Bộ sưu tập



Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Cây mần tưới hay hương thảo, lan thảo, trạch lan (danh pháp khoa học là Eupatorium fortunei Turcz.) là loài thực vật có hoa thuộc họ Cúc Asteraceae. Loài này được Turcz. mô tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1851.
Mô tả cây mần tưới
Luận án Tiến sĩ của Phạm Thanh Nga (2019):
Cây mần tưới là cỏ lâu năm, thân cao 0,4 – 1,0 m, hình trụ nhẵn bóng, phân nhánh và có lông. Lá mọc đối, thường xẻ sâu ba thuỳ hình lưỡi mác, lá ở gần ngọn không xẻ thuỳ. Lá có mùi thơm, cỡ 8 – 13 x 2 – 4 cm, chóp nhọn, viền răng cưa nhọn đều, gần bên 6 – 7 đôi, nổi rõ; mặt trên màu nâu tía, mặt dưới có lông to thưa và ngắn. Cuống lá dài 0,8 – 1 cm. Cụm hoa đầu hợp thành dạng tán dày đặc, ở tận cùng mỗi đầu dài 7 – 8 cm, cuống ngắn có lông, trong mỗi đầu có 5 hoa. Tất cả hoa hình ống, lưỡng tính.
Thông tin thêm
1. Phân bố và thu hái
Cây phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ, được trồng ở Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Lào. Tại Việt Nam, cây phân bố nhiều ở Lào Cai (Bắc Hà), Cao Bằng (Quảng Yên), Lạng Sơn, Phú Thọ … (Phạm Thanh Nga; 2019).
2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Sự hiện diện của các dẫn xuất thymol trong lá và cành của Eupatorium fortunei thu hái ở miền Bắc Việt Nam đã được nghiên cứu. Năm dẫn xuất thymol được phân lập bao gồm 9-O-angeloxy-10-hydroxy-8-methoxythymol (1), 10-acetoxy-9-chloro-8,9-dehydrothymol (4), 9-acetoxy-8,10-epoxythymol-3-O-isobutyrate (8), 8,10-epoxy-9-hydroxythymol-3-O-tiglate (10), 9-acetoxy-8,10-epoxythymol-3-O-angelate (9). Ngoài ra còn có sáu hợp chất khác được phân lập gồm taraxasteryl acetate (2), acid o-coumaric (6), trans-melilotoside (7), (–)-loliolide (5), coumarin (11) và β-sitosterol (3). Cấu trúc của các hợp chất này được xác định dựa trên dữ liệu phổ khối (MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) (Phan Minh Giang et al.; 2019).
Năm 2006, Hai-Xia Jiang cùng cộng sự đã chiết tách được các hợp chất terpenoid từ Eupatorium fortunei gồm rel-(1R,2S,3R,4R,6S)-p-menthane-1,2,3,6-tetrol (1), rel-(1R,2R,3R,4S,6S)-p-menthane-1,2,3,6-tetrol (2), 9-hydroxythymol 3-O-angelate (3) và (3β,20R)-20-hydroxylanost-25-en-3-yl palmitate (4) (Hai-Xia Jiang et al.; 2006).
Một cặp epimer của benzofuranol và một benzofuran glucoside đã được phân lập từ Eupatorium fortunei. Cấu trúc và cấu hình lập thể tương đối của chúng đã được xác định dựa trên phân tích phổ và biến đổi hóa học, cụ thể là 3β,6-dimethyl-2,3-dihydrobenzofuran-2α-ol (1), 3β,6-dimethyl-2,3-dihydrobenzofuran-2β-ol (2), 3β,6-dimethyl-2,3-dihydrobenzofuran-2β-O-β-D-glucopyranoside (3) (Hai Xia Jiang et al.; 2008).
Yuli Wang và cộng sự (2014) đã phân lập và xác định được hai dẫn xuất thymol mới (1 và 2) cùng với năm dẫn xuất thymol đã biết (3 – 7) từ cây Eupatorium fortunei gồm 9-angeloyloxythymol (1), 8-hydroxyl-9-angeloyloxythymol (2), 9-acetoxythymol (3), 5α-hydroxy-2-oxo-p-menth-6(1)-ene (4), eupatobenzofuran (5), 9-O-angeloyl-8,10-dehydrothymol (6) và 9-hydroxythymol (7) (Yuli Wang et al.; 2014).
Từ dịch chiết n-hexan cây mần tưới, hai hợp chất đã được phân lập và xác định cấu trúc là acid o-coumaric (1) và patriscabratin (2). Hợp chất acid o-coumaric (1) thể hiện tác dụng ức chế hoạt tính tyrosinase với giá trị IC50 là 2,8 mM (Nguyễn Tường Vy cùng cộng sự; 2012).
Pei-Yu Liu cùng cộng sự (2015) đã tổng hợp báo cáo của các tác giả trước đó, xác định thành phần các hợp chất phân lập được từ Eupatorium fortunei gồm các monoterpene là 8,9-dehydrothymol-3-yl tiglate (80), 9-(acetyloxy)-8,10-dehydrothymol-3-yl tiglate (81), 9-(acetyloxy)thymol-3-yl tiglate (82), 8,10-epoxy-9-hydroxythymol-3-yl tiglate (83), 9-(acetyloxy)-8,10-epoxy-6-hydroxythymol-3-yl angelate (84), 7-(acetyloxy)-8-hydroxy-9-[(2-methylpropanoyl)oxy]thymol (85), 9-hydroxy-8-methoxythymol (86), 9-hydroxy-8-methoxythymol-3-yl(2-methylpropanoate) (87), 9-hydroxy-8-methoxythymol-3-yl tiglate (88), 9-hydroxy-8-methoxythymol-3-yl(3-methylbut-2-enoate) (89), 9-(angeloyloxy)-8-methoxythymol (90), 8-methoxy-9-[(2-methylpropanoyl)oxy]thymol (91), 8-methoxy-9-[(2-methybutanoyl)oxy]thymol (92), 10-(acetyloxy)-9-(angeloyloxy)-8-hydroxythymol (93), 9-(acetyloxy)-8,10-dihydroxythymol-3-yl tiglate (94), 1-hydroxy-1-(2-hydroxy-4-methylphenyl)propan-2-one (95), rel-(1R,2S,3R,4R,6S)-1,2,3,6-tetrahydroxy-p-menthane (96), rel-(1S,2S,3S,4R,6R)-1,2,3,6-tetrahydroxy-p-menthane (97). Các pyrrolizidine alkaloid gồm supinine (277), rinderine (278), 7-O-acetylrinderine (279). Các phenylpropanoid gồm (2S,3S)-2,3-dihydro-3,6-dimethyl-1-benzofuran-2-ol (312), (2R,3S)-2,3-dihydro-3,6-dimethyl-1-benzofuran-2-ol (313), (2R,3S)-2,3-dihydro-3,6-dimethyl-1-benzofuran-2-yl acetate (314), (2S,3S)-2,3-dihydro-3,6-dimethyl-1-benzofuran-2-yl acetate (315), 2,3-dihydro-3,6-dimethyl-1-benzofuran-2-yl β-D-glucopyranoside (316) (Pei-Yu Liu et al.; 2015).
Cây mần tưới có công dụng gì ?
Theo Đông y, mần tưới có vị cay tính bình, có tác dụng hoạt huyết, phá ứ huyết, lợi thủy, tiêu thũng, sát trùng. Thường dùng trị kinh nguyệt bế, kinh nguyệt không đều, đàn bà đẻ đau bụng do ứ huyết, phù thũng, choáng váng hoa mắt, chấn thương mụn nhọt, lở ngứa ngoài da. Ngày dùng 6 – 12 (10 – 20 gram) dạng thuốc sắc.
Ngoài ra nhân dân ta thường dùng lá mần tưới non ăn sống, ăn gỏi như các loại rau thơm. Cũng dùng lá nấu canh ăn cho mát, giải nhiệt, giải cảm. Lá cũng dùng hãm uống lợi tiêu hoá, kích thích ăn ngon miệng và làm rau thơm.
Đặc biệt người ta cũng dùng mần tưới để xua đuổi bọ gà, mạt gà, rệp, mọt, bọ chó, chấy, rận. Thông thường là đặt cành lá mần tưới vào hũ đựng đậu xanh, đậu đen, cau khô để trừ mọt và sâu; hay hái cành lá mần tưới cho vào ổ gà, ổ chó sau khi đã làm vệ sinh sẽ trừ được bọ gà, bọ chó có trong ổ, cứ vài ngày lại làm vệ sinh và thay lá một lần. Giường có rệp sau khi giũ và diệt rệp, rải cành lá cây này dưới chiếu vài lần sẽ diệt hết rệp.
Hơn nữa người ra còn dùng lá mần tưới giã nhỏ cho vào túi vải xát trực tiếp vào tay hay chân để xoa muỗi và dĩn (con bọ mát) có hiệu quả tốt trong vòng hai ba giờ. Phụ nữ nông thôn cũng thường dùng Mần tưới nấu nước gội đầu cho sạch tóc.
Một số bài thuốc có chứa mần tưới:
Chữa rong huyết: Mần tưới 20g, ké hoa vàng, chỉ thiên, mã đề mỗi loại dùng từ 15 – 20 gram, thái nhỏ sao vàng sắc với 3 bát nước còn 1 bát, chia uống 2 lần/ngày. Dùng liền trong 5 ngày.
Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh: Mần tưới, củ gấu, ích mẫu, ngải cứu, nhọ nồi, mỗi vị lấy 20g, tán nhỏ, ray thành bột mịn, trộn với bột gạo và đường kính (nấu thành sirô), làm thành viên bằng hạt lạc. Ngày uống 1 lần trước khi đi ngủ, mỗi lần dùng từ 15 – 20 viên. Dùng trong 10 – 15 ngày liền.
Đắp chỗ sưng tấy, mụn nhọt chưa có mủ, chấn thương bầm dập: Mần tưới lá tươi khoảng 1 nắm (40g) giã nát với muối đắp chỗ đau ngày 1 – 2 lần.
Giải cảm do nắng nóng: Lá non mần tưới 100g, nấu canh ăn trong ngày. Lưu ý nên ăn khi canh còn nóng. Dùng trong 3 ngày.
Giải nhiệt, tiêu hóa tốt: Mần tưới 20g (chú ý nên hái trước khi cây có hoa, thái nhỏ rồi sấy khô) hãm với nước đun sôi hoặc sắc với 300 ml nước còn 100 ml, uống hằng ngày.
Phụ nữ sau sinh bị kém ăn, mệt mỏi, mất ngủ: Mần tưới 20g, mạch môn 20g, ngải cứu 10g, nhân trần 6g, rẻ quạt 4g, vỏ quả bưởi đào khô 4g, sắc uống ngày 1 thang. Dùng trong 10 ngày liền là khỏi.
Giảm sưng đau do mụn nhọt (mụn nhọt chưa mưng mủ): Lá mần tưới tươi 50g, rửa sạch, giã nát đắp nơi có mụn nhọt. Ngày đắp 2 lần vào buổi sáng và tối, mỗi lần từ 10 – 15 phút. Bài thuốc này có tác dụng giúp giảm sưng, đau do mụn nhọt nhanh chóng.
Giúp sạch gàu: Mần tưới tươi 25g, bồ kết (3 cho đến 5 quả) đốt cháy, lá bưởi 20g đun lấy nước gội đầu. Mỗi tuần nên gội 2 lần.
Địa chỉ bán cây mần tưới uy tín tại Hà Nội ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Nhà vườn Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống mần tưới trị bọ chét + cây mần tưới khô phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Mần tưới (Eupatorium fortunei ) – Wikipedia tiếng Việt.
- Luận án Tiến sĩ của Phạm Thanh Nga (2019). “Nghiên cứu tác dụng ức chế của cao chiết cây mần tưới (Eupatorium fortunei Turcz.) lên sinh trưởng của vi khuẩn lam độc Microcystis aeruginosa Kutzing trong các thủy vực nước ngọt”. Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Mã số luận án: 9.52.03.20.
- Phan Minh Giang, Vu Minh Trang, Do Thi Viet Huong, Susumu Kawakami, Hideaki Otsuka (2019). “Thymol derivatives from Eupatorium fortunei“. Records of Natural Products – ACG Publications. 13(5): 434 – 439.
- Hai-Xia Jiang, Ya Li, Jing Pan, Kun Gao (2006). “Terpenoids from Eupatorium fortunei Turcz”. Helvetica Chimica Acta. 89(3): 558 – 566.
- Hai Xia Jiang, Quan Liu, Kun Gao (2008). “Benzofuran derivatives from Eupatorium fortunei“. Natural Product Research. 22(11): 937 – 41.
- Yuli Wang, Jinming Li, Hao Wang, Da-Qing Jin, Hongqiang Chen, Jing Xu, Yasushi Ohizumi, Yuanqiang GuoThymol (2014). “Thymol derivatives from Eupatorium fortunei and their inhibitory activities on LPS-induced NO production. Phytochemistry Letters. 7: 190 – 193.
- Nguyễn Tường Vy, Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Tiến Đạt (2012). “Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính ức chế enzym tyrosinase của cây mần tưới (Eupatorium fortunei Turcz.)“. Tạp chí Dược học (nay là Tạp chí Y Dược học). Tập 52, số 12 (số cũ).
- Pei-Yu Liua, Dan Liua, Wei-Huan Lib, Ting Zhaoa, Sauriolc, Yu-Cheng Gua, Qing-WenShi, Man-Li Zhang (2015). “Chemical constituents of plants from the genus Eupatorium (1904 – 2014)”. Chemistry & Biodiversity. 12(10): 1481 – 1515.
Tìm kiếm liên quan
- Cây Mần tưới Mua ở đầu
- Hình ảnh cây mần tưới
- Mua cây mần tưới ở đầu
- Tác dụng của cây mần tưới
- Cây mần tưới khô
- Cây mần tưới đuổi bọ chó
- Cây mần tưới là cây gì
- Cây mần ri
Sản phẩm liên quan: Cây chè xanh










