Độ hoàn thiện nội dung: 80%.
Cuồng hay đơn châu chấu, đinh lăng gai, rau gai, độc lực, cẩm giảng, cẩm ràng (danh pháp khoa học là Aralia armata (Wall. ex G.Don) Seem.) là một loài thực vật có hoa trong Họ Cuồng Araliaceae.



Mô tả cây đơn châu chấu
Cây đơn châu chấu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ rất nhiều cành. Thân hơi gầy không có lông, trên có những gai cong quặp xuống. Lá to, kép 2 – 3 lần lông chim, có 9 – 11 lá chét, có cuống, phiến lá chét hình trứng, nhọn ở đầu, phía cuống hơi tròn, mép có răng cưa, trên những đường gần có những gai nhỏ. Cụm hoa hình chùy tán, nhiều gai, gồm nhiều hoa nhỏ màu trắng vàng nhạt hay xanh vàng nhạt. Nhị 5. Bầu hình trứng 5 ngăn, 5 vòi tự do. Quả màu đen nhạt dài 3 – 4mm.
Cây đơn châu chấu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ hoặc cây bụi, cao 1 – 2m, thân cành cứng, phân cành tỏa rộng, phủ đầy gai cong. Lá to mọc so le, kép 2 – 3 lần lông chim; lá chét hình trái xoan hay hình trứng, gốc tròn, đầu nhọn, mép khía răng, hai mặt đều có gai nhỏ trên các gân, cuống lá có bẹ to, nhiều gai nhọn sắc, lá kèm nhỏ.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành thành chuỳ dạng tán, phân nhánh nhiều, phủ đầy gai, hoa nhỏ màu vàng nhạt hoặc lục vàng; đài có 5 răng hình tam giác, tràng 5 cánh hẹp; nhị 5; bầu hình trứng, 5 ô. Quả hạch, hình tròn, khi chín màu đen, dài 3 – 4mm. Mùa hoa quả: tháng 7 – 9.
Thông tin thêm
1. Phân bố và sinh thái
Cây đơn châu chấu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Mọc hoang tại nhiều nơi trong nước ta chủ yếu tại những tỉnh miền núi Hà Tây, Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa. Thường đào lấy rễ rửa sạch đất cát phơi hay sấy khô mà dùng. Không phải chế biến gì đặc biệt.
Cây đơn châu chấu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Aralia L. có trên 50 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á. Ở Việt Nam có 14 loài. Loài đơn châu chấu tồn tại dưới hai thứ là:
– A. armata var. armata;
– A. armata var. pubescens Ha – thứ này mới chi phát hiện ở Việt Nam vào năm 1974 (I. Grushvitzky, N. Skvortsova, Hà Thị Dụng & N. Arnautov, 1985).
Còn var. armata có vùng phân bố rộng rãi hơn từ Trung Quốc, xuống Việt Nam, Lào, Thái Lan, và Malaysia, Việt Nam, đơn châu chấu phân bố tương đối rộng rãi từ vùng núi có độ cao khoảng 1500m, đến trung du và đôi khi cả ở vùng đồng bằng. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng nhất là ở thời kỳ cây con, thường mọc ở ven rừng ẩm, rừng thứ sinh, trên nương rẫy đã bỏ hoang lẫn với những loại cây bụi khác. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa hè thu; sau khi quả chín, có hiện tượng rụng lá vào mùa đông, nhất là đối với những cây (thuộc var. pubescens) sống ở vùng núi cao. Đơn châu chấu có nhiều hoa, quả. Quả chín rụng xuống đất hoặc bị chim ăn. Cây con mọc từ hạt quanh gốc cây mẹ được thấy vào tháng 4 – 5. Đơn châu chấu có khả năng tái sinh cây chồi sau khi bị chặt phá. Rễ, thu hái quanh năm, rửa sạch phơi hoặc sấy khô.
3. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học (sưu tầm)
Luận án Tiến sĩ Hóa hữu cơ của Nguyễn Thị Hồng Chương:
Thành phần hóa học
Từ lá và rễ cây Aralia armata, 25 hợp chất đã được phân lập và xác định cấu trúc hóa học. Theo tổng quan tài liệu tại thời điểm nghiên cứu, trong các hợp chất đã phân lập, có 05 hợp chất mới, 08 hợp chất lần đầu phân lập từ loài A. armata, 06 hợp chất có cả trong lá và rễ của cây này. Cụ thể:
Từ lá A. armata, 12 hợp chất đã được phân lập, bao gồm 03 hợp chất mới được đặt tên là araliaarmoside (4L), aramatoside B (9L), aramatoside A (12L) và 9 hợp chất đã biết là 3-O-β-D-glucuronopyranosyl-23-hydroxyoleanolic acid-28-O-β-D-glucopyranoside (1L), 3-O-[α-L-arabinopyranosyl-(1→3)-β-D-glucuronopyranosylhederagenin 28-O-β-D-glucopyranosyl ester (2L), chikusetsusaponin IVa methyl ester (3L), oleanolic acid-[28-O-β-D-glucopyranosyl]-3-O-[β-D-galactopyranosyl (1→3)]-[β-D-glucopyranosyl(1→2)]-β-D-glucuronopyranoside (5L), chikusetsusaponin IV (6L), oleanolic acid 28-O-β-D-glucopyranosyl ester (7L), narcissiflorine (8L), stipuleanoside R1 (10L), chikusetsusaponin IVa (11L).
Từ rễ A. armata, 13 hợp chất đã được phân lập, bao gồm 2 hợp chất mới được đặt tên là aramatoside C (4R), aramatoside D (5R) và 11 hợp chất đã biết là chikusetsusaponin IV (1R), narcissiflorine (2R), stipuleanoside R1 (3R), 3-O-{β-D-glucopyranosyl-(1→3)-[β-D-galactopyranosyl-(1→2)]-β-D-galactopyranosyl}-oleanolic acid (6R), araliasaponin XVI (7R), pseudogisenoside RT1 methyl ester (8R), linalool 3-O-β-D-xylopyranosyl-(1→6)-O-β-D- glucopyranoside (9R), linalool 3-O-α-L-arabinopyranosyl-(1→6)-O-β-D-glucopyranoside (10R), chikusetsusaponin IVa (11R), 3-O-β-D-glucuronopyranosyl-23-hydroxyoleanolic acid-28-O-β-D-glucopyranoside (12R), chikusetsusaponin IVa methyl ester (13R).
Trong số các hợp chất nêu trên, 8 hợp chất lần đầu được phân lập từ loài A. armata bao gồm 1L/12R, 2L, 5L, 6R, 7R, 8R, 9R, 10R; 6 hợp chất hiện diện trong cả bộ phận lá và rễ của cây này là 1L/12R, 3L/13R, 6L/1R, 8L/2R, 10L/3R, 11L/11R.
Hoạt tính sinh học
Đã đánh giá hoạt tính gây độc tế bào của 4/12 hợp chất được phân lập từ lá cây Aralia armata trong điều kiện in vitro. Đối với ba dòng tế bào ung thư ở người (HT29, A2058, A549), các hợp chất có giá trị IC50 dao động từ 2,01 ± 0,17 µM đến 18,8 ± 1,17 µM. Đối với dòng tế bào thường HEK-293A, hợp chất 8L có giá trị IC50 tại 55,04 ± 2,32 µM; các hợp chất 7L, 10L, 11L có giá trị IC50 >100 µM.
Độc tính cấp đối với chuột của phân đoạn nước thuộc lá cây A. armata đã được đánh giá. Liều lượng gây chết trung bình (LD50) đối với chuột nhắt trắng là 149,256 g/kg.
Đã đánh giá hoạt tính diệt nhuyễn thể trên ốc bươu vàng của các hợp chất được phân lập từ rễ A. armata. Giá trị LC50 của các hợp chất nằm trong khoảng 7,90 ‒ 17,50 µg/mL.
Độc tính cấp trên tôm nước mặn của các phân đoạn gần tinh khiết (AA2A2, AA2A4, AA2C2, AA4A3, AA4B2, AA4B3) từ rễ A. armata đã được đánh giá, giá trị LC50 của các phân đoạn nằm trong khoảng 148,55 – 193,22 µg/mL.



Công dụng của cây đơn châu chấu
Trong nhân dân, rễ đơn châu chấu được dùng sắc uống và ngậm để chữa ho, viêm họng, viêm amidan. Ngoài ra, còn chữa thấp khớp, rắn cắn, bí đái, sưng vú, phù thũng, sốt rét cơn, bạch hầu. Ngày dùng 15 – 20g, có khi tới 30g. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc có đơn châu chấu:
Chữa sưng vú: Rễ đơn châu chấu, vỏ cây sảng, lá mua đỏ, bồ công anh, kim ngân, mỗi thứ 20 – 30g. Giã với muối, trộn nước vo gạo. Đắp vào chỗ sưng.
Chữa ho lâu ngày, viêm họng, viêm amidan: Rễ đơn châu chấu, vỏ cây khế chua, mỗi vị 8 – 12g. Sắc uống.
Chữa phù thũng: Rễ đơn châu chấu 12g , rễ cầy, thóc lép 10g, lá cối xay 3g, sao vàng, sắc uống.
Chữa hen: Rễ đơn châu chấu 12g, rễ cây ngấy tía 8g, rễ cây han tía 8g , thái nhỏ, phơi khô, sắc uống.
Địa chỉ mua giống cây đơn châu chấu uy tín chất lượng
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống đơn châu chấu phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây đơn châu chấu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây đơn châu chấu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Luận án Tiến sĩ Hóa hữu cơ “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Aralia armata thuộc chi Aralia họ Nhâm sâm (Araliaceae) ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Hồng Chương; chuyên ngành: Hóa hữu cơ; mã số: 9 44 01 14 (62 44 01 14); năm 2023.








