Sửa chính tả và điều chỉnh lại nội dung: 26/3/2025;
Cỏ mực hay cỏ nhọ nồi, hàn liên thảo, tên tiếng Anh là false daisy (danh pháp khoa học là Eclipta prostrata (L.) L.) là một loài thực vật thuộc họ Cúc Asteraceae.



Mô tả cây cỏ mực
Nó có hình trụ, rễ màu xám. Cỏ mực mọc thẳng đứng có thể cao tới 80 cm, thân có lông cứng. Lá mọc đối có lông 2 mặt, dài 2 – 8 cm, rộng 5 – 15mm. Cụm hoa hình đầu màu trắng ở kẽ lá hoặc đầu cành, lá bắc thon dài 5 – 6mm, cũng có lông. Các đầu hoa đơn độc có đường kính 6 – 8 mm, với các bông hoa màu trắng. Quả bế 3 cạnh, hoặc dẹt, có cánh, dài 3mm, rộng 1,5mm, đầu cụt, mọc hoang khắp nơi ở nước ta. Gọi là cây cỏ mực vì khi vò nát có nước chảy ra như mực đen.


Thông tin thêm
1. Phân bố của cỏ mực
Loài này mọc phổ biến ở những nơi ẩm ướt, từ khu vực ôn đới ấm đến nhiệt đới trên toàn thế giới. Theo Barkley (2006), biên tập trong cuốn “Flora of North America Editorial Committee” thì nó được cho là có nguồn gốc tại châu Mỹ nhưng đã du nhập rộng khắp vào miền nam châu Âu, châu Phi, miền nam châu Á và Australasia (Barkley et al.; Flora of North America North of Mexico; p. 64, 67, 128; vol. 21; 2006).
2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Cỏ nhọ nồi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Theo các nhà nghiên cứu trước, trong nhọ nồi có một ít tinh dầu, tanin, chất đắng, caroten và chất alkaloid gọi là ecliptal. Có sách nói chất alkaloid đó là nicotin.
Năm 1959, Govindachari T R. và đồng sự đã chiết được từ cỏ nhọ nổi một chất wedelolacton là một coumestan. Sau đó tác giả cũng thấy chất này trong cây sài đất.
Ngoài wedelolacton, năm 1972 K. K. Bharagava (Ind. J. Chem 8,72: 810) còn tách được demethylwedelolactone và một flavonoside chưa xác định.
Báo cáo tổng hợp “Ethnopharmacological Significance of Eclipta alba (L.) Hassk. (Asteraceae)” của Rownak Jahan cùng cộng sự; International Scholarly Research Notices; 2014; 29:2014:385969:
- Coumestan: Wedelolactone, demethylwedelolactone, demethylwedelolactone-7-glucoside.
- Các terpenoids và glycoside của chúng: Eclalbasaponin VII–X (các taraxastane triterpene glycoside), eclalbasaponin I–VI (các oleanane triterpene glycoside), eclalbosaponin I–VI (các triterpene glycoside), ecliptasaponin C và D (các triterpenoid glucoside), α-amyrin, oleanolic acid, ursolic acid (các triterpenoid).
- Sterol: Stigmasterol, daucosterol, stigmasterol-3-O-glucoside.
- Các alkaloid: (20S)(25S)-22,26-imino-cholesta-5,22(N)-dien-3β-ol (verazine) (1A), 20-epi-3-dehydroxy-3-oxo-5,6-dihydro-4,5-dehydroverazine (2A), (20R)-20-pyridyl-cholesta-5-ene-3β,23-diol (ecliptalbine) (3A), (20R)-4β-hydroxyverazine (4A), 4β-hydroxyverazine (5A), (20R)-25β-hydroxyverazine (6A), 25β-hydroxyverazine (7A).
- Các flavonoid: Luteolin-7-glucoside, luteolin, apigenin, orobol (isoluteolin).
- Các sesquiterpene lactone: 5-hydroxymethyl-(2,2′:5′,2′′)-terthienyl tiglate (1S), 5-hydroxymethyl-(2,2′:5′,2′′)-terthienyl agelate (2S), 5-hydroxymethyl-(2,2′:5′,2′′)-terthienyl acetate (3S).
- Terthienyl aldehyde: Ecliptal.
- Fatty alcohol (alcohol béo): Hentriacontanol, heptacosanol.
- Tinh dầu: Heptadecane (1V), 6,10,14-trimethyl-2-pentadecanone (2V), n-hexadecanoic acid (3V), pentadecane (4V), eudesma-4(14),11-diene (5V), phytol (6V), octadec-9-enoic acid (7V), 1,2-benzenediacarboxylic acid diisooctyl ester (8V), (Z,Z)-9,12-octadecadienoic acid (9V), (Z)-7,11-dimethyl-3-methylene-1,6,10-dodecatriene (10V), (Z,Z,Z)-1,5,9,9-tetramethyl-1,4,7-cycloundecatriene (11V).
- Saponin: Eclalbatin (triterpene saponin), dasyscyphin C.
- Phenolic acid: Protocatechuic acid, 4-hydroxy benzoic acid.
3. Tác dụng sinh lý
Cỏ nhọ nồi – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Năm 1961, Viện dược liệu và Bộ môn dược lý Trường đại học y dược Hà Nội có nghiên cứu tác dụng cầm máu và độc tính của cỏ nhọ nồi đã đi đến một số luận sau:
1. Về tác dụng cầm máu
a) Nước sắc cỏ nhọ nồi khô, với liều 3g/kg thể trọng trên khi có tác dụng làm giảm thời gian Quick rõ rệt nghĩa là làm tăng tỷ lệ prothrombin toàn phần. Nhọ nồi cũng như vitamin K có tác dụng chống lại tác dụng của dicumarin.
b) Nhọ nói làm tăng trương lực của tử cung cô lập. Trường hợp chảy máu tử cung, nếu dùng nhọ nổi thì ngoài tác dụng làm tăng prothrombin, còn có thể làm nên thành tử cung, góp phần thúc đẩy việc chống chảy máu.
Đối với thỏ có thai có thể gây sảy thai.
c) Cỏ nhọ nồi không gây tăng huyết áp.
d) Cỏ nhọ nồi không làm dãn mạch.
2. Về độc tính của cỏ nhọ nồi
Thử trên chuột bạch với liều từ 5 đến 80 lần liều lâm sàng không có triệu chứng độc.
Theo dõi trên lâm sàng, bệnh viện Ninh Giang (1961) đã cho 3 bệnh nhân (2 có thai 3 – 4 tháng, 1 không có thai bị ra huyết) uống 3 – 6 ngày mỗi ngày 20g cỏ nhọ nồi khô chế thành thuốc sắc. Sau 1 – 2 ngày đỡ ra huyết, sau 3 – 6 ngày khỏi và ra viện.
Sử dụng cây cỏ mực
Theo y học cổ truyền, cỏ mực có vị ngọt, chua, vào 2 kinh Can và Thận; có tác dụng bổ thận âm, lương huyết (mát huyết), chỉ huyết (cầm máu), thanh can nhiệt, làm đen râu tóc, … Trong dân gian thường dùng cỏ mực giã vắt lấy nước để uống cầm máu trong rong kinh, trĩ ra máu, chảy máu cam …
Ở Đông Nam Á, toàn cây khô được dùng trong y học cổ truyền, mặc dù không có nghiên cứu lâm sàng chất lượng cao nào chỉ ra rằng những cách sử dụng trên có tác dụng.
Nó có thể được dùng để chữa chảy máu bên trong và bên ngoài, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, trĩ, đại tiểu tiện ra máu, nôn và ho ra máu, chảy máu dưới da; còn chữa ban sởi, ho, hen, viêm họng, bỏng, nấm da, tưa lưỡi. Ngày 12 – 20 g cây khô sắc hoặc 30 – 50 g cây tươi ép nước uống.
Địa chỉ mua cây giống nhọ nồi uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống nhọ nồi phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 30k một lần ship.








