Ảnh tham khảo

Hemerocallis citrina được chụp tại Jardin des Plantes, Paris. Tác giả: Hectonichus. Ngày tạo: Ngày 16, tháng 5, năm 2014. Nguồn: Wikipedia Common.

Hemerocallis citrina. Tác giả: Pryma. Ngày tạo: Ngày 4, tháng 10, năm 2009. Nguồn: Wikipedia Common.

Hemerocallis citrina. Tác giả: Pryma. Ngày tạo: Ngày 4, tháng 10, năm 2009. Nguồn: Wikipedia Common.
Bộ sưu tập


Độ hoàn thiện nội dung: 80%.
Hoa kim châm chắc không còn là xa lạ gì đối với mọi người rồi đúng không. Ngoài việc được dùng trong ẩm thực để chế biến nhiều các món ăn giúp bồi bổ sức khỏe, tiêu hóa tốt thì Đông y còn sử dụng em để giúp tăng lượng tiểu cầu trong máu.
Kim châm hay hoa hiên, hoàng hoa, kim trâm Thái, huyền thảo, lộc thống, … tên tiếng Anh là orange day-lily, tawny daylily, corn lily, tiger daylily, fulvous daylily, ditch lily, Fourth of July lily, railroad daylily, roadside daylily, outhouse lily, track lily, wash-house lily (danh pháp khoa học là Hemerocallis fulva (L.) L.) là một loài thực vật có hoa thuộc Lan nhật quang Asphodelaceae. Loài cây này nguồn gốc từ Trung Quốc, Siberia, Nhật Bản và Đông Nam Á, du nhập vào Đài Loan từ vùng Hoa Nam vào năm 1661.
Cây hoa hiên có thể cho ta các vị thuốc sau dây:
- Rễ hoa hiên – hoàng hoa thái căn (Radix Hemerocallitis) là rễ và thân rễ phơi khô của cây hoa hiên.
- Lá hoa hiên (Folium Hemerocallitis) là lá cây hoa hiên hái tươi mà dùng.
Tên chi Hemerocallis bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, mang nghĩa là “vẻ đẹp của một ngày”, mô tả việc hoa nở chỉ một ngày, từ bình minh đến hoàng hôn, một ngày khác sẽ được thay thế bằng một đợt nở hoa khác. Các loài trong chi này chủ yếu được trồng vào chậu để làm cảnh.
Mô tả cây hoa hiên
Cây hoa hiên (huyền thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Hoa hiên là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ rất ngắn, có rễ mẫm nhưng nhỏ. Lá hình sợi, dài 30 – 50cm, rộng 2,5cm hay hơn, trên mặt có nhiều mạch. Trục mang hoa cao bằng lá, phía trên phân nhánh, có 6 – 10 đến 12 hoa. Hoa to, màu vàng đỏ, có mùi thơm, tràng hoa hình phễu, phía trên xẻ thành 6 phiến. Nhị 6. Bầu có 3 ngăn. Quả hình 3 cạnh. Hạt bóng, màu đen. Cây ra hoa vào mùa hạ và mùa thu.
Cây hoa hiên – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm. Thân rễ ngắn, rễ củ hình trụ dài xếp thành chùm. Lá hình dải hẹp, dài 40 – 50cm, rộng 2 – 4cm, xếp thành hai dãy trong một mặt phẳng, gốc có bẹ to ốp vào nhau, đầu thuôn nhọn, thường gập xuống, gân song song, hai mặt nhẵn cùng màu.
Cụm hoa phân nhánh mọc trên một cán dài bằng lá; hoa to màu vàng da cam đến vàng đỏ; bao hoa hình phễu, xẻ thành 6 cánh có sọc đốm; nhị 6; bầu 3 ô. Quả hình 3 cạnh; hạt nhiều màu đen bóng. Mùa hoa quả: tháng 4 và tháng 9.
Còn có loài hoa hiên nhỏ (Hemerocallis minor Mill.) có hoa màu vàng, đôi khi cũng được dùng.

Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biển
Cây hoa hiên (huyền thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Hoa hiên mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta để lấy hoa nấu canh. Một số nơi dùng lá hay hoa làm thuốc chữa đổ máu cam. Còn mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu, lá hái quanh năm; rễ đào vào thu đông, có khi vào các mùa khác, dùng tươi hay phơi khô, thường dùng tươi.
Cây hoa hiên – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Hoa hiên có nguồn gốc ở vùng ôn đới ấm châu Âu và châu Á. Hiện nay, cây được trồng ở nhiều nơi kể cả vùng cận nhiệt đới lẫn nhiệt đới. Nơi trồng nhiều nhất là Trung Quốc và Nhật Bản.
Ở Việt Nam, hoa hiên được trồng làm cảnh ở một số vùng có khí hậu nhiệt đới núi cao, quanh năm ẩm mát như Tam Đảo (Vĩnh Phúc); SaPa (Lào Cai) và Đà Lạt (Lâm Đồng) … Cây sinh trưởng và phát triển gần như quanh năm; ra hoa quả nhiều vào mùa hè – thu. Người ta thường nhân trồng hoa hiện bằng phần gốc sau khi đã thu hoạch củ.
Rễ thu hoạch vào mùa thu, rửa sạch phơi hoặc sấy khô. Có thể dùng tươi. Lá và hoa thu hái quanh năm, lá thường dùng tươi, hoa thu vào lúc chớm nở rồi phơi hoặc sấy khô.

2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Cây hoa hiên (huyền thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Khương Chỉ Nghĩa (Viện dược học Nam Kinh, Trung Quốc) đã chiết được từ rễ hoa hiên của Trần Giang 3 chất có tinh thể gọi là chất A, B và C có độ chảy 165 – 167oC, qua thí nghiệm dược lý thì có tác dụng ức chế đối với huyết hấp trùng nhưng có độc.
Các bộ phận khác, chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
Cây hoa hiên – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Theo tài liệu Ấn Độ, hoa hiên tươi của Trung Quốc có các thành phần như nước 85,49%; protein 1,66%; chất béo 0,40%; nitơ tự do 10,44%; sợi 1,23% và tro 0,78%.
Hoa hiên khô của San Francisco chứa nước 15,70%; protein 10,11%; chất béo 3,42%; N tự do 58,39%; đường khử 12,40%; sucrose 30,51%; tinh bột 5,98%; sợi 8,74% và tro 3,64%.
Hoa hiên là nguồn nguyên liệu tốt cho vitamin A, thiamine và vitamin C. Cây còn chứa adenine (0,07 g/kg), choline (0,25 g/kg) và arginine (vết). iodine (420 µg/kg). Rễ chứa asparagine (The Wealth of India Tập V, 1959 trang 33).
Theo Trung dược Từ Hải, hoa hiên có chrysophanol, obtusifolin, 2-methoxy obtusifolin, aloe emodin, hemerocallin, mihemerocallin, hemerocallone, stypandrol (TDTH tập III, trang 730 – 733).
Các anthraquinone tự do được chiết từ rễ bằng CHCl3 và định lượng bằng cách đo độ hấp thu ở 520nm. Các phức hợp anthraquinone được chuyển thành anthraquinone tự do bằng H2SO4 2,5M. Kết quả:
♦ 0,019 – 0,32% anthraquinone tự do;
♦ 0,034 – 0,39% anthraquinone tổng số;
♦ 0,00044 – 0,00350% chrysophanol tự do;
(CA. 113, 1990, 20882u).
Dịch chiết CHCl3 từ rễ hoa hiên phân tích bằng sắc ký cột có chrysophanol; Me – rhein; 1,8-dihydroxy-3-methoxy anthraquinone và rhein; phần không xà phòng hóa có β-sitosterol, phân đoạn nước thu được choline (CA. 114, 1991, 203481c).
Từ loài H. fulva var. kwanso Regel, người ta chiết được 2,5-dimethoxyhydrofuran; fulvanol; fulvanine A, B, C có cấu trúc lần lượt là:
♦ 1-(3-hydroxymethyl-2,5-dihydrofuryl)-aza-cyclopenta-3,5-dihydroxy-2-one.
♦ 1-(3-methyl-2,5-dihydrofuryl)-aza-cyclopenta-3,5-dihydroxy-2-one.
♦ 1-(3-methyl-2,5-dihydrofuryl)-aza-cyclopenta-3-hydroxy-5-methoxy-2-one. (CA. 124, 1996, 312270k; Phytochemistry 1996 42(1):135 – 7; CA 114, 1991, 131787c).
Ngoài ra, còn có colchicine (CA. 116, 1992, 113642t), azulene (CA. 123, 1995, 310347w) và men cholinesterase (CA. 122, 1995, 261017g).
Từ phân đoạn n-butanol của chiết xuất EtOH từ rễ cây Hemerocallis fulva, 9 glycoside đã được phân lập và xác định là sweroside (1), laganin (2), picraquassioside C (3), puerarin (4), 3′-methoxypuerarin (5), 7-hydroxylnaphthalide-O-β-D-glucopyranoside (6), orcinol-3-O-β-glucopyranoside (7), HN saponin F (8) và hederagenin-3-O-β D-glucopyranosyl-(1→3)-α-L-arabinopyranoside-28-O-β-D-glucopyranosyl ester (9) (Zhong-Duo L Yang et al; 2008).
21 hợp chất bao gồm 2 anthraquinones (1, 2), 3 hợp chất C6-C2-C6 (3 – 5), 3 lignin (6 – 8), 1 phenylpropanoid (9), 1 sesquiterpene (10), 9 acid béo (13 – 21) và 2 hợp chất khác (11, 12) được phân lập từ Hemerocallis citrina bằng các kỹ thuật sắc ký khác nhau. HRESIMS và phân tích quang phổ NMR 1D và 2D đã cung cấp cho nhóm nghiên cứu thông tin về cấu trúc của các hợp chất. Trong số đó, các hợp chất 1, 2 và 3 là ba hợp chất mới, các hợp chất 4, 6, 7, 9, 10, 13 – 19 lần đầu tiên được phân lập từ chi Hemerocallis. Các hợp chất 1, 2, 3, 4, 5, 7 và 13 thể hiện tác dụng ức chế NO đáng kể trong các tế bào BV2 do lipopolysaccharide (LPS) gây ra, với các giá trị IC50 ần lượt là 19.19, 24.43, 21.33, 44.37, 40.81, 25.15 và 32.10 μM. Tên gọi của các hợp chát cụ thể là: Hemeroquinones A (1), hemeroquinones B (2), hemerophenan A (3), 2,4-dihydroxy-6-(4-hydroxyphenethyl)-methyl benzoate (4), 3-methyl-2,4-dihydroxy-6-(4-hydroxyphenethyl)-methyl benzoate (5), (+)-pinoresinol (6), (+)-epipinoresinol (7), pinoresinol-4-O-β–D-glucoside (8), cinnamic acid (9), dihydrophaseic acid-3′-O-β–D-glucopyranoside (10), (6S,9R)-roseoside (11), citroside A (12), 4-hydroxy-2,3-dimethyl-2-nonen-4-olide (13), 8-(5′-oxo-2′,5′-dihydrofuran-2′-yl)-octanoic acid (14), trans-4-hydroxy-2-nonenoic acid (15), trans-2-decenedioic acid (16), 13-oxo-9(E),11(E)-octadecadienoic acid (17), 9-oxo-10(E),12(E)-octadecadienoic acid (18), 9-oxo-10(E),12(Z)-octadecadienoic (19), α-linolenic acid (20), linoleic acid (21) (Tiancheng Ma et al.; 2023).

3. Tác dụng dược lý
Cây hoa hiên (huyền thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Năm 1964, Ngô Thế Phương (Bộ môn sinh lý) và Dương Hữu Lợi (Bộ môn dược lý) Trường đại học y khoa Hà Nội đã dựa vào kinh nghiệm nhân dân, nghiên cứu cơ chế tác dụng của hoa hiên trên súc vật thì thấy (Tạp chí đông y số 76 (1966), trang 18 – 22):
– Dùng nước sắc hoa hiện thời gian Quick giảm rõ rệt, nghĩa là làm tăng tỷ lệ prothrombin toàn phần.
– Cũng như vitamin K, nước sắc hoa hiện có tác dụng chống lại tác dụng của dicumarin. Tiểu cầu tăng, hồng cầu tăng, nhưng số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu không thay đổi.
– Tăng trương lực của tử cung và thành ruột cô lập.
– Tác dụng ngoại vi rõ rệt hơn là tác dụng trung ương.
Tìm hiểu về tam thất nam – anh em với tam thất bắc ngay


Hoa kim châm có tác dụng gì ?
1. Công dụng chữa bệnh
Rễ hoa hiên có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, lương huyết, chỉ huyết, dùng nhiều có độc. Lá và hoa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng an thai, lợi tiểu, trừ thấp nhiệt, làm yên ngũ tạng, khoan khoái, khỏi bốc nóng, ăn ngon ngủ yên, sáng mắt nhẹ mình.
Rễ hoa hiên được dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa phù, viêm bàng quang, bí đái, đái ra máu, sỏi tiết niệu, chảy máu cam, ho ra máu, viêm gan, vàng da, viêm vú, viêm tuyến mang tai, viêm tai giữa, đau răng. Liều dùng hàng ngày 5 – 15g, sắc uống. Lá và hoa chữa chảy máu cam, động thai, sưng vú. Nhân dân thường dùng hoa hiên để nấu canh ăn.
Ở Trung Quốc, người ta dùng rễ hoa hiên để điều trị sán máng (Schistosoma) có kết quả rõ rệt. Nhưng phải dùng liều cao, nên dễ gây ngộ độc với biểu hiện là không kiềm được đái, giãn đồng tử, ức chế hô hấp, mờ mắt.
Bài thuốc có hoa hiên:
Chữa chứng vàng da do uống quá nhiều rượu: Rễ hoa hiên tươi giã nát, vắt lấy nước uống, ngày 15g (Nam dược thần hiệu).
Chữa viêm tai giữa: Rễ hoa hiên tươi 15g, nấu chín với thịt lợn nạc để ăn.
Chữa viêm tuyến mang tai: Rễ hoa hiên tươi 30g sắc, thêm đường, uống.
Chữa động thai: Hoa hiên 30g, nấu canh ăn. Kết hợp uống nước sắc 30g củ gai (Thập tam phương gia giảm của Tuệ Tĩnh).
Chữa chảy máu cam: Lá hoặc rễ củ hoa hiên 15 – 20g, sắc uống.
Chữa sưng vú: Rễ, lá hoặc hoa tươi, giã đắp.
2. Chế biến nhiều món ăn ngon
Hoa kim châm được rất nhiều bà nội trợ sử dụng để trang trí cho phòng khách thêm sang trọng giúp lan tỏa mùi thơm dịu nhẹ cho cuộc sống trở nên thư thái hơn. Ngoài ra, hoa còn là một trong những nguyên liệu phụ gia chế biến các món ăn trong thực đơn hằng ngày của gia đình. Cụ thể em nó được dùng làm như một loại rau trong các món lẩu vì chứa nhứa nhiều nguồn dinh dưỡng cơ thể cần
Các mẹ có thể làm món hoa kim châm nấu canh tôm, hoa kim châm xào, bò cuộn hoa kim châm nướng, … sẽ kích thích vị giác, hợp khẩu vị, giúp cả nhà ăn ngon và lạ miệng hơn với vị ngọt rất đặc trưng.
Lưu ý: Tuyệt đối không dùng hoa kim châm để ăn sống vì sẽ gây ngộ độc. Cũng không nên lạm dụng quá nhiều sẽ gây mờ mắt. Mỗi ngày chỉ nên dùng lượng nụ hoa vừa đủ khoảng 15 – 20 bông trong một ngày. Những người bị vấn đề về dạ dày và đường ruột nên hạn chế sử dụng thường xuyên vì sẽ dẫn đến đau bụng, thậm chí là bị tiêu chảy.
Hoài sơn – khi hệ tiêu hóa được lợi – click tìm hiểu


Địa chỉ bán cây hoa kim châm uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Nhà vườn Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm hoa kim châm phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây hoa hiên (huyền thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây hoa hiên – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Zhong-Duo L Yang, Tao Li, Yuan-Chao Li (2008). “[Chemical constituents in root of Hemerocallis fulva]”. Zhongguo Zhong Yao Za Zhi. 33(3):269 – 72.
- Tiancheng Ma, Yu Sun, Junpeng Lin, Jinyu Wang, Xiaoying Zhang, Tingxu Yan, Ying Jia (2023). “Chemical constituents and mechanisms from Hemerocallis citrina Baroni with anti-neuroinflammatory activity”. Journal of Functional Foods. 102:105427.










