Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Mì chính hay rau bina, bánh tẻ, đu đủ Nhật, rau Lào, rau chân vịt, … tên tiếng Anh là chaya, tree spinach, Mayan tree spinach, spinach tree (danh pháp khoa học là Cnidoscolus aconitifolius (Mill.) I.M.Johnst.; đồng nghĩa: Jatropha aconitifolia Mill.) là loài thực vật thuộc họ Đại Kích Euphorbiaceae.
Mô tả cây mì chính
Cây Chaya là loại cây bụi thường xanh, chịu hạn, có thể cao tới 6 m, với lá mọc so le hoặc hình chân vịt, có nhựa trắng sữa và hoa nhỏ màu trắng mọc trên cụm hoa phân nhánh đôi (Hình 1). Cây Chaya có thể phát triển thành bụi cao từ 5 đến 6 mét (Hình 1), nhưng khuyến nghị nên duy trì ở chiều cao khoảng 2 m. Dù được giữ ở kích thước nhỏ, cây vẫn có khả năng sản xuất một lượng lớn lá. Thời gian thu hoạch thường kéo dài từ hai đến ba tháng.
Lá Chaya rất lớn và mọng nước, có thể dài tới 32 cm và rộng 30 cm, với cuống lá dài tới 28 cm [7]. Lá có lông gai ở cuống và mép dưới của phiến lá. Lá trưởng thành thường có ba thùy, mép lá thô ráp và không có lông gai, trong khi lá non chưa có thùy rõ rệt như lá trưởng thành. Hoa của cây trưởng thành có thể tạo ra phấn hoa nhưng phần lớn không khả thi. Quả trưởng thành hiếm gặp, không có hạt sống, với thân dày và mọng nước.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái
Các loài Cnidoscolus được phân bố rộng rãi từ miền nam Texas dọc theo bờ biển vùng Vịnh, qua Yucatán và Chiapas, và đến tận Colombia. Chaya đã được truyền bá đến các gia đình Maya ở khu vực thành thị và ngoại ô phía nam khắp Mexico và tây nam Hoa Kỳ [6]. Hiện nay, nó đã lan rộng đến Cuba, Florida, Mexico và Hoa Kỳ. Trong phạm vi bản địa, Chaya thường chỉ được trồng làm cây cảnh hoặc hàng rào sống trước đây. Tuy nhiên, gần đây việc sử dụng Chaya làm thực phẩm và dược liệu đã gia tăng nhờ những đặc tính dinh dưỡng và lợi ích sức khỏe vốn có.
Chaya nhạy cảm với lạnh và thường phát triển tốt hơn vào đầu mùa hè. Nó sinh trưởng mạnh mẽ trong nhiều điều kiện khác nhau, bao gồm nắng gắt hoặc mưa nhiều, khí hậu ẩm hoặc khô. Đáng chú ý, cây Chaya hầu như không cần chăm sóc nhiều và vẫn phát triển tốt trên đất ít màu mỡ. Mặc dù có thể sống trong khí hậu khắc nghiệt, nhưng khí hậu thuận lợi sẽ cho năng suất cao và lá dồi dào.
Cây Chaya dễ nhân giống và có khả năng kháng sâu bệnh rất tốt. Khi nhân giống, thường dùng phương pháp giâm cành vì cây bén rễ chậm. Ở giai đoạn đầu, tốc độ sinh trưởng thấp, nhưng ngay sau khi bắt đầu thu hoạch lá, cây sẽ phát triển nhanh chóng.
2. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Phân tích hóa thực vật các dịch chiết lá bằng n-hexane, dichloromethane và ethyl acetate của Cnidoscolus aconitifolius được thực hiện bằng các phương pháp UV-Vis, FTIR và GC-MS. Mẫu vật sử dụng được thu thập từ khu vực Eleme, thành phố Port-Harcourt, bang Rivers, Nigeria.
- Các thành phần hóa thực vật được xác định trong dịch chiết n-hexane của C. aconitifolius bằng phương pháp GC-MS là 6,10,14-trimethyl-2-pentadecanone (1), n-hexadecanoic acid (2), 3,7,11,15-tetramethyl-[R-[R*,R*,R*(E)]]-2-hexadecen-1-ol (3), 9-octadecenoic acid (z) (4), n-octadecanoic acid (5), 1,2,3-propanetriyl ester (E,E,E)-9-octadecenoic acid (6), 1-(hydroxymethyl)-1,2-ethanediyl ester-hexadecanoic acid (7).
- Các thành phần hóa thực vật được xác định trong dịch chiết dichloromethane của C. aconitifolius bằng phương pháp GC-MS là 9–eicosyne (1), 6,10,14-trimethyl-2-pentadecanone (2), 3,3,6-trimethyl-4,5-heptadiene-2-ol (3), 2-(2-hydropropyl)-1,4-benzenediol (4), methyl-14-methylpentadecanoate (5), n-hexadecanoic acid (6), 9,12-octadecanoic acid (z, z)-methyl ester (7), 9-octadecenoic acid (z)-methyl ester (8), 3,7,11,15-tetramethyl-[R,-[R*,R*-(E)]]-2-hexadecen-1-ol (9), 9-octadecenoic acid (z) (10), n-octadecanoic acid (11), n-octacosane (12), 2,3-dihydroxypropyl ester-9-octadecenoic acid (z) (13), 1,2,3-propanetriyl ester (E,E,E)-9-octadecenoic acid (14).
- Các thành phần hóa thực vật được xác định trong dịch chiết ethyl acetate của C. aconitifolius bằng phương pháp GC-MS là 1,2,3-propanetriol (1), 1,2,3-propanetriol monoacetate (2), 1,2,3-propanetriol diacetate (3), 1,2,3-propanetriol triacetate (4), l-(+)-ascorbic acid-2,6-dihexadecanoate (5), 9-octadecenoic acid (z) (6), 1,2,3-propanetriyl ester (E,E,E)-9-octadecenoic acid (7).
⇒ Từ kết quả GC-MS, quan sát thấy 9-octadecenoic acid (z) xuất hiện với hàm lượng cao nhất trong tất cả các dịch chiết, cụ thể là n-hexane (56,77%), dichloromethane (43,13%) và ethyl acetate (57,22%) (Omotoso Abayomi E et al.; 2014).
Mariana Z. Pérez-González và cộng sự (2017) đã phân lập được từ lá các hợp chất là moretenol (1), moretenyl acetate (2), kaempferol-3,7-dimethyl ether (3) và 5-hydroxy-7-3′,4′-trimethoxyflavanone (4).
Từ mẫu lá tươi của Cnidoscolus aconitifolius thu thập từ một trang trại tại Trường Nữ sinh Liên bang, Sokoto, Nigeria, Otitolaiye và cộng sự đã phân lập được 42 hợp chất bằng phân tích GC-MS. Các hợp chất chính gồm borneol (1,41%), caryophyllene oxide (2,73%), 1H-cycloprop[e]azulene (2,02%), 4-(1,5-dimethylhex-4-enyl)cyclohex-2-enone (4,15%), farnesol (2,51%), spiro[4.5]dec-6-en-8-one (6,87%), longipinane (4,18%) và benzene, 1-(1,5-dimethyl-4-hexenyl)-4-methyl (13,37%) (Otitolaiye C A et al.; 2013).
Công dụng của mì chính
Địa chỉ bán cây rau mì chính tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống mì chính phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cnidoscolus aconitifolius – Wikipedia tiếng Anh.
- Anil Panghal, Anjali Onakkaramadom Shaji, Kiran Nain, Mukesh Kumar Garg, Navnidhi Chhikara (2021). “Cnidoscolus aconitifolius: Nutritional, phytochemical composition and health benefits – A review”. Bioactive Compounds in Health and Disease. 4(11): 260 – 286.
- Omotoso Abayomi E, Eseyin O Olorunfemi, Suleiman Mikailu (2014). “Phytochemical analysis of Cnidoscolus aconitifolius (Euphorbiaceae) leaf with spectrometric techniques“. Nigerian Journal of Pharmaceutical and Applied Science Research. 3(1): 38 – 49.
- Mariana Z. Pérez-González, Gabriel A. Gutiérrez-Rebolledo, Lilián Yépez-Mulia, Irma S. Rojas-Tomé, Julieta Luna-Herrera, María A. Jiménez-Arellanes (2017). “Antiprotozoal, antimycobacterial, and anti-inflammatory evaluation of Cnidoscolus chayamansa (Mc Vaugh) extract and the isolated compounds”. Biomedicine & Pharmacotherapy. Volume 89, pages 89 – 97.
- Otitolaiye C A, Asokan C (2013). “GC-MS analysis of Cnidoscolus aconitifolius leaf aqueous extracts”. International Journal of Science and Research (IJSR). ISSN (Online): 2319 – 7064. Index Copernicus Value (2013): 6.14 | Impact Factor (2015): 6.391.









