Bộ sưu tập




Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Húng chanh hay rau thơm lông, rau tần, tần dày lá, rau thơm, dương tử tô, … tên tiếng Anh là Indian borage, country borage, French thyme, Indian mint, Mexican mint, Cuban oregano, soup mint, Spanish thyme, … (danh pháp khoa học là Coleus amboinicus Lour.; đồng nghĩa: Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Hoa môi Lamiaceae.
Mô tả cây húng chanh
Cây húng chanh – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Húng chanh là một loại cỏ, gốc hoá gỗ có thể cao 25 – 75cm. Thân mọc đứng, có lông. Lá có cuống, mọc đối, rộng, hình bầu dục, dày, trông như mọng nước. Lá dài 7 – 10cm, rộng 4 – 6cm, mép khía tai bèo, mặt trên có lông đơn, đầu mang hạch, trong, bóng; mặt dưới lá nhiều lông bài tiết hơn, gân nổi rõ. Hoa màu tía, nhỏ, mọc thành hoa tự, tận cùng đài gồm các vòng hoa mọc sít nhau gồm 20 – 30 hoa.
Cây húng chanh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm, cao 20 – 50 cm. Thân mọc đứng hay ngả, phần sát gốc hóa gỗ. Lá mọc đối, dày, mọng nước, hình trứng rộng, gốc hình nêm, đầu hơi nhọn hoặc tù, dài 3 – 6 cm, rộng 2 – 5 cm, mép khía răng tròn.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành bông dày, các vòng mang hoa rất sít nhau; hoa nhỏ màu tím hồng; đài hình chuông ngắn, có lông, chia 5 răng, răng trên hình trứng rộng, răng dưới và răng bên gần bằng nhau; tràng cong, có ống hình phễu, mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn, môi dưới dài bằng ống tràng, môi trên ngắn, 3 thùy, thùy trên rộng, hai thùy bên hình mũi mác; nhị 4, thò ra ngoài tràng.
Quả bế tư, nhỏ, hình cầu, màu nâu.
Toàn cây có lông rất nhỏ và mùi thơm như chanh. Mùa hoa quả: tháng 3 – 5.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây húng chanh – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây húng chanh có nguồn gốc ở đảo Moluques (??), được trồng khắp nơi ở Việt Nam để lấy lá, có mùi thơm dễ chịu như mùi chanh, vị trước thơm sau hắc, mát. Dùng làm gia vị. Tại các nước khác: Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Campuchia có tên là sak đam ray. Thường chỉ dùng tươi. Hái lá hay cành non, rửa sạch mà dùng.
Cây húng chanh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Coleus Lour. có khoảng 200 loài, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Phi và một số đảo ở Thái Bình Dương. Chi này có 3 loài ở Việt Nam.
Húng chanh có nguồn gốc ở vùng Đông Ấn Độ và đảo Moluques, sau được trồng phổ biến ở Malaysia, Philippines, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Trung Quốc.
Ở Việt Nam, húng chanh là cây trồng từ lâu đời, rải rác trong nhân dân, chưa trở thành một cây trồng sản xuất. Cây ưa sáng và ưa ẩm, đôi khi chịu hạn. Cây trồng trên đất cát vùng ven biển miền Trung, vào mùa khô, nhiều ngày không tưới nước, cây vẫn sinh trưởng phát triển được. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc có hiện tượng rụng lá vào mùa đông, ít khi thấy có hoa. Húng chanh có khả năng tái sinh vô tính khỏe.
2. Thành phần hoá học
Cây húng chanh – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong húng chanh có một chất màu đỏ gọi là colein và một ít tinh dầu mùi thơm nhẹ. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là chất cacvacrol. Hoạt chất khác chưa rõ.
Cây húng chanh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lá húng chanh chứa tinh dầu trong đó thành phần chính là carvacrol 40,40% theo Malik M Shafiq và cs, 60,1% (Bos R và cs, 1983) và 64% (Pino J và cs, 1999); CA. 103, 3760d; CA. 90, 181332x; CA. 115, 13443n).
Tuy nhiên, cũng có tác giả chứng minh thành phần chính trong tinh dầu là thymol 41,30% (Baslas R K và cs, 1986; CA. 94, 15161).
Lá cây húng chanh mọc ở Phnom Penh (Campuchia) chứa 0,04% tinh dầu, trong đó có carvacrol 61,45%, γ-terpinene 9,91%, α-terpinene 8,08% (Nang Sothy và cs. 1989).
Lá húng chanh mọc ở Hà Nội chứa 0,002 – 0,003% tinh dầu trong đó có carvacrol 39,5%, γ-terpinene 19,0%, α-terpinene 16,8% (N. X. Dũng và cs. 1990).
3. Tác dụng dược lý
Cây húng chanh – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Tinh dầu húng chanh được thử nghiệm với phương pháp khuếch tán trên môi trường thạch và phương pháp pha loãng dần tinh dầu để xác định nồng độ ức chế thấp nhất. Tinh dầu húng chanh có tác dụng ức chế mạnh các vi khuẩn với nồng độ ức chế thấp nhất tương ứng như sau: trực khuẩn mycoides (1:1000), trực khuẩn subtilis (1:1000), trực khuẩn lao (giam độc) (1:1000), trực khuẩn lỵ flexneri (1:1000), tụ cầu khuẩn vàng (1:1000), trực khuẩn ly shiga (1:500), liên cầu khuẩn tan máu (1:500), trực khuẩn thương hàn (1:500), phế cầu khuẩn (1:500), và nấm Candida albicans (1:500).
Tinh dầu húng chanh có tác dụng diệt amip Entamoeba moshkovskii nuôi cấy trong môi trường lỏng với nồng độ ức chế thấp nhất là 1:1280.
Tinh dầu húng chanh còn có tác dụng ức chế trực khuẩn coli, liên cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu và trực khuẩn ho gà.
Cao nước húng chanh (thử phương pháp khuếch tán trên môi trường đặc) có tác dụng ức chế sự phát triển của phế cầu khuẩn và tụ cầu khuẩn vàng. Như vậy, tác dụng kháng khuẩn của húng chanh không chỉ do tinh dầu, mà còn có thể do những thành phần khác chứa trong cao nước như flavon, acid nhân thơm, tanin, vi lượng tinh dầu trong cao nước húng chanh rất ít.
Húng chanh có tác dụng ức chế hoại tính gây co thắt cơ trơn ruột có lập của histamin và acetylcholin.
Tinh dầu húng chanh được thử nghiệm với phương pháp khuếch tán trên môi trường thạch có tác dụng ức chế sự phát triển của các chủng phẩy khuẩn tả Inaba và Ogawa.
Giảo cổ lam – thần dược của trời – click tìm hiểu ngay
Công dụng của húng chanh
Lá húng chanh có vị the cay, hơi chua, mùi thơm, tính ấm, vào hai kinh can, phế, có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, phát hãn, tiêu nhiệt, tiêu độc.
Lá húng chanh được dùng chữa cảm cúm, ho, hen, viêm họng, ho ra máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi được, nôn ra máu, chảy máu cam. Thường dùng lá tươi với liều 10 – 16g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, xông hoặc giã nát vắt lấy nước uống. Trong thuốc xông, lá húng chanh thường được dùng phối hợp với nhiều loại lá khác có tinh dầu như sả, hương nhu, hoắc hương, … Cũng có thể dùng lá phơi âm can với liều 4 – 8g mỗi ngày.
Dùng ngoài, lá tươi húng chanh giã nát, đắp lên vết thương chữa rết và bọ cạp cắn.
Ở Ấn Độ, lá húng chanh được dùng chữa các bệnh về tiết niệu. Nước ép lá trộn với đường là một thuốc gây trung tiện mạnh. Húng chanh được dùng trong chứng khó tiêu, tuy có ý kiến cho rằng thuốc có độc. Nước sắc lá được dùng chữa ho và hen mãn tính.
Bài thuốc có húng chanh:
Chữa ho, viêm họng, khản tiếng:
- Lá húng chanh tươi nhai ngậm với muối, nuốt nước dần dần. Hoặc lấy 20g lá tươi giã nhỏ, thêm nước gạn uống làm 2 lần trong ngày. Đối với trẻ nhỏ, lấy lá tươi rửa sạch, giã nhỏ với ít đường, đem hấp cơm và cho uống làm 2 – 3 lần trong ngày.
- Húng chanh 20g, xạ can 20g. Nấu thành cao lỏng có đường, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần một thìa cà phê. Hoặc làm thành phiến, mỗi ngày ngậm một phiến, tương đương với 3g dược liệu.
Chữa ho gà: Húng chanh 10g, mạch môn 12g, vỏ rễ dâu 12g, bách bộ 10g, rau sam 10g. Sắc uống ngày một thang, uống liên tục 15 – 30 thang. Hoặc chế thành siro, ngày uống 3 lần, mỗi lần một thìa canh. Trẻ em giảm 1/2 liều.
Chữa cảm mao do lạnh: Húng chanh 10g, bách bộ 12g, tía tô 12g, xạ can 10g, gừng 8g, trần bì 8g, bạch chỉ 6g. Sắc uống ngày một thang trong 5 ngày liền.
Chữa cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức đầu ngạt mũi, ho đờm:
- Lá húng chanh tươi 15 – 20g, giã lấy nước cốt uống.
- Lá húng chanh tươi 15 – 20g, gừng 12g, hành 12g. Cùng lúc sắc uống và xông cho ra mồ hôi.
Cách trồng húng chanh
Cây húng chanh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Húng chanh được nhân giống bằng cành. Vào tháng 2 – 3, chọn những cây tương đối già, có rễ ở các đốt, cắt thành những đoạn có 2 – 3 đốt để làm giống. Cũng có thể áp cành xuống mặt đất, phủ đất cho cành ra rễ rồi cắt đoạn như trên.
Húng chanh có thể trồng trong vườn, ngoài ruộng hoặc trong chậu. Cần chọn chỗ đất cao, thoát nước, nhiều mùn. Sau khi làm đất, đánh luống cao 20 – 25cm, rộng 70 – 80 cm, rạch thành hàng ngang sâu 10 – 15 cm, cách nhau 30 cm. Trộn một ít phân chuồng mục vào rãnh rồi đặt hom giống, hom nọ cách hom kia 20 – 25 cm. Hom được đặt nghiêng và vùi kín khoảng 2/3, sau đó tưới nước. Có thể dùng rơm rạ phủ lên mặt luống để giữ ẩm, sau 5 – 7 ngày cây mọc thì dỡ bỏ. Khi cây bắt đầu mọc và sau mỗi lần thu hái, dùng nước phân chuồng, nước giải hoặc phân đạm pha loãng (1 – 2%) để tưới thúc. Mỗi lần thúc phân, kết hợp làm cỏ, xới xáo.
Sau 2 – 3 tháng, có thể thu hái lá. Thường chỉ thu hái lá bánh tẻ, lá phía ngọn được giữ lại cho cây tiếp tục sinh trưởng.
Về mùa mưa, cây hay bị thối gốc, vàng lá. Cần chú ý thoát nước nhanh sau mưa, tỉa bớt thân lá cho cây thoáng đãng và bón thêm lân, kali hoặc tro bếp.
Địa chỉ bán cây húng chanh uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, Long Biên. Đối diện với Tổng công ty may 10, Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Nhà vườn Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây húng chanh phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.












