Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
♥️: Đã kiểm tra chính tả
💕: Đã kiểm tra nguồn tham khảo
Chặc chìu hay chạc chìu, dây chiều, tích diệp đằng, … (danh pháp khoa học là Tetracera scandens (L.) Merr.; đồng nghĩa Tetracera sarmentosa Vahl) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Sổ Dilleniaceae.







Mô tả cây chặc chìu
Cây chặc chìu (dây chiều, tích diệp đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Dây chặc chìu là một cây nhỏ leo, dài 3 – 5m hay hơn, có nhiều cành, có lông. Lá dai, nháp hình bầu dục, mép có răng cưa, phiến lá hẹp về phía cuống. Hoa trắng mọc thành chùy ở nách hay ở ngọn, ít hoa. Đài hình trứng, hơi thắt lại ở đáy bao bọc bởi áo hạt bị tước nhiều nơi. Mùa hoa: tháng 6.
Cây chặc chìu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dây leo, thân gỗ. Cành non mềm, có lông ráp; cành già cứng, màu nâu. Lá mọc so le, hình mác thuôn, đầu nhọn, mép khía răng nhọn, hai mặt rất nháp, gân nổi rất rõ, cong mút vào đầu răng. Cụm hoa mọc thành chùm chùy ở kẽ lá hoặc đầu cành gồm nhiều hoa nhỏ, lá bắc có lông áp sát; đài có 5 răng, mép có lông; tràng 5 cánh nhẵn, rụng sớm, nhị nhiều; bầu hình trứng nhẵn. Quả khô có một hạt. Mùa hoa quả: tháng 7 – 9. Tránh nhầm với dây tứ giác (Tetracera indica (Christm. & Panz.) Merr.) có lá nhẵn.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây chặc chìu (dây chiều, tích diệp đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây mọc hoang ở nhiều nơi vùng rừng núi và đồng bằng khắp nước ta. Vì mặt dưới của lá nháp cho nên nhân dân nhiều nơi dùng để đánh những đồ vật như gỗ, thiếc, sắt cho bóng; thân dây leo thường được nhân dân dùng làm chạc vì dẻo và dai.
Cũng dùng làm thuốc: Cắt về, thái mỏng phơi khô sắc uống hay sao vàng rồi sắc uống.
Cây chặc chìu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tetracera L. gồm một số loài dây leo gỗ, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á. Ở Việt Nam, có 5 loài (Nguyễn Tiến Bân; 1997), trong đó 4 loài được dùng làm thuốc (Võ Văn Chi, 1997).
Dây chiều phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước vùng nhiệt đới Đông Nam Á, Nam Á và Trung Quốc. Ở Việt Nam dây chiều cũng phân bố khá phổ biến ở tất cả các tỉnh thuộc vùng núi thấp (dưới 1000m) và trung du.
Dây chiều thuộc loại cây ưa sáng và chịu hạn, mọc ở rừng thứ sinh, rừng thưa, ven rừng núi đá vôi hoặc đồi cây bụi. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Xung quanh gốc cây mẹ có các cây con mọc từ hạt. Dây chiều là đối tượng chặt bỏ khi tu bổ rừng, song phần còn lại vẫn có khả năng tái sinh cây chồi mới.
Rễ, thân dây chiều thu hái quanh năm, phơi khô. Dùng sống hoặc tẩm rượu sao vàng.
2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Cây chặc chìu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dây chiều chứa isorhamnetin, rhamnetin, azaleatin, rhamnocitrin.
Dây chặc chìu có tác dụng gì ?
Dây chiều vị chát hơi chua, tính bình, mát, có tác dụng tán ứ, hoạt huyết, thu liễm, cố tinh.
Dây chiều chữa tê thấp, đau bụng ứ huyết bạch đới ở phụ nữ, thông tiểu, chữa phù thân hoặc phù do gan, gan lách sưng to. Còn dùng làm thuốc bổ và tẩy máu. Ở Trung Quốc, người ta dùng dây chiều chữa viêm ruột, kiết lỵ, di tinh, vết thương. Ngày 10 – 30g dây thân hoặc 8 – 16g rễ, sắc uống, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài, sắc đặc, rửa vết thương.
Bài thuốc có dây chiều:
Chữa phong thấp, gân xương đau nhức, khớp sưng đau:
- Dùng dây chiều, huyết giác, cỏ xước hay ngưu tất, tổ rồng, tầm xuân, kim cang, dây đau xương, dây chìa vôi (ngâm nước vo gạo một đêm) sao vàng, mỗi vị 15 – 20g, sắc uống trong ngày. Có thể dùng dây chiều phối hợp với dây gắm, thổ phục linh, cà gai leo, dây đau xương, ngũ gia bì.
- Có thể dùng dây chiều 40g, bạc thau, xích đồng nam, rễ cà gai leo, vỏ cây gạo, tơ hồng xanh, vỏ cây trứng ếch, rễ gấc, quả ké đầu ngựa, rễ cây xấu hổ, rễ si, cành sung, mỗi thứ 12g, sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày.
Chữa kiết lỵ, đau bụng đi ngoài ra máu: Dây chiều (hoặc rễ) 30g, sắc nước chia 3 lần uống trong ngày. Nếu chữa khỏi dùng tiếp dây chiều 6g, mộc miên hoa (hoa gạo) 6g. Sắc uống. Dùng 1 – 2 lần.
Chữa vết thương, lở loét, chảy nước vàng: Dây chiều sắc đặc, rửa.
Chữa cổ trướng: Dây chiều 40g, rễ ngấy hương 20g, rễ xấu hổ 20g, hy thiêm 20g, cây sả 20g, râu ngô 10g. Sắc uống trong ngày, dùng từ 7 – 10 ngày. Khi uống thuốc có thể bị nôn nao, mệt, nhưng nằm nghỉ một lát là hết.
Chữa phụ nữ tịch huyết, u xơ gan hoặc gan lách sưng cứng: Dùng dây chiều, cẩm địa la (ngải máu), mỗi vị 20g, xạ can, hồi đầu mỗi vị 12g. Sắc uống.
Chữa nam di tinh, nữ bạch đới: Dây chiều, rễ bươm bướm, bạc thau, cẩu tích, mỗi vị 20g, sắc uống.
Địa chỉ bán cây giống chặc chìu uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Nhà vườn Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây chặc chìu phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây chặc chìu – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây chặc chìu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.








