 1999).
Qua thí nghiệm, hàm lương tỉnh dầu trong vỏ là 3,5% trước khi ủ và 7,2% sau khi ủ. Hàm lượng cinnamic aldehyde trong tinh dầu cũng thay đổi: 50% trước khi ủ và 70% sau khi ủ.
Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm ở Việt Nam quế được đánh giá xếp hạng theo các nguyên tắc như sau:
– Quế rừng mọc tự nhiên tốt hơn quế trồng.
– Quế càng già càng tốt (trên 20 năm).
– Quế tốt được thể hiện ở hình thái: lòng son da khế, có đường bạch chỉ phân du.
– Quế ủ (đúng quy cách) tốt hơn quế không ủ (Phó Đức Thuần, 1980).
Tùy theo mùi vị nước quế mài, quế được xếp thành nhiều loại:
Loại 1: Được phân chia thành nhiều hạng:
– Hạng 1: Có màu trắng nước gạo, vị cay, ngọt, chát
– Hạng 2: Có màu xanh chè tươi
– Hạng 3: Có màu đỏ, vị cay ngọt.
Loại 2: Màu nâu lờ lờ, vị cay ngọt
Loại 3: Màu nhạt, vì cay nóng, ít ngọt
Quế tốt nhiều hay ít tùy theo vùng. Tốt nhất là quế Thanh Hoá. Có nhiều hạng:
– Hạng 1: quế Bù Dọc, Bù Kha
– Hạng 2: Quế Bù Tà Leo
– Hạng 3: Quế Lê Khê
Quế Quỳ Châu tốt nhất ở khe Nhung, khe Đai Ba, khe Thanh Nga, khe Đồng Văn, Sa Chúc, khe Nha.
Quế Quảng tới nhất ở Trà My.
Cinnamomum zeylanicum Blume
Vỏ thân chứa tinh dầu 0,5 – 2,0%; dầu béo; tanin; nhựa dầu 10 – 12%; dầu béo; protein; cellulose; pentosan; chất nhầy, tinh bột; canxi oxalat; chất vô cơ.
Tinh dầu từ vỏ thân chứa (E)-cinnamic aldehyde 70%; eugenol 8,0%; cinnamyl acetate 5,5%; β-caryophyllene 2,3%; linalool 1,6%; α-terpineol 1,4%; benzaldehyde 1,1%; 3-phenylpropanal 0,8%; terpinen-4-ol 0,8%; camphor 0,8%; benzyl benzoate 0,5%; 1,8-cineol 0,5%; α-copaene 0,5%; coumarin 0,5%; 2-methoxycinnamaldehyde 0,5%; β-phellandrene 0,5% (Lawrence và cs, 1993).
Theo tác giả khác, tinh dầu vỏ chứa (E)-cinnamic aldehyde 46,5%; limonene 8,2%; β-caryophyllene 6,2%; p-cymene 4,2%; eugenol 3,6%; α-pinene 3,5%; linalool 3,0%; σ-3-carene 2,9%; (E)-cinnamyl acetate 2,6%; camphor 2,6%; benzyl benzoate 1,8%; camphene 1,6%; α-copaene 1,4%; β-pinene 1,0%; B-phellandrene 1,0%; α-humulene 0,9%; 2-methoxycinnamaldehyde 0,8%; benzaldehyde 0,5%; eugenyl acetate 0,3%; myrcene 0,1%; α-terpineol 0,1% (Bouzid và cs. 1997).
Lá chứa 0,7 – 1,2% tinh dầu. Các trung tâm sản xuất tinh dầu lá là Sri Lanka, Nam Ấn Độ, Madagascar và các đảo Comores. Tinh dầu là chất lỏng linh động, trong, màu nâu đỏ nhạt đến nâu thẫm, mùi đặc biệt của quế. Tinh dầu đã được ghi vào tiêu chuẩn Pháp T7 5-211 (5/1979). Theo tiêu chuẩn này, hàm lượng phenol toàn phần trong tinh dầu lá là 85 – 95% nếu đi từ Seychelles, 75 – 85% nếu đi từ Sri Lanka, 80 – 95% nếu đi từ Nam Ấn Độ, 70 – 95% nếu đi từ Madagascar và các đảo Comores. Hàm lương các hợp chất carbonyl tính ra cinnamic aldehyde (mức tối đa) là 7% nếu đi từ đảo Seychelles, 5% nếu đi từ Sri Lanka, 4% nếu đi từ Nam Ấn Đô, 7% nếu di từ Madagascar và các đảo Comore (Recueil de normes françaises 1992, Huiles essentielles, Afnor).
Theo Wong K. C và cs, 1996, tinh dầu từ vỏ thân chứa benzyl benzoate 84,69%, còn từ lá 65,42% (CA. 125: 53.653w).
4. Tác dụng dược lý
Cây quế (Cinnamomum cassia Nees ex Blume) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tinh dầu quế chứa cinnamic aldehyde là thành phần chủ yếu có tác dụng diệt khuẩn in vitro đối với một số vi khuẩn ở độ pha loãng cao. Tác dụng kháng khuẩn đối với các giống vi khuẩn khác nhau, theo thứ tự hoạt tính giảm dần Salmonella typhi, tụ cầu vàng, Bacillus mycoides, Bacillus subtilis, Candida albicans, Shigella flexneri, liên cầu khuẩn tan máu, trực khuẩn lao, Sh. dysenteriae, phế cầu khuẩn. Tác dung mạnh đối với phẩy khuẩn tả, nồng độ ức chế tối thiều đối với các giống phẩy khuẩn tả Eltor, Inaba và Ogawa là 2/10.000
Tác dụng diệt Entamoeba moshkovskii với nồng độ ức chế tối thiểu 1/2.560. Còn có tác dụng ức chế cả đối với siêu vi khuẩn. Tác dụng ức chế tương đối yếu hơn đối với các giống vi khuẩn: Sh. shigae, Sh. sonnei, trực khuẩn coli, trực khuẩn mủ xanh. Tinh dầu quế có tác dụng diệt nấm với Trichophyton mentagrophytes. Hoạt chất cinnamic aldehyde có tác dụng với Microsporum audouinii, Aspergillus nidulans, Cryptococcus neoformans, Penicillium rugulosum, Sporothrix schenckii, Trichophyton rubrum, T. mentagrophytes, T. violaceum, Microsporum gypseum, Histoplasma capsulatum và Blastomyces dermatitidis; tác dụng ức chế chủ yếu do phản ứng của aldehyde với các nhóm thiol tham gia vào sự sinh trưởng của nấm. Cinnamic aldehyde tác dụng hiệp đồng với natri clorid.
Cinnamic aldehyde có tác dụng an thần, làm giảm hoạt động tự nhiên của chuột nhắt và có tác dụng đối kháng với hoạt động vận động gây bởi apomorphine hoặc methamphetamin ở chuột nhắt, có tác dụng kéo dài giấc ngủ gây bởi hexobarbital, tác dụng hạ nhiệt và chống sốt ở chuột nhắt. Tác dụng ức chế và kích thích trung tâm của cinnamic aldehyde có thể do tương tác với các nơron đáp ứng với monoamin ở hệ thần kinh trung ương, và có vai trò quan trọng trong tác dụng điều trị của vỏ thân hoặc cành quế.
Ở chó và chuột lang gây mê, cinnamaldehyde có tác dụng hạ áp, có thể chủ yếu do giãn mạch ngoại biên. Sự giãn mạch này vẫn tồn tại ở chó sau khi huyết áp đã phục hồi. Trên hồi tràng chuột lang có lập, có tác dụng chống co thắt cơ trơn gày bởi acetylcholine và histamine, và cũng có tác dụng trực tiếp trên cơ trơn va gây giãn kiểu papaverine. Trên tim chuột lang cô lập, cinnamaldehyde làm tăng lực co cơ và nhịp tim, tuy vậy việc dùng nhắc lại dẫn đến giảm dần những tác dụng này và ức chế tim. Cinnamaldehyde gây giải phóng catecholamine từ tuyến thượng thận của chó, tác dụng tăng lực co cơ và nhịp tim trên tim chuột lang cô lập được truyền dịch có lẽ do giải phóng catecholamine nội sinh.
Cao nước quế cho chuột cống trắng bị viêm thận uống có tác dụng dự phòng sự tăng nồng độ protein trong nước tiểu, nhưng không ảnh hưởng trên sự phục hồi của thiếu máu gây bởi mất máu cấp tính, và trên số lượng bạch cầu và tế bào lympho. Tác dụng chặn miễn dịch được quy cho cao này. Tiêm phúc mac cao nước quế cho chuột cống trắng với liều 100 mg/kg có tác dụng dự phòng loét do stress khi để chuột trong bầu không khí lạnh (3 – 5oC), hoặc ngâm trong nước
Cao này cũng ức chế mạnh loét dạ dày do tiêm dưới da serotonin cho chuột cống trắng, và làm tăng lưu lượng máu ở niêm mạc dạ dày, cho thấy tác dụng chống loét của quế là do ức chế những yếu tố tấn công và tăng cường những yếu tố bảo vệ.Tinh dầu quế và cao quế còn có tác dụng chống chưng huyệt khối, chống viêm, chống dị ứng, làm tàng lượng protein toàn phần và gamma globulin trong máu, và làm giảm tỷ lê vỡ dưỡng bào do nhỏ dùng dịch nọc rắn mang bạnh lên mạc treo ruột hoặc do tiêm tĩnh mạch nọc rắn cho chuột lang.
Cinnamaldehyde với nồng độ 4,8 µg/ml ức chế sư phát triển của tế bào bệnh bạch cầu L1210 trong nuôi cấy 50%. Tác dụng ức chế này được quy cho nhóm aldehyde của cinnamaldehyde. Chất này ức chế sự phát triển của khối u W2K-11 gây bởi SV40 ở chuột nhất trắng, và cũng được thử nghiệm về hoạt tính chống đột biến đối với các chất hóa học gây đột biến hoặc chiếu tia tử ngoại. Liều chết LD của cinnamaldehyde trên chuột nhất trắng bằng đường tiêm tĩnh mạch là 132 mg/kg, tiêm phúc mạc: 610 mg/kg; đường uống: 2.225 mg/kg.
Nồng độ tinh dầu quế tiêu diệt 100% trong thử nghiêm in vitro trên 2 chủng Trichomonas vaginalis nuôi cấy trong môi trường là 50 µg/ml.
Đã điều trị 58 trường hợp viêm khớp dạng thấp bằng bài thuốc trong có quế chi và một số được liệu khác. Kết quả điều trị cho thấy thuốc có tác dụng làm ổn định giảm viêm, tác dụng chậm nhưng bền vững. Kết quả tốt nhất trong trường hợp chức năng khớp còn tổn thương ít.Một chế phẩm thuốc cổ truyền Nhật Bản có quế và 7 dược liệu khác được coi là có tác dụng chống xơ cứng động mạch, đã được trộn với cholesterol và cho động vật uống. Thuốc đã có tác dụng ngăn chặn sự tăng cholesterol toàn phần, phospholipid và collagen trong máu và phòng ngừa sự phát triển xơ vữa đông mạch do tăng lipid máu ở đông vật thí nghiệm.
Một thuốc cổ truyển Nhật Bản khác gồm 10 dược liệu trong đó có quế, có nhiều hoạt tính kích thích miễn dịch. Cao chiết với nước nóng của vỏ quế có tác dụng hoạt hóa bổ thể mạnh.
Quế bì có trong thành phần một bài thuốc cổ truyển Trung Quốc được dùng để điều trị các bệnh viêm mạn tính và các bệnh tự miễn dịch. Trên thực nghiệm, bài thuốc này tăng cường tính kích thích miễn dịch của một số hóa dược kích thích miễn dịch như phorbol myristate acetate và phytohaemagglutinin.
Một bài thuốc bổ dương Trung Quốc gồm quế và phu tử có tác dụng làm tăng lượng Cyclic adenosine monophosphoric (có vai trò trong điều hòa sự vận chuyển diễn giải và nước trong cơ thể) trong huyết tương chuột đã gây thiểu năng thực nghiêm tuyến giáp hoặc và thượng thận. Một bài thuốc cổ truyền Trung Quốc khác được dùng chữa bệnh phụ khoa trong đó có quế và một số được liêu khác, đã có tác dụng đối kháng với luteotrophin và kháng oestrogen yếu trong thực nghiêm trên động vật.
Một tài liêu cho biết 3 loài quế: C. cassia, C. loureiroi và C. zeylanicum có tác dụng chống đái tháo đường.
Chất acid hydroxyphenyl propanoic phân lập từ vỏ quế bì và glucoside của nó có tác dụng phòng ngừa loét dạ dày gây bởi serotonin ở chuột cống trắng.
Công dụng và liều dùng quế Trung Quốc
Quế có vị ngọt, cay, mùi thơm, tính rất nóng, có tác dụng bổ hỏa, hồi dương, ẩm thận tỳ, thông huyết mạch, trừ hàn tích.
Quế được dùng làm thuốc cấp cứu bệnh do hàn như chân tay lạnh, mạch chậm nhỏ, hôn mê, đau bụng trúng thực, phong tê bại, chữa tiêu hóa kém, tà lỵ, thũng do tiểu tiện bất lợi, kinh bế, rắn cắn, ung thư. Ngày dùng 1- 4g dưới dạng thuốc hãm, hoàn tán hoặc mài với nước mà uống.
Kiêng kỵ: Những người âm hư, dương thịnh và phụ nữ thai nghén không nên dùng.
Theo tài liệu nước ngoài, vỏ quế bì được dùng trong y học Trung Quốc để chữa những chứng bệnh sau:
– Cảm lạnh, phối hợp với nhân sâm, hoàng kỳ, thục địa.
– Tiêu chảy, phối hợp với mộc hương, phục linh, nhục đậu khấu.
– Đau vùng hông, phối hợp với phu tử, địa hoàng.
– Đau dạ dày, đau bụng, đau kinh, phối hợp với đương quy, hương phụ.
– Mụn nhọt lâu tành, phối hợp với ma hoàng, cao nhung, bạch giới tử.
Liều dùng mỗi ngày: 2 – 7,5g, sắc nước uống. Hoặc tán bột, mỗi lần uống 0,5 – 2g, ngày uống 1 – 2 lần.
Vỏ cành quế trị:
– Cảm mao, sốt, ra mồ hôi, sợ lạnh, phối hợp với bạch thược, cam thảo, sinh khương, hồng táo.
– Phong hàn thấp, đau khớp, phối hợp với phu tử, sinh khương, cam thảo.
– Tim hồi hộp, tức ngực, ho có đờm loãng, phối hợp với phục linh, bạch truật, cam thảo. Bế kinh dau bụng, thống kinh, phối hợp với xuyên khung, đương quy, ngô thù du, xích thược.
– Sốt rét, phối hợp với xuyên khung, bạch chỉ, thương truật.
Liều lượng: Ngày 2 – 11g, dạng thuốc sắc.
Quế rành trị:
– Đau dạ dày do lạnh, tiêu chảy.
– Đau phong thấp.
– Vết thương phần mềm (dùng bột rác vết thương).
Liều dùng: Mỗi ngày 2 – 11g, sắc nước uống. Còn dùng dạng bột, mỗi lần 1 – 3g.
Quế Thanh chủ trị :
– Đau dạ dày, đau bụng do lạnh, uống dạng bột 1 – 2g.
– Loét dạ dày, hành tá tràng.
– Vết thương chảy máu, dùng bột rắc.
– Gãy xương, dùng bột làm thành hồ, bôi bên ngoài.
Liều dùng: Mỗi ngày 2 – 11g, dạng thuốc sắc. Hoặc dạng bột, mỗi ngày 1 – 2g.
Ở Ấn Độ, quế được dùng như sau:
– Quế Thanh được dùng làm gia vị. Lá có tác dụng gây trung tiện; chữa đau bụng và tiêu chảy. Vỏ, đặc biệt là vỏ rễ, chữa khó tiêu và các bệnh về gan.
– Quế quan: Vỏ được dùng rộng rãi làm gia vị. Nó là chất làm săn, kích thích, gây trung tiện, chữa buồn nôn, nôn mửa và được dùng làm chất bổ trợ trong những thuốc làm dễ tiêu. Nó có tác dụng kích thích cục bộ mạnh nên đôi khi được dùng trong đau dạ dày, đau bụng, đây hơi và suy yếu cơ năng dạ dày,.
Ở Nepal, quế được dùng với tác dụng long đờm trong một bài thuốc gồm 6 dược liệu để chữa viêm phế quản, khó thở.
Ở Indonesia, người ta dùng quế rành cho thêm vào các thuốc uống để chữa ho có kèm theo nôn, bệnh phong, viêm nhiễm đường hô hấp, lao, nhức đầu, đau vùng thượng vị.
Bài thuốc có quế
Các bài thuốc được dùng ở Việt Nam:
1. Chữa cảm mạo (Quế chi thang)
Quế chi 8g, cam thảo 6g, thược dược 6g, sinh khương 6g, táo đen 4 quả, nước 600 ml, sắc còn 200 ml. Chia 3 lần uống nóng trong ngày.
2. Chữa đau bụng
Bột vỏ cành quế 4g, ngâm rượu uống.
3. Chữa tiêu chảy
Vỏ thân quế 4g – 8g, gao nếp rang vàng 10g, hat cau già 4g, gừng nướng 2 lát. Sắc uống.
4. Chữa sai khớp, bong gân, chấn thương
Cao dán gồm hỗn hợp tinh dầu quế, hối, menthol, camphor, cao ngải cứu, cao cúc tần, được trộn đều vào hỗn hợp keo cao su.
5. Chữa thấp khớp mạn tính thể hàn (Trường hợp bệnh đang tiến triển, có hoặc không sưng khớp và đau nhiều)
- Quế chi 12g, rễ cỏ xước 40g, hy thiêm 28g, thổ phục linh 20g, cỏ nhọ nồi 16g, ngải cứu 12g, thương nhĩ tử 12g, thiên niên kiện 12g. Sao vàng, sắc đặc, ngày uống 1 thang trong 7 – 10 ngày liền.
- Quế tiêm 12g, bạch thược 12g, phòng phong 12g, thương truật 12g, ma hoàng 8 – 12g, cam thảo 8g, hắc phụ 8g. Sắc và chia 3 lần uống trong ngày.
- Quế chi 8g; độc hoạt, tang ký sinh, tần giao, bạch linh, phòng phong, tục đoạn, ý dĩ, bạch thược, xuyên quy, ngưu tất, thục địa, đảng sâm, mỗi vị 12g; xuyên khung 8g, cam thảo, tế tân, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
- Quế chi 260g; thương truật 260g, hắc phụ chế, cam thảo, mỗi vị 160g; ma hoàng, tế tân, mỗi vị 80g. Thương truật ngâm nước gạo, thái mỏng sao vàng, các vị khác thái nhỏ phơi khô, tán lẫn, ray min. Ngày uống 20g chia 2 lần trước bữa ăn.
6. Chữa viêm khớp dạng thấp đang tiến triển
Quế chi, bạch thược, thương truật, phòng phong, tri mẫu, mỗi vị 12g; gừng tươi, ma hoàng, hắc phụ chế, mỗi vị 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
7. Chữa suy nhược cơ thể do bệnh đường tiêu hóa
Nhục quế 4g; đảng sâm, bạch truật, hoàng kỳ, đại táo, mỗi vị 12g, trần bì, ngũ vị tử, mỗi vị 6g, cam thảo 4g; gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.
8. Chữa dương hư, khí lực suy nhược, di tinh, liệt dương, thai nghén khó khăn, sợ lạnh
Nhục quế 12g, thục địa 24 – 32g, sơn thù, hoài sơn, bạch linh, mỗi vị 16g; mẫu đơn, trạch tả, mỗi vị 8g. Tán bột làm viên, mỗi ngày uống 30 – 40g, hay sắc uống.
9. Chữa viêm phế quản mạn tính
Quế chi 12g, phục linh 16g, bạch truật 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
10. Chữa hen phế quản khi hết cơn hen
- Quế chi 8g; đại táo 12g, bạch thược, hoàng kỳ, mỗi vị 8g; gừng 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Nhục quế 4g; đảng sâm, bạch truật, phụ tử chế, mỗi vị 12g; can khương 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
11. Chữa viêm khớp cấp
Quế chi 8g, thạch cao, ngạnh mễ, mỗi vị 20g; tri mẫu, hoàng bá, tang chi, mỗi vị 12g, thương truật 8g. Sắc uống ngày một thang.
12. Chữa nhồi máu cơ tim
Nhục quế 6g, đương quy, đan sâm, nhục thung dung, ba kích, mỗi vị 12g; nhân sâm, phụ tử chế, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
13. Chữa thiếu máu
Quế tâm 6g, đảng sâm (thay nhân sâm) 16g; phục linh, hoàng kỳ, thục địa, bạch thược, đại táo, mỗi vị 12g, đương quy, ngũ vị tử, viễn chí, mỗi vị 10g; bach truật 8g, cam thảo, trần bì, mới vị 6g, gừng 2g. Sắc uống ngày một thang.
14. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng
Quế chi 8g, hoàng kỳ lông; đại táo 12g, hương phụ, bạch thược, mỗi vị 8g; sinh khương, cam thảo, cao lương khương, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
15. Chữa viêm cầu thận cấp tính
Quế chỉ 8g, bạch truật, phục linh, trạch tả, mỗi vi 12g; trư linh 8g. Sắc uống ngày một thang.
16. Chữa kinh nguyệt không đều, chậm kinh:
Nhục quế 4g, bạch truật, đảng sâm, bạch thược, hoàng kỳ, mỗi vị 12g, phục linh, thục địa, xuyên khung, đương quy, mỗi vị 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
17. Chữa bế kinh, chậm kinh đau bụng
Quế chi 12g, ích mẫu, củ gấu, mỗi vị 20g, ngải cứu 16g, gừng sao cháy 12g. Sắc uống ngày một thang.
18. Chữa bế kinh, vô kinh
Quế chi 8g; ngưu tất, đảng sâm, mỗi vị 12g; đương quy, xuyên khung, bạch thược, nga truật, đan bì, mỗi vị 8g, cam thảo 4g. Sác uống ngày một thang.
19. Chữa nôn mửa khi có thai
Quế chi 8g, bạch thược 12g, đại táo 8g, cam thảo, sinh khương, mỗi vị 6g. Sắc uống.
20. Chữa viêm mũi dị ứng
Quế chi 8g, hoàng kỳ 16g; bạch thược 12g; bach truật 8g, phòng phong, đại táo, mỗi vị 6g, gừng 2g. Nếu viêm cấp tỉnh chảy nước mũi nhiều, thêm ma hoàng 4g, tế tân 6g. Nếu mệt mỏi, ăn kém, đoạn hơi, thêm đảng sâm 16g, kha tưt 6g.
21. Kẹo ngậm chống viêm họng mũi cho công nhân lặn
Keo có hỗn hợp các tinh dầu bạc hà, hương nhu, gừng, quế và menthol, vitamin C, acid citric.
22. Trúng phong quyết lạnh, hôn mê
Quế tốt 12g, sắc, cho uống dần dần.
23. Thuốc ngâm rửa trị viêm tắc động mạch
Quê chi 8g, đào nhân, kê huyết đằng, tam lăng, mỗi vị 12g. Đun sôi kỹ lấy nước ấm ngâm ngày 2 lần.
24. Chữa viêm tắc động mạch
Quế chi 12g, đan sâm 20g, hoàng kỳ 20g, xuyên quy vỹ 16g, xích thược 12g, bạch chỉ 12g, nghê 12g, nhũ hương 12g, một dược 12g, hồng hoa 12g, đào nhân 12g, tô mộc 12g. Sắc uống ngày một thang.
Các bài thuốc được dùng ở Trung Quốc:
1. Chữa cao huyết áp có kèm bệnh về tim
Quế 6,6g, đỗ trọng 12g, hoàng bá 10g, sa nhân 6,6g, cam thảo 6,6g. Thêm 800 ml nước, dun sôi trong 15 – 20 phút, chia 3 lần uống trong ngày.
2. Chữa suy tim, viêm cơ tim với các biểu hiện phù, khó thở, loạn nhịp tim
Quế 15,5g, gừng 15,5g, sinh địa 15,5g, gai mèo 15,5g, mạch môn 9g, keo da lừa 9g, táo ta 3 quả, cam thảo 6g. Sắc và chia 3 lần uống trong ngày
3. Chữa bệnh cuồng loạn (hysteria), loạn thần kinh tim, mắt ngủ:
Quế 6g, phục linh 9g, táo ta (quả) 6g, cam thảo 4g. Đun sôi trong 800 ml nước trong 45 phút. Chia 3 lần uống trong ngày.
4. Chữa viêm thận
Quế chi 4,5g, cốc tinh thảo (hoa) 4,5g, táo ta (quả) 4,5g, bạch thược 4,5g, đương quy Nhật Bản 4,5g, cam thảo 3g, bạch mộc thông 3g. Sắc và chia 3 lần uống trong ngày.
5. Chữa thấp khớp
Quế chi 12,5g, phu tử chế 15,5g, bạch truật 17,5g, cam thảo 6g. Sắc và chia 3 lần uống trong ngày.
6. Chữa đái tháo đường giai đoạn đầu
Quế 10g, phụ và chế 15,5g, mai rùa nướng 15,5g, sa nhân 6g, cam thảo 6g. Sắc và chia 3 lần uống trong ngày.
7. Chữa đái tháo đường
Quế 3g, sơn dược 15,5g, phụ tử chế 12,5g, phục linh 12,5g, sơn thù 10g, trạch tả 10g, sinh địa 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống làm 3 lần trong ngày.
Địa chỉ mua cây quế Thanh Hóa uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm quế Thanh phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.









