Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Ý dĩ hoặc cườm thảo, bo bo, tên tiếng Anh là Job’s tears, coix seed, gromwell grass, tear grass (danh pháp khoa học là Coix lacryma-jobi L.), là một loài thực vật nhiệt đới thân cao để lấy hạt trong họ Hòa thảo Poaceae. Cây có nguồn gốc từ Đông Á và Malaysia bán đảo nhưng được gieo trồng ở nhiều nơi trong ruộng, vườn như là một loại cây một năm. Ý dĩ cũng thường được bày bán dưới cái tên sai lệch là Chinese pearl barley (mạch trân châu Trung Hoa) tại một số siêu thị châu Á, mặc dù trên thực tế C. lacryma-jobi không nằm trong cùng một chi với lúa mạch (Hordeum vulgare L.).
Ý dĩ còn có tên gọi là bo bo nhưng cần chú ý đây không phải là cây bo bo thời bao cấp. Bo bo thời bao cấp là cao lương (Sorghum bicolor (L.) Moench).
Ý dĩ, ý dĩ nhân (Semen Coicis) là nhân đã loại vỏ phơi hay sấy khô của cây ý dĩ.



Miêu tả cây ý dĩ
Ý dĩ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Ý dĩ là một loại cây sống hàng năm, có thể cao tới 1 – 2 mét. Thân nhẵn bóng không có lông, có vạch dọc. Lá hình mác to, dài 10 – 40cm, rộng 1,5 – 3cm có những gân nổi rõ, gân giữa to. Hoa đơn tính cùng gốc, mọc ở kẽ lá thành bông. Hoa đực mọc ở phía trên, hoa cái ở phía dưới. Hoa đực có 3 nhị. Quả đình bao bọc bởi bẹ của một lá bắc.
Cây ý dĩ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo lớn, mọc thành bụi, cao 1 – 2m, giống cây ngô. Thân to mọc thẳng, ít phân cành, nhẫn, ruột xốp. Lá mọc so le, hình dải, dài 10 – 50 cm, rộng 2 – 5cm, gốc tròn hoặc hình tim, đầu thuôn nhọn, mép uốn lượn, gân giữa to nổi rất rõ ở mặt dưới; bẹ lá dài và rộng, bẹ chìa nhỏ.
Hoa đơn tính, cùng gốc, mọc thẳng đứng thành bông ở kẽ lá, dài 4 – 8 cm; hoa đực ở trên, 2 – 3 cái xếp lợp; hoa cái ở dưới hình trứng, được bao bọc bởi một lá bắc rất dày. Quả thóc (thường gọi nhầm là hạt), hình trứng, một mặt phẳng, một mặt lồi, đáy tròn, đầu thuôn nhọn, có vỏ ngoài mềm, nhẵn bóng, dễ bóc, màu xám nhạt, nhân màu trắng. Mùa hoa quả: tháng 5 – 12.
Hiện nay, ý dĩ trồng có hai loại: Loại có thân lá màu lục vàng nhạt, quả màu vàng lục, có tên khoa học là Coix lacryma-jobi var. ma-yuen (Rom.Caill.) Stapf và loại có thân lá màu lục sẫm, quả màu tím đen là Coix lacryma-jobi var. susudama Honda.
Cây dễ nhầm lẫn:
Hạt cườm, thuộc 3 thứ (varieties): stenocarpa, monilifera hoặc puellarum. Dáng cây rất giống ý dĩ, nhất là khi chưa có quả. Quả hạt cườm khác ý dĩ ở chỗ hình bầu dục, không có mặt phẳng, mặt lồi, vỏ dày cứng như đá, trong không có nhân, thường chỉ được dùng làm chuỗi hạt đeo cổ, vòng đeo tay và mành che.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Ý dĩ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây ý dĩ mọc hoang ở khắp nơi ẩm mát ở miền núi nước ta, thường mọc ở bờ suối bờ khe. Hiện nay vì sự tiêu thụ trong và ngoài nước tăng nhiều, thu hoạch mọc hoang không đủ và tốn công nên nhiều nơi đã trồng ý dĩ.
Ý dĩ ưa đất phù sa, đất cát có nhiều mùn, có ẩm đều nhưng không đọng nước.
Trồng bằng hạt vào cuối mùa xuân. Mỗi hố trồng 4 – 5 hạt. Trước khi trồng ngâm hạt nửa ngày (nước ấm) hoặc một ngày (nước lạnh). Mỗi hốc cách nhau chừng 30 – 35cm. Bón phân lân hoặc phân chuồng. Vào cuối thu thì thu hoạch, cắt cả cây về đập lấy quả rồi đem nhân phơi hay sấy khô là được. Dùng sống hoặc sao vàng hay sao đen.
Cây ý dĩ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Coix L. là một chi nhỏ gồm những loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á. Ở Việt Nam có 5 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997).
Ý dĩ là loài cây bản địa ở Việt Nam được trồng ngay từ thời cổ xưa như một cây thuốc quý và cây tinh bột nhiều chất bổ dưỡng. Vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, người Hán đã lấy giống ý dĩ ở Việt Nam đưa về Trung Quốc trồng. Ngày nay, ý dĩ được trồng nhiều ở Trung Quốc (cả ở Đài Loan) và Lào. Còn ở Việt Nam, ý dĩ hiện vẫn song song tồn tại hai quần thể ý dĩ mọc tự nhiên và ý dĩ trồng.Ý dĩ mọc tự nhiên phân bố rải rác ở một số tỉnh vùng núi phía bắc, như Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Thái Nguyên … Cây thường mọc gần nguồn nước, dọc bờ khe suối ở của rừng hay trong thung lũng. Độ cao phân bố từ 300 m đến 1000 m. Ý dĩ trống thường không cố định theo khu vực. Vào đầu những năm 90, cây được trồng nhiều ở Kon Tum (Sa Thầy), Đồng Nai … từ năm 1995 – 1997 ở Sơn La (Mộc Châu); Hòa Bình (Mai Châu) và Hà Tây …
Ý dĩ là cây ưa sáng và ưa ẩm. Tùy theo từng loại giống khác nhau, mà có loại ý dĩ thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía nam, với nhiệt đó trung bình từ 23 đến 26oC. Trong khi đó, giống ý dĩ trống ở các tỉnh phía bắc lại thiên về khí hậu ẩm mát của vùng cận nhiệt đới. Ý dĩ sinh trưởng tốt trên các loại đất tơi xốp, thoát nước nhanh và còn giàu chất mùn. Từ một quả giống, sau 4 – 5 tháng, đã tạo thành một khóm gồm nhiều nhánh, có chiều cao đến 2m. Hoa ý dĩ được tạo thành một bông kép sau này cho rất nhiều quả. Khi quả chín, toàn cây tàn lụi, phần gốc còn lại tiếp tục tái sinh các thế hệ cây chồi mới cho năm sau.
Việt Nam là nước trồng nhiều ý dĩ trong khu vực. Trong những năm 80 và 90, ý dĩ của Việt Nam thường xuyên được xuất khẩu ra thị trường thế giới.
2. Cách trồng
Cây ý dĩ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Ý dĩ trồng được ở cả trung du, miền núi và đồng bằng. Các vùng trồng nhiều ý dĩ là Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum.
Cây được nhân giống bằng quả, gieo vào tháng 2 – 3, gieo thẳng hoặc gieo trong vườn ươm sau đánh cây con đi trồng. Cách gieo thẳng phổ biến hơn. Chọn quả to, chắc làm giống. Trước khi gieo, ngâm quả vào nước để loại bỏ quả nổi, sau đó, ngâm vào nước ấm 35 – 40oC trong 3 – 4 giờ, hoặc nước thường qua đêm, vớt ra, để ráo, rồi đem gieo.
Chọn đất tốt, tơi xốp, thoát nước, đầy đủ ánh sáng. Đất đồi có cấu tượng nhẹ và trung bình, đất thịt ít sét, đất phù sa không ngập nước rất thích hợp với ý dĩ. Đất cần cày bừa, để ải, đập nhỏ, lên luống cao 20 – 25cm, rộng 1m để trồng 3 hàng, mỗi hàng cách nhau 35 – 40cm. Có thể bổ hốc hoặc đánh rạch, sau đó bón lót mỗi hecta 10 – 15 tấn phân chuồng hoai, 2000 kg lân, 100 kg kali. Phân trộn đều với đất theo hốc hoặc theo rạch
Quả gieo thành khóm, cách nhau 17 – 20 cm, mỗi khóm 5 – 6 hạt. Gieo xong, phủ đất hoặc tro dày 1,5 – 2cm, tưới đủ ẩm. Khi cây cao 5 – 7cm, bắt đầu tỉa bớt, mỗi khóm để lại 3 – 4 cây. Cây con tỉa ra có thể dùng để giâm vào những chỗ trống.
Cần làm cỏ, xới xáo, vun gốc, bón thúc 3 – 4 lần. Lần thứ nhất tiến hành sau khi tỉa cây. Các lần sau cách nhau 25 – 30 ngày cho tới khi cây bắt đầu ra hoa. Bón thúc nên dùng nước phân chuồng, nước giải hoặc đãm pha loãng (2%) để tưới. Chú ý không bón quá nhiều đạm, cây sẽ ra nhiều lá, hạt lép. Tuỳ tình hình sinh trưởng của cây, có thể bón thúc thêm phân kali trước khi cây ra hoa.
Ý dĩ chịu được hạn nhẹ nhưng không chịu được úng. Gặp trời mưa to, cần thoát nước ngay. Cây ít bị bệnh.
Quả ý dĩ thu vào tháng 9 – 10, khi lá úa vàng. Cắt cả bông mang về, phơi khô, đập lấy quả, rồi đem sấy ở 50 – 60oC. Khi vỏ giòn, xát bỏ vỏ, lấy nhân.
Cắt cả cây về phơi, đập lấy quả chín, phơi hay sấy khô, loại bỏ quả non, lép, rối xay xát, thu lấy nhân trắng, phơi hoặc sấy khô.
3. Các giống ý dĩ ở Việt Nam
Ở Việt Nam có ba giống bo bo (ý dĩ):
- Bo bo tẻ (C. lacryma-jobi var. stenocarpa Oliv.); hạt bo bo tẻ sắc trắng, lớn hạt thường trồng làm thức ăn.
- Bo bo cườm (C. lacryma-jobi var. puellarum E.G.Camus & A.Camus); giống này nhỏ hạt lại rất cứng, không dùng ăn mà chỉ dùng xâu hạt làm chuỗi, kết mành, v.v.
- Bo bo nếp (C. lacryma-jobi var. ma-yuen (Rom.Caill.) Stapf); giống này lớn hạt, róc vỏ, và được coi là quý nhất. Tương truyền Mã Viện đã đem hạt này từ Giao Chỉ sang Trung Hoa gây giống.
4. Thành phần hóa học
Ý dĩ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong ý dĩ nhân có khoảng 65% chất carbohydrate, 5,4% chất béo, 13,7% chất protid và các axit amin như leucine, lysine, arginine, tyrosine, histidine, chất coixol là một chất protid đặc biệt của ý dĩ, và axit glutamic. Tro có chừng 2,3%.
Trong rễ ý dĩ cũng có chừng 17,6% chất protein, 7,2% chất béo và 52% tinh bột.
Công thức phân tử của coixol (6-Methoxy-2-benzoxazolinone) C8H7NO3 như sau:
Coixol (ảnh từ Pubchem; mã số: 10772)
Cây ý dĩ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Quả ý dĩ chứa tinh bột 50 – 79%, protein 16 – 19%, dầu béo 27%, lipid (5,67% glycolipid, 1,83% phospholipid, sterol), thiamine, acid amin, adenosine, chất vô cơ vết.
Dầu béo có coixenolide (vào khoảng 0,25%), coixol. Các sterol là feruloyl stigmasterol, feruloyl campesterol.
Ngoài ra, còn có α-monoolein chitinase, enzyme này làm xúc tác cho sự thủy phân chitin thành 2-acetylamino-2-deoxyglucose.
Lá và rễ chứa benzoxazolone (= 2-benzoxazolinone).
Rễ còn có một số dẫn chất lignan và syringyl glycerol.
Ý dĩ chứa 39,8 ppm sắt (CA. 117: 110481x).
Các acid béo và các chỉ số peroxide của dầu béo trong quả bảo quản ở 15o cũng tương tự như bảo quản ở 5o. Nhiệt độ bảo quản thích hợp là 15o (CA. 127: 64855f).
5. Tác dụng dược lý
Ý dĩ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Theo Tự Bản (Triều Tiên y hội chí năm 1927 số 75) chất béo chiết suất từ hạt ý dĩ bằng ête dầu hỏa có những tác dụng sau:
– Trên một loài ếch, làm đình chỉ hô hấp.
– Tiêm vào tĩnh mạch thỏ sẽ thấy huyết áp hạ xuống, hô hấp khó khăn.
Nếu dùng nước ý đi tác dụng trên tim cô lập của một loài ếch thì thấy ở nồng độ thấp có tác dụng hưng phấn, nhưng nồng độ cao có tác dụng ức chế.
Tác dụng đối với cơ xương và cuối dây thần kinh vận động của một loại ếch cũng thấy lúc đầu có hiện tượng hưng phấn về sau thì ức chế.
Sau khi đã chiết suất chất dầu bằng ête dầu hỏa, bã ý dĩ còn lại chiết xuất bằng nước hay cồn đều có tác dụng.
Theo Chem. Pharm. Bull. 1961, 9, 43, 47, trong ý dĩ Coix lacryma-jobi var. ma-yuen (Rom.Caill.) Stapf có 7,2% chất dầu béo, trong đó có chất coixenolide C38H70O4 có tác dụng chữa ung nhọt và có cấu trúc sau đây:
Cây ý dĩ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tác dụng đối với cơ vân và đầu cuối thần kinh vận động: Thành phần dầu của quả ý dĩ chiết bằng ether dầu hoả đối với cơ vân và đầu cuối thần kinh vận động với nồng độ thấp có tác dụng kích thích, còn với nồng độ cao thì làm tê liệt, vị trí tác dụng không phải ở dây thần kinh mà ở phần cơ. Chất coixol cùng có tác dụng ức chế cơ vân trên tiêu bản thần kinh – cơ ếch, thuốc có tác dụng ức chế cơ co bóp do kích thích điện gây nên.
Tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương: Dầu quả ý đĩ với liều nhỏ kích thích hô hấp, liều lớn lại ức chế. Hoạt chất coixol với liều 100 mg/kg tiêm tĩnh mạch thí nghiệm trên chuột nhắt trắng có tác dụng làm giảm hoạt động tự nhiên của chuột, với liều 40 mg/kg tiêm tĩnh mạch trên thỏ, điện não đồ xuất hiện sóng chậm, có biên độ cao, thí nghiệm trên chuột cống trắng với liều 50 – 100 mg/kg tiêm xoang bụng làm hạ thân nhiệt. Thí nghiệm trên chuột nhắt gây đau bằng kích thích điện và trên chuột công trắng gây đau bằng nhiệt, dầu quà ý dĩ với liều 100 mg/kg tiêm xoang bụng có tác dụng giảm đau rõ rệt. Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, hoạt chất coixol có tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của thiopental và ức chế co giật do pentylenetetrazol gây nên.
Tác dụng đối với hệ tim mạch: Thí nghiệm trên tim ếch và chuột lang cô lập, dầu quả ý dĩ với nồng độ thấp gây kích thích còn với nồng độ cao thì ức chế co bóp tim. Hoạt chất coixol có tác dụng ức chế tim ếch cô lập, làm cho biên độ co bóp giảm, nhịp đập chậm lại, thí nghiệm trên thỏ bằng đường tiêm tĩnh mạch huyết áp hạ trong một thời gian ngắn.
Tác dụng chống ung thư: Dạng chiết bằng cồn, và aceton của quả ý dĩ tiêm xoang bụng cho chuột nhắt trắng, có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột được cấy truyền u báng Ehrlich. Dạng chiết bằng aceton thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, có tác dụng ức chế rõ rệt ung thư cổ tử cung. Thành phần có tác dụng chống ung thư là hoạt chất coixenolide.
Các tác dụng khác: Dạng chiết từ quả ý dĩ trên tiêu bản ruột non thỏ cô lập với liều thấp có tác dụng kích thích và với liều cao thì giai đoạn đầu có tác dụng kích thích và giai đoạn tiếp theo là ức chế. Hoạt chất coixol đối với ruột thỏ cô lập và tại chỗ đều có tác dụng ức chế co bóp. Dầu quả ý dĩ và coixol thí nghiệm trên thỏ có tác dụng gây hạ đường huyết nhe.
Thí nghiệm trên ống kính, nước ép từ cây ý dĩ tươi hoặc nước sắc của rễ có tác dụng ức chế sự phát triển các chủng Staphylococcus aureus, Streptococcus hemolyticus, Bacillus anthracis, B. diphtheriae.
Độc tính: Dầu quả ý dĩ thí nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm dưới da có liều gây chết trong khoảng 5 – 10 g/kg. Chất coixol cho chuột nhất trắng uống với liều 0,5 g/kg/ngày trong vòng một tháng không thấy có biến đổi khác thường xảy ra.
Công dụng và liều dùng của ý dĩ
Do lượng protid và chất béo và chất tinh bột cho nên ý dĩ là một chất thuốc bồi bổ cơ thể. Nhưng trong đông y thường coi ý dĩ là một vị thuốc nếu dùng sống “lợi thấp nhiệt”, dùng chín chữa tả lỵ, lợi tiểu tiện, tiêu thủy thũng, chữa được gân co quắp không co duỗi được, phong thấp lâu ngày không khỏi.
Liều dùng: Ngày uống 8 – 30g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Theo tài liệu cổ ý đã có vị ngọt, tính hơi hàn vào 3 kinh tì, vị và phế. Có tác dụng kiện tỳ bổ phế, thanh nhiệt thẩm thấp. Dùng chữa thủy thũng cước khí tiết từ, phế ung, phế nuy.
Tại Triều Tiên, loại đồ uống đậm đặc gọi là yulmu cha (율무차, nghĩa văn chương “trà ý dĩ”) được làm từ bột ý dĩ. Một loại đồ uống tương tự, gọi là ý mễ thủy (薏米水), cũng có trong ẩm thực Trung Hoa, và được làm bằng cách đun sôi các hạt ý dĩ đã chuốt bóng trong nước và được làm ngọt bằng đường để có một loại chất lỏng đục như mây. Hạt thông thường được lọc ra khỏi chất lỏng, nhưng cũng có thể được ăn cùng với nước hoặc riêng.
Ở cả Triều Tiên và Trung Quốc, một loại rượu mùi chưng cất cũng được làm từ ý dĩ.
Một số bài thuốc chứa ý dĩ:
Trị răng đau, răng sâu: Ý dĩ, cát cánh, nghiền nát thành bột nhuyễn, nhét vào chỗ răng đau.
Trẻ em rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài, đái đục: Hạt ý dĩ 12g, hoài sơn đồ sao 10g tán bột, cho ăn mỗi lần 6 – 7g hòa với nước cơm, ngày ăn 2 – 3 lần.
Tiêu chảy mạn tính: Hạt ý dĩ sao vàng 50g, hạt sen sao vàng 40g, sa nhân 5g. Tất cả đem tán bột mịn, ngày uống 2 – 3 lần với nước cơm, mỗi lần 10 – 15g.
Phụ nữ khí hư, bạch đới: Hạt ý dĩ sao vàng 20g, rễ cây bấn trắng 20g sao vàng. Sắc uống ngày một thang.
Tê thấp, đau lưng, mỏi khớp: Hạt ý dĩ sao vàng 30g; thổ phục linh, cẩu tích, tỳ giải đều 20g. Sắc uống ngày một thang.
Cách nấu cháo ý dĩ chuẩn nhất
Ý dĩ còn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao rất tốt cho những trẻ sơ sinh bị tiểu gắt hoặc nước tiểu nóng. Với các món ăn chế biến từ ý dĩ, thông dụng nhất là cháo ý dĩ.
Nguyên liệu:
- Ý dĩ: 50g
- Gạo nếp, gạo tẻ: 100g
- Hạt sen: 50g
- Đường phèn: 30g
Cách thực hiện như sau:
Bước 1: Ngâm hạt sen với nước chanh 1 đêm hôm sau vớt ra phơi khô rồi mang đi tán bột.
Bước 2: Đem gạo nếp + gạo tẻ ngâm trong nước ấm khoảng 3 giờ sau đó cho vào nồi ninh thật nhừ.
Bước 3: Đem ý dĩ xay thành bột nhuyễn.
Bước 4: Cho tất cả cho vào nồi cháo đã ninh nhừ sau đó cho thêm nước vào tiếp tục ninh trên lửa nhỏ khoảng 30 phút nữa là tất cả nguyên liệu đã chín hẳn sau đó bạn cho ít đường phèn vào, khuấy đều cho đường tan, nêm nếm độ ngọt cho vừa khẩu vị rồi bắt bếp, múc ra bát dùng nóng.
Vậy là món cháo ý dĩ đã hoàn tất. Món này cực kỳ mát nên nếu cho trẻ ăn, thì bạn cứ yên tâm để trẻ ăn bao nhiêu tùy ý nhé.
Địa chỉ bán cây giống ý dĩ tại Hà Nội uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống ý dĩ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.










