Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Xuyên khung, còn gọi là sâm cóc (danh pháp khoa học là Oreocome striata (DC.) Pimenov & Kljuykov; đồng nghĩa: Ligusticum striatum DC.; Ligusticum wallichii Franch.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Hoa tán Apiaceae hay được dùng làm vị thuốc. Xuyên khung là từ chữ Hán 川芎 (chuānxiōng). Đây là loài cây có nguồn gốc từ vùng Hoa Bắc nhưng nơi cung cấp loại xuyên khung chất lượng dược tính cao nhất lại là Tứ Xuyên.
Xuyên khung (Rhizoma Ligustici wallichii) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây xuyên khung.
Trong con người, cái đầu được coi là bộ phận cao nhất, như vòm trời. Vị thuốc này chuyên trị các chứng về đầu, não, do đó có tên (khung: cao, cùng: chỗ cuối cùng). Tên xuyên khung vì vị thuốc nguồn gốc ở tỉnh Tứ Xuyên. Hiện đã di thực được vào nước ta.



Mô tả cây xuyên khung
Cây xuyên khung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây cao 30 – 120 cm, không lông. Rễ hình trụ. Thân đơn, ít tạo cành, phần gốc bao bọc trong màng bọc dạng sợi. Lá kép lông chim với 4 – 5 cặp lá chét. Hoa tán ở đầu cành kích thước 5 – 7 cm. Cánh hoa trắng, hình trứng ngược, gốc hình nêm. Quả bế hình trứng thuôn dài, kích thước 3 – 4 mm. Ra hoa và kết quả từ tháng 7 tới tháng 9. Mọc ở các sườn đồi có bóng râm trong rừng trên độ cao 1,500 – 3,700 m. Cây phân bố ở tây bắc Vân Nam (Trung Quốc), Ấn Độ, Nepal.
Cây xuyên khung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo lớn, sống lâu năm. Rễ phình lên thành củ, rất thơm. Thân mềm, có khía dọc, rỗng giữa. Lá xẻ lông chim, 2 – 3 lần, mọc so le, có cuống dài và bẹ to, các thùy mọc đối, hình mác, gốc tròn hoặc men theo cuống, đầu nhọn, thùy lớn lại chia thành những thùy nhỏ, nông và khía răng không đều, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục bóng. Cụm hoa mọc thành tán kép, tổng bao gồm những lá bắc nguyên hoặc chia 3 thùy hẹp, hoa nhỏ màu trắng. Quả bế, hình trứng. Toàn cây, nhất là rễ củ có tinh dầu. Mùa hoa quả: tháng 8 – 10.
Thông tin thêm
1. Bộ phận dùng, thu hái và chế biến
Cây xuyên khung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (thông tin này hiện tại không còn chính xác hoặc thiếu thông tin):
Xuyên khung chủ yếu được trồng tại tỉnh Tứ Xuyên, còn mọc ở Vân Nam, Quý Châu (Trung Quốc).
Đã di thực được vào nước ta. Tuy nhiên tại Sapa (Lào Cai) có đồng bào nói cây đó có sẵn tại tỉnh này từ trước. Nhưng dù sao cũng chỉ mới được phát triển trong vòng những năm gần đây. Hiện nay được trồng trên quy mô lớn. Cây ưa những nơi cao, có khí hậu mát như Sapa, việc trồng thí nghiệm tại đồng bằng chưa thành công.
Xuyên khung ưa đất tốt, nhiều mùn, có pha cát. Trồng bằng mắt cắt ở thân ra, mỗi bên mắt để chừng 1cm. Có thể trồng bằng mẩu thân rễ, nhưng trồng bằng mắt thì củ có hình khối tròn và đẹp.
Mùa trồng tốt nhất là cuối xuân, nếu trồng muộn quá, cây chưa kịp tốt và khỏe trước mùa đông tới. Cây trồng sau hai năm mới bắt đầu thu hoạch. Củ đào về, cắt bỏ cọng và rễ nhỏ, rũ sạch đất cát, phơi khô chỗ thoáng gió, nếu sấy, phải sấy ở nhiệt độ thấp cho khỏi bay mất nhiều tinh dầu.
Năng suất một hecta là 2 tấn củ khô.
Cây xuyên khung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Xuyên khung có nguồn gốc ở vùng Đông Bắc Trung Quốc (?). Cây đã được trồng từ lâu đời, hiện không còn thấy trong hoang dại. Xuyên khung cũng được trồng nhiều ở Đài Loan, Nhật Bản và Triều Tiên.
Vào khoảng năm 1965 – 1966, xuyên khung được nhập vào Việt Nam. Lúc đầu cây được trồng thử ở Trại thuốc Sa Pa, Nông trường Dược liệu Bắc Hà (Lào Cai), sau chuyển sang Nông trường Dược liệu Sìn Hồ (Lai Châu). Đến năm 1970, cây được phát triển trồng lớn hơn ở 3 khu vực kể trên. Trong đó, một số xã ở huyện Sìn Hồ – Lai Châu như Tả Ngào, Tả Phìn, Hồng Thu, Tả Sử Chồ, Phăng Sô Lin đã trở thành nơi sản xuất nhiều xuyên khung với chất lượng tốt nhất ở Việt Nam.
Xuyên khung là cây của vùng ôn đới ẩm. Khi được trồng ở Việt Nam, cây tỏ ra thích nghỉ, sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ẩm mát, của vùng nhiệt đới núi cao (từ 1300 đến 1600 m). Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng: 13 – 16oC, tối cao tuyệt đối dưới 30oC và tối thấp tuyệt đối có khi xuống 0oC. Lượng mưa 2600 – 2850 mm/năm. Độ ẩm không khí 85%. Xuyên khung trồng ở Sa Pa và Sìn Hồ cũng thích ứng đặc biệt với loại đất mùn tơi xốp, dễ thấm nước ở chân núi đá vôi, pH của đất là 6 – 7. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân – hè, đến mùa thu bắt đầu có hoa quả. Tuy nhiên, hạt không được sử dụng để nhân giống mà là các đốt của gốc thân, sau khi đã thu hoạch củ. Quan sát những cây xuyên khung trồng bằng cách nhân giống trên cho thấy, chính các mẫu của hom giống sau chuyển hóa thành củ (thân rễ). Các chồi gốc mọc lên sau thành thân của cây xuyên khung.
Xuyên khung là vị thuốc bắc quý, được dùng nhiều trong y học dân tộc. Nhiều năm gần đây, do chính sách mở cửa biên giới, dược liệu xuyên khung từ Trung Quốc được nhập khẩu ở ạt vào Việt Nam, làm cho việc trồng xuyên khung ở 3 vùng trồng chủ yếu trên bị đình trệ. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu để điều chỉnh hợp lý, nhằm đảm bảo phát triển đa dạng kinh tế nông nghiệp ở các vùng rẻo cao.
2. Cách trồng
Cây xuyên khung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Xuyên khung ưa khí hậu mát, ẩm, được trồng chủ yếu ở các vùng cao từ 800 m trở lên như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai), Đồng Văn (Hà Giang) và một số nơi khác ở Hòa Bình, Thanh Hóa.
Cây được nhân giống bằng mầm thân. Khi thu hoạch, chọn những thân cây khỏe, không bị sâu bệnh, bảo quản qua mùa đông để làm giống. Có thể ngâm vào dung dịch benlat 0,3% trong 10 phút, vớt ra, để ráo, sau đó bảo quản bằng một trong hai cách:
Bó 20 – 30 cây thành từng bó, dựng ở chỗ râm, thoáng mát, phủ cỏ khô, thỉnh thoảng tưới giữ ẩm. Chọn đất cao ráo, làm đất thật kỹ, để ải, xử lý đất với thuốc diệt nấm rồi rải đều một lớp thân cây lên mặt, phủ đất dày 2 – 3 cm, lại rải tiếp một lớp thân cây khác rồi phủ đất. Có thể để được 3 – 4 lớp như vậy. Sau đó, làm giàn che, cao độ 1 m.
Thời vụ trồng xuyên khung thích hợp nhất từ giữa tháng 1 đến hết tháng 2. Trồng sớm quá, cây lâu mọc, mâm nằm lâu dưới đất dễ bị thối. Trồng muộn quá, thời gian sinh trưởng ngắn, củ nhỏ, năng suất thấp. Khi trồng, cắt lấy đoạn đốt thân có mầm mập, khoẻ, không sâu bệnh, dài 3 – 4 cm. Tốt nhất nên lấy 4 – 5 đốt từ gốc lên. Mầm cũng có thể xử lý lại bằng cách ngâm trong dung dịch benlat 0,3% trong 8 – 10 phút.
Xuyên khung ưa đất nhẹ, nhiều mùn, thoát nước, pH 6 – 6,5. Đất cần cày bừa, để ải, đập nhỏ, lên luống cao 20 – 25 cm, rộng 60 – 80 cm để trồng 2 hoặc 3 hàng. Đất dốc nên đánh luống ngắn dọc theo sườn dốc để dễ thoát nước và hạn chế xói mòn. Nếu có cỏ khô, rơm, rạ rải trên mặt đất trước khi làm đất sẽ hạn chế được sâu, bệnh.
Xuyên khung cần nhiều phân. Trung bình, nên bón mỗi hecta 25 – 30 tấn phân chuồng thật hoai mục, 200 kg đạm sulfat, 400 kg supe lân và 150 kg kali. Nếu có tro bón thay kali càng tốt. Phân lân ủ với phân chuồng trước 1 – 2 tháng và dùng 2/3 để bón lót theo hốc. Khoảng cách giữa các hốc từ 20 x 20 cm đến 25 x 25 cm. Sau khi đặt mầm, lấp một lớp đất hoặc tro dày 2 – 3 cm, tưới đủ ẩm. Khi cây còn nhỏ, cầu làm cỏ, xới xáo nhẹ để tránh đóng váng.
Khi cây cao 10 – 15 cm, dùng 1/2 số phân đạm pha loãng 2% để tưới thúc lần thứ nhất. Sau một tháng, tưới thúc số đạm còn lại. Vào giữa tháng 6, bón 1/3 phân chuồng và lân còn lại với 1/2 lượng kali, xới xáo vun phủ gốc để lấp kín phân và chống đổ cây. Đầu tháng 8, bón nốt số kali còn lại.
Xuyên khung thường bị sâu xám hại mầm vào các tháng 3 – 5 và bệnh thối củ vào tháng 8 – 9. Phương pháp phòng bệnh chủ yếu là dùng mầm sạch bệnh để trống, vệ sinh đồng ruộng, luân canh.
Củ xuyên khung thu vào tháng 11 – 12, khi cây lụi gần hết lá. Trước khi thu, cắt thân để chọn làm giống rồi đào lấy củ, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, đầu củ, phơi hay sấy nhẹ đến khô. Năng suất trung bình đạt 5 – 6 tấn củ tươi/ha.
Thân rễ, thu hái vào lúc mấu của thân phình ra, loại bỏ đất cát, phơi nắng, sấy nhẹ cho đến khô hẳn, rồi loại bỏ rễ con. Thân rễ sau khi đã loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ cho mềm, thái thành phiến mỏng, rồi phơi hay sấy khô.
3. Thành phần hoá học
Cây xuyên khung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (thông tin này hiện tại không còn chính xác hoặc thiếu thông tin):
Theo Kha Vinh Đường và Tăng Quảng Phương, 1957 (Hoá học học báo, 23(4): 246 – 249) thì trong xuyên khung Ligusticum wallichii có 4 chất chủ yếu sau đây:
Một alkaloid dễ bay hơi, công thức C27H37N3.
Một axit C10H10O4, với tỷ lệ chừng 0,02 gắn giống axit ferulic trong cây a ngùy (Ferula assa-foetida L.; thuộc họ Hoa tán Apiaceae).
Một chất có tính chất phenola với công thức C24H46O4, hoặc C23H44O4, độ chảy 108oC.
Một chất trung tính có công thức C26H28O4, độ chảy 98oC.
Trong tinh dầu xuyên khung, người ta đã xác định được một chất lacton rất giống chất cnidium lactone đã tìm thấy trong một loại xuyên khung khác là Cnidium officinale Makino.
Cây xuyên khung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Loài Ligusticum wallichii chứa tinh dầu 1%, dầu béo, acid ferulic, một hợp chất kết tinh. Trong một số loài xuyên khung khác có chứa tinh dầu, nhiều phthalide như ligustilide, butylphthalide, butylidenephthalide, hợp chất có N như ligustrazine, adenine, adenosine.
4. Tác dụng dược lý
Cây xuyên khung – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (thông tin này hiện tại không còn chính xác hoặc thiếu thông tin):
Nhiều tác giả đã nghiên cứu tác dụng dược lý của xuyên khung. Sau đây là một số kết quả chính:
Tác dụng đối với trung khu thần kinh. Theo Thụ Thượng Sư Thọ (1933), tinh dầu xuyên khung với liều nhỏ có tác dụng ức chế đối với hoạt động của đại não, nhưng đối với trung khu hô hấp, trung khu vận mạch và trung khu phản xạ ở tủy sống thì lại có tác dụng hưng phấn, kết quả làm cho con vật một phần yên tĩnh, tự động vận động giảm xuống, nhưng mặt khác làm cho huyết áp tăng cao, hô hấp cũng tăng, cơ năng phản xạ cũng tăng, nhưng nếu dùng liều quá cao thì đại não bị tê liệt mạnh, các trung khu và phản xạ tủy sống có thể bị ức chế do đó huyết áp hạ xuống, nhiệt độ cơ thể giảm xuống, hô hấp khó khăn, vận động có thể tê liệt và chết.
Tác dụng đối với tuần hoàn: Theo Thụ Thượng Sư Thọ (1933), tinh dầu của xuyên khung có tác dụng tê liệt đối với tim làm cho các mạch máu ngoại vi giãn ra, liều lớn có thể làm cho huyết áp hạ xuống (đã nói ở trên), phải chăng có liên quan với tác dụng này.
Hai tác giả khác Kinh Lợi Bản và Thạch Nguyễn Cao đã dùng cồn 70o và nước chiết hoạt chất trong xuyên khung mua của hiệu thuốc Đồng Nhân Đường (Bắc Kinh) chế thành dung dịch 10%, rồi tiêm vào tĩnh mạch chó và thỏ gây mê, thì thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt, hai tác giả này cho rằng tác dụng này có liên quan tới ảnh hưởng của trung khu thần kinh.
Lý Quảng Túy và Kim Âm Xương (1956) đã nghiên cứu 27 loại thuốc đông y đối với huyết áp (thí nghiệm trên chó và mèo đã gây mê) thì xuyên khung là một vị có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt và kéo dài dù tiêm mạch máu hay tiêm bắp thịt cũng có tác dụng như nhau (Trung Quốc sinh lý khoa học hội, 1996).
Tác dụng đối với cơ trơn: Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao (1934) đã dùng dung dịch nước của xuyên khung thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ đã có thai, thấy với liều nhỏ dung dịch nước xuyên khung có tác dụng kích thích co bóp của tử cung thỏ có thai, cuối cùng đi đến hiện tượng co quắp, ngược lại nếu dùng liều lớn, tử cung tê liệt và đi đến ngừng co bóp.
Các tác giả còn thí nghiệm tiêm dung dịch xuyên khung liên tục một thời gian cho thỏ và chuột trắng có chửa thì thấy cái thai chết trong bụng mà không đẩy ra được. Các tác giả cho rằng vì xuyên khung gây co bóp tử cung, ảnh hưởng tới dinh dưỡng của thai làm cho thai chết. Các tác giả còn cho rằng vì xuyên khung làm dãn mạch máu cho nên không làm cho cầm máu được. Cổ nhân cho rằng xuyên khung có tác dụng điều trị những phụ nữ sau khi sinh nở mà bị băng huyết là do xuyên khung có khả năng làm co tử cung, làm cho những mạch máu ở vách tử cung áp chặt vào vách tử cung mà gây cầm máu.
Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao còn nghiên cứu tác dụng của dung dịch nước xuyên khung trên mẫu ruột cô lập (ruột thỏ và chuột bạch) thì thấy nếu dùng liều cao, sự co bóp bị hoàn toàn ngừng hẳn không khôi phục lại được; nếu dùng liều nhỏ thì làm cho mẫu ruột co bóp dẫn dẫn mà không có khả năng làm cho ngừng hẳn.
Tác dụng kháng sinh: Theo báo cáo của Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tây, 1950 (Trung Hoa y học tạp chí, 68: 307 – 312) thì xuyên khung có tác dụng kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng như vị trùng thương hàn, phó thương hàn, vi trùng sinh mủ, thổ tả, vi trùng lỵ Shigella sonnei.
Cây xuyên khung – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Các phthalide butylphthalide, butylidenephthalide và ligustilide có tác dụng ức chế co bóp của tử cung chuột cống trắng không mang thai gây bởi prostaglandin F2α. Sự thay thế alkyl ở C-3 của cấu trúc phthalide làm tăng hoạt tính ức chế, có lẽ do tăng độ hòa tan trong mỡ. Butylidenephthalide có tác dụng mạnh hơn ligustilide, có lẽ do tính chất thơm của butylidenephthalide. Các phthalide cũng biểu lộ hoạt tính chống loạn nhịp tim và gây giãn động mạch vành.
Ligustrazine (tetramethylpyrazine) phân lập từ xuyên khung ức chế sự kết tập tiểu cầu và có thể có khả năng dịch chuyển Ca2+ khỏi màng tiểu cầu. Nó dự phòng sự tạo cục đông máu ở động mạch, có lẽ do ức chế sự kết tập tiểu cầu. Ligustrazine tiêm tĩnh mạch cho chuột lang với liều 10 mg/kg làm tăng lưu lượng máu ở động mạch vành và giảm lực co cơ tim ở tim cô lập. Ở chó gây mê, làm giảm huyết áp động mạch và tăng áp suất tâm thất trái, nhịp tim, lưu lượng máu ở động mạch vành, và sự tiêu thụ oxy ở cơ tim.
Trong thử nghiệm làm sàng với cao xuyên khung để điều trị bệnh động mạch vành, thấy ở những bệnh nhân có bệnh động mạch vành trước khi điều trị, sự kết tập tiểu cầu, β-thromboglobulin, yếu tố tiểu cầu IV, và thromboxane B2 cao hơn nhiều trong khi 6-keto prostaglandin F1α thấp hơn so với những đối tượng có cùng tuổi và giới. Sau khi điều trị, ở những bệnh nhân này, sự kết tập tiểu cầu, thromboglobulin, yếu tố tiểu cầu IV, và thromboxane B2 đã giảm, và 6-keto prostaglandin F1α đã tăng lên, cho thấy xuyên khung là một thuốc có tác dụng tốt ức chế sự kết tập tiểu cầu và sự tổng hợp thromboxane.
Tetramethylpyrazine hydrochloride được nghiên cứu dược lý và lâm sàng, cho thấy có khả năng làm tăng vi tuần hoàn trong mạc treo ruột thỏ, và làm giãn mao mạch in vitro. Tetramethylpyrazine không những ức chế sự kết tập tiểu cầu gây bởi adenosine diphosphate (ADP), mà còn làm tách rời tiểu cầu đã kết tập. Về mặt lâm sàng, nó có tác dụng tốt trong điều trị bệnh tắc mạch máu não, như nghẽn mạch não. Hiện nay, tetramethylpyrazine được sản xuất ở quy mô lớn bằng phương pháp tổng hợp. Cao xuyên khung có tác dụng làm tăng khả năng biến dạng của hồng cầu; làm tăng (10 – 20%) khả năng kéo dài của hồng cầu dưới sức kéo 40 dyn/cm3, và làm cho sự phục hồi hình dạng hồng cầu nhanh hơn. Sự tăng khả năng biến dạng của hồng cầu dưới tác dụng của xuyên khung là do thay đổi tính chất cơ học của màng hồng cầu.
Rễ xuyên khung được chứng minh có tác dụng chống đông máu, ức chế sự đông máu chung, ức chế các giai đoạn đông máu nội sinh, ngoại sinh và tạo fibrin, trong thử nghiệm in vitro trên máu người. Xuyên khung có tác dụng làm giảm huyết áp trên mèo gây mê bằng chloral hydrate. Tác dụng giảm huyết áp không do đối kháng với thụ thể nhận adrenaline alpha, mà có khả năng do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn mạch máu gây giãn mạch. Xuyên khung có tác dụng làm giảm cholesterol máu trong các mô hình gây tăng cholesterol máu ngoại sinh trên chuột nhất và chuột cống trắng, làm giảm cholesterol máu nội sinh trên gà; và làm giảm tỷ số β/α lipoprotein máu và lipid máu toàn phần trên chuột cống trắng.
Nghiên cứu cơ chế tác dụng của tetramethylpyrazine và của acid ferulic có trong xuyên khung trên co bóp tự nhiên của tử cung chuột cống trắng in vitro cho thấy tác dụng ức chế gây bởi tetramethylpyrazine bị phong bế bởi propranolol, nhưng không bị phong bế bởi cimetidine, và tác dụng ức chế cũng có ở chuột cống trắng đã tiêm reserpine. Tetramethylpyrazine ức chế nhẹ co bóp tử cung gây bởi 5-hydroxytryptamine hoặc oxytocin, nhưng không ức chế co bóp gây bởi acetylcholine. Tác dụng ức chế gây bởi acid ferulic không bị phong bế bởi propranolol hoặc cimetidine. Acid ferulic ức chế mạnh co bóp tử cung gây bởi oxytocin, nhưng không ức chế co bóp gây bởi acetylcholine hoặc 5-hydroxytryptamine. Indomethacin không ảnh hưởng đến tác dụng ức chế gây bởi tetramethylpyrazine và acid ferulic.
Sau một đợt điều trị bằng tiêm tĩnh mạch chế phẩm Ligustrazini – một cao chiết từ thân rễ xuyên khung, cho 49 bệnh nhân có bệnh tim phổi nặng, đã nhận xét thấy Ligustrazini có tác dụng làm giảm huyết áp động mạch phổi và sức kháng của mạch máu phổi, làm tăng hiệu suất của tim, tăng chức năng tâm thất trái và chất lượng của huyết lưu biến học. Những kết quả này cho thấy Ligustrazini có tác dụng giãn mạch và làm tăng chất lượng của huyết lưu biến học trong bệnh tim phổi nặng do nghẽn phổi mạn tính. Trong một thử nghiệm lâm sàng, thuốc cổ truyền chống huyết khối Xinmaining, bào chế từ rễ xuyên khung, rễ đan sâm và một số dược liệu khác, được dùng điều trị huyết khối não, với liều uống 2 – 4 nang (0,5 g/nang), ngày hai lần. Kết quả thử nghiệm cho thấy thuốc có tác dụng làm giảm độ nhớt của máu, độ nhớt huyết thanh, tỷ lệ thể tích huyết cầu; làm tăng tốc độ điện di hồng cầu; và làm giảm tỷ lệ kết tập tiểu cầu. Thuốc có tính an toàn, không gây tác dụng không mong muốn.
Nước sắc xuyên khung có tác dụng in vitro làm tăng sức bền của hồng cầu thỏ chống sự tan máu khi cho hỗn dịch hồng cầu thỏ vào một dung dịch nhược trương. Xuyên khung có tác dụng ức chế co thắt cơ trơn ruột cô lập gây bởi histamine và acetylcholine và có tác dụng lợi tiểu. Tinh dầu xuyên khung có tác dụng kháng khuẩn in vitro đối với các chủng vi khuẩn: phố cầu, liên cầu tan máu, Streptococcus faecalis, tụ cầu vàng, Shigella shigae, Sh. sonnei, Sh. flexneri, Bacillus subtilis, trực khuẩn mủ xanh, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae.
Công dụng và liều dùng cây xuyên khung
Xuyên khung có vị cay, mùi thơm, tính ấm. Vào ba kinh: can, đờm, tâm bào, có tác dụng hành khí, điều kinh, hoạt huyết, trừ phong, giảm đau.
Xuyên khung được dùng chữa nhức đầu, hoa mắt, cảm mạo, phong thấp nhức mỏi, ngực bụng đầy trướng, ung nhọt, phụ nữ sau khi đẻ bị rong huyết kéo dài. Ngày dùng 6 – 12g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay rượu thuốc.
Kiêng kỵ: Người âm hư, hỏa vượng không nên dùng.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, xuyên khung được dùng chữa rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, đau kinh, đau bụng, đau nhói ở ngực và vùng xương sườn, viêm và đau do thương tổn chấn thương, nhức đầu, đau khớp dạng thấp. Ngày dùng 3 – 9g.
Bài thuốc có xuyên khung
1. Chữa suy nhược cơ thể ở người cao tuổi có bệnh tim mạch, phụ nữ sau khi đẻ, tiền mãn kinh
- Xuyên khung 8 g, thục địa 16 g; đương quy, bạch thược, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.
- Xuyên khung 8 g, đẳng sâm (thay nhân sâm) 16 g; hoàng kỳ, thục địa, bạch thược, đại táo, mỗi vị 12 g; đương quy, bạch truật, viên chí, mỗi vị 8 g, trần bì, quế chi, phục linh, cam thảo, ngũ vị tử, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
- Xuyên khung 8 g, thục địa, đương quy, bạch thược, mạch môn, mỗi vị 12 g, táo nhân, mộc qua, mỗi vị 8 g; cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa thấp tim (thể viêm khớp kèm theo hiện tượng suy tim)
Xuyên khung 12 g; kim ngân, thổ phục linh, mỗi vị 20 g; bạch truật, đẳng sâm, mỗi vị 16 g, phục linh, đương quy, bạch thược, thục địa, ngưu tất, mỗi vị 12 g; huyền hồ sách 8 g, cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.
3. Chữa thiếu máu
- Xuyên khung 8 g, thục địa 16g; bạch thược, đương quy, cao ban long, kỷ tử, mỗi vị 12 g; a giao 8g. Sắc uống ngày một thang.
- Xuyên khung 8 g, thục địa, đẳng sâm, mỗi vị 168, đương quy, bạch thược, bạch truật, mỗi vị 12g, phục linh 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
4. Chữa chảy máu do ứ huyết gây thoát quản
Xuyên khung, bạch thược, đương quy, huyền hồ sách, bồ hoàng, ngẫu tiết, huyết dụ, địa du, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
5. Chữa liệt dây thần kinh VII ngoại biên
Xuyên khung 8g; ngưu tất, thục địa, đẳng sâm, bạch truật, mỗi vị 12g, khương hoạt, độc hoạt, tần giao, bạch chỉ, đương quy, bạch thược, phục linh, hoàng cầm, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
6. Chữa đau dây thần kinh hông do lạnh
Xuyên khung, độc hoạt, uy linh tiên, đan sâm, tang ký sinh, ngưu tất, mỗi vị 12 g, phòng phong, quế chi, tế tân, chỉ xác, trần bì, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
7. Chữa đau dây thần kinh liên sườn do lạnh
Xuyên khung 8 g, đan sâm 12 g, quế chi, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, uất kim, chỉ xác, mỗi vị 8g; thanh bì 6g. Sắc uống ngày một thang.
8. Chữa đau lưng cấp do co cứng các cơ
Xuyên khung 16g, phục linh, ý dĩ, mỗi vị 12g, can khương, thương truật, quế chi, mỗi vị 8g; cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang.
9. Chữa đau dây thần kinh và nhức đầu
Xuyên khung 8g, thạch cao 15g, cam thảo 15g; quế chi, bạc hà, mỗi vị 5g. Sắc uống ngày một thang.
10. Chữa viêm đa khớp dạng thấp
Xuyên khung 8g, độc hoạt, tang ký sinh, phòng phong, tục đoạn, đương quy, ngưu tất, thục địa, bạch thược, đẳng sâm, ý dĩ, mỗi vị 12g; tần giao 10g, quế chi 8g; cam thảo, tế tân, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
11. Chữa loạn thần kinh thực vật
Xuyên khung 10g, táo nhân 50g, tri mẫu, phục linh, mỗi vị 15g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày một thang.
12. Chữa thiếu sữa
Xuyên khung (sao vàng) 20g, móng chân lợn đực (sao với cát, nở vàng đều) 50g, thông thảo (thái mỏng), gạo nếp, mỗi vị 30 g; hành tươi (cả cây) 5 cây. Sắc kỹ lấy nước uống, ngày một thang. Uống mỗi lần một bát vào lúc đói, ngày uống 3 – 4 lần, cho đến khi sữa xuống đủ ăn cho trẻ.
13. Chữa viêm đại tràng
Xuyên khung 8 g; đẳng sâm, bạch truật, ý dĩ, mỗi vị 12 g, hoàng bá, hoàng liên, chỉ xác, mộc hương, uất kim, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.
14. Chữa viêm phần phụ
- Thuốc uống: Xuyên khung 10g; kê huyết đằng, ý dĩ, mỗi vị 16 g; bồ công anh, kim ngân hoa, mỗi vị 12g; huyền hồ 8g, nhũ hương, một dược, cam thảo, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Thuốc thụt hậu môn: Xuyên khung 10g, bồ công anh 16g, xích thược 10g; nhũ hương, một dược, mỗi vị 4g. Sắc với 200 ml, còn 100 ml, thụt hậu môn ở nhiệt độ 37 – 40oC trong 20 phút, nằm nghỉ (phải thụt tháo phân trước khi thụt thuốc). Trong mỗi liệu trình, thụt 6 lần, cứ 2 ngày một lần. Nếu không đỡ, nghỉ 7 – 10 ngày rồi thụt lại đợt thứ hai.
15. Chữa trĩ
Xuyên khung 8g, thục địa, đương quy, bạch thược, địa du, hoàng kỳ, mỗi vị 12g; a giao 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
16. Chữa cảm mạo phong hàn
Xuyên khung, bạch chỉ, sinh địa, hoàng cầm, mỗi vị 8g; khương hoạt, phòng phong, thương truật, tế tân, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
17. Chữa viêm tắc động mạch
Xuyên khung 12g, thục địa, bạch thược, đẳng sâm, mỗi vị 16g; đương quy, bạch truật, mỗi vị 12g; phục linh 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
18. Chữa lao xương và lao khớp xương
Xuyên khung 12g; thục địa, bạch thược, bạch truật, hoài sơn, mỗi vị 16g, đương quy, quy bản, kỷ tử, đẳng sâm, phục linh, mỗi vị 12g; kê nội kim 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
19. Chữa suy dinh dưỡng thể khô do khí huyết hư, người gầy, da khô, khô loét giác mạc, phù thũng:
Xuyên khung, đẳng sâm, bạch truật, thục địa, đương quy, bạch thược, mỗi vị 8g; phục linh 6g, cam thảo 4g. Nếu loét, khô giác mạc, thêm kỷ tử 8g, cúc hoa 8g; nếu loét miệng, thêm ngọc trúc 6g, thăng ma 6g, hoàng liên 4g, nếu có phù dinh dưỡng, thêm phục linh 12g, quế chi 2g. Sắc uống ngày một thang.
20. Chữa kinh nguyệt trước kỳ, lượng kinh nhiều
- Xuyên khung 8g, sinh địa 16g; bạch thược, hoàng cầm, mỗi vị 12g, đương quy 8g, hoàng liên 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Xuyên khung 8g; thục địa, bạch thược, a giao, mỗi vị 12g; đương quy, hoàng bá, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
21. Chữa kinh nguyệt trước kỳ, lượng kinh ít
Xuyên khung 8g, sinh địa 16g; bạch thược, địa cốt bì, mỗi vị 12g, đương quy, đan bì, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
22. Chữa kinh nguyệt sau kỳ, chậm kinh
- Xuyên khung 8g; đẳng sâm, đương quy, ngưu tất, mỗi vị 12g; bạch thược, nga truật, đan bì, mỗi vị 8g; quế tâm, cam thảo, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Xuyên khung 8g, bạch truật, đẳng sâm, bạch thược, hoàng kỳ, mỗi vị 12g; phục linh, thục địa, đương quy, mỗi vị 8g, cam thảo, nhục quế, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.
- Xuyên khung 120g; nam tinh chế, hương phụ, mỗi vị 160g, thương truật 120g. Tán thành bột, uống mỗi ngày 12 – 16g với nước nóng
23. Chữa chậm kinh do khi uất, bụng chướng đau
Xuyên khung 8g, sài hồ 12g; hương phụ, đương quy, nga truật, ngải diệp, đan bì, ô dược, hồng hoa, ô mai, mỗi vị 8g; tam lang 6g. Tán bột, ngày uống 20 – 30g. Hoặc sắc uống ngày một thang.
24. Chữa rong huyết
Xuyên khung 8g, bạch truật, đẳng sâm, mỗi vị 12g; thục địa, bạch thược, đương quy, hương phụ, hoàng kỳ, địa du, bồ hoàng, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
25. Chữa viêm mũi dị ứng
Xuyên khung, hoài sơn, ké đầu ngựa, mỗi vị 16g; bạch truật, bạch chỉ, mỗi vị 12g; tang bạch bì 10g, quế chi 8g, tế tân 6g, cam thảo, gừng, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.
26. Chữa chóng mặt, ù tai, nôn mửa (hội chứng Ménière) ở người thiếu máu, xơ cứng động mạch
Xuyên khung 12g; thục địa, hà thủ ô, tang ký sinh, mỗi vị 16g; kỷ tử, ngưu tất, long nhân, cỏ nhọ nồi, hoài sơn, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
Địa chỉ bán xuyên khung tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây xuyên khung phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








