Độ hoàn thiện nội dung: 80%.
Xạ đen hay dây gối, bách giải, bạch vạn hoa, dây gối, đồng triều, thanh giang đằng, cây ung thư (dân tộc Mường, Việt Nam) (danh pháp khoa học là Celastrus hindsii Benth., đồng nghĩa: Celastrus approximatus Craib; Celastrus axillaris Ridl.) là loài thực vật có hoa thuộc họ Dây gối Celastraceae.



Mô tả cây xạ đen
Bài nghiên cứu của Đỗ Văn Hiệu cùng cộng sự (2024) đăng trên Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam (đã sửa chính tả):
Thân, lá, hoa, quả của loài Dây gối … đã được thu hái vào ngày 26 tháng 3 năm 2023 tại Công ty cổ phần Biopharm Hòa Bình, Phường Tân Thịnh, Thành phố Hòa Bình. Mẫu Dây gối … được Trần Thế Bách (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) định danh tên khoa học là Celastrus hindsii Benth. thuộc họ Dây gối (Celastraceae) … mẫu được lưu với số hiệu tiêu bản “Công 28032023-1”.
…
Dây gối là cây leo thân quấn; thân, cành có tiết diện gần tròn; chồi hình trứng hoặc tam giác, 1 – 1,5 mm. Cuống lá 5 – 7mm; phiến lá hình bầu dục hẹp đến hình elip thuôn dài, 7 – 14 × 3 – 6cm, mép lá có răng cưa thấp, thưa thớt, đỉnh lá nhọn; gân chính nổi rõ ở mặt trên của lá, gân thứ cấp 5 – 7 đôi; Bề mặt lá trơn nhẵn. Chùm hoa ở ngọn cành hoặc nách lá, dài 5 – 10cm, cuống hoa 2 – 4mm, có khớp ở giữa phía trên. Hoa mẫu 5; đế hoa hình chén, các lá đài gần như hình bán nguyệt, dính liền với nhau ở gốc; cánh hoa trắng bầu dục, kích thước 2,5mm, có nhiều lông bao phủ. Bộ nhị 5 nhị, hàn liền với nhau ở gốc, 2 – 2,5mm, bao phấn đính lưng, hình thận. Bộ nhụy hoa ba lá noãn hàn liền; bầu nhụy chia 3 ô. Quả gần như hình trứng, 7 – 9 × 6 – 9mm. Hạt có hình bầu dục, 5 – 8mm; hạt có áo màu cam.
Tham khảo thêm: Hoàn ngọc đỏ
Thông tin thêm
1. Cây xạ đen thường mọc ở đâu ?
Cây mọc ở vùng thấp với độ cao 1000 – 1500m. Phân bố nhiều ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Myanmar. Ở Việt Nam, cây phân bố chủ yếu ở Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ninh, vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Ba Vì, Thừa Thiên Huế, Tây Nguyên …
3. Thành phần hóa học và tác dụng sinh học (sưu tầm)
Luận án Tiến sĩ Hóa học của Nguyễn Huy Cường (2009):
Từ lá và cành cây Xạ đen (Celastrus hindsii) thu hái tại Quảng Bình đã phân lập và xác định cấu trúc của 11 chất có khung cacbon khác nhau:
– Bốn chất có khung friedelan là: 3α-friedelanol (86), 3-friedelanon (87), D:A-friedo-oleanon-3,21-dion (88), canophyllol (89).
– Năm chất có khung lupan là: Lup-20(29)-en-3β-ol (90), lup-12-en-3β-ol (91), lup-20(29)-en-3-on (lupenon, 92), lup-12-en-3-on (93) và lup-20(29)-en-3β,11β-diol (94).
– Hai hợp chất khác là: Clionasterol (95) và axit glucosyringic (96).
…
Đã bước đầu thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định và hoạt tính gây độc tế bào của các chất phân lập được. Kết quả cho thấy chất: lup-20(29)-en-3β,11β-diol (94) có hoạt tính tốt đối với chủng Staphylococcus aureus (IC50 = 3,2ug/ml).
Theo Bùi Thị Thanh Duyên cùng cộng sự (2020) khi nghiên cứu tác dụng ức chế tế bào ung thư và chống oxy hóa của lá xạ đen (Celastrus hindsii Benth et Hook.):
Cây xạ đen được biết đến trong dân gian là một dược liệu có tác dụng trong điều trị ung thư. Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá tác dụng ức chế một số dòng tế bào ung thư và tác dụng chống oxy hóa của lá xạ đen (Celastrus hindsii Benth et Hook.). Mẫu lá xạ đen được chiết bằng ethanol 90% và tiến hành chiết phân đoạn lần lượt với n-hexane (Hex), ethyl acetate (EtOAc) và n-butanol (n-BuOH). Tác dụng ức chế tế bào ung thư được thực hiện bằng phương pháp MTT (3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium) trên 3 dòng tế bào: ung thư gan Hep G2 (HB – 8065TM), ung thư phổi LU-1 (HTB – 57TM), ung thư vú MCF-7 (HTB – 22TM). Tác dụng chống oxy hóa được tiến hành thông qua phương pháp quét gốc tự do DPPH (2,2-diphenyl-1-picryhydrazyl). Kết quả ức chế tế bào ung thư cho thấy phân đoạn EtOAc có tác dụng gây độc tế bào ung thư gan, phổi mạnh nhất so với các phân đoạn khác với IC50 lần lượt là 33,7 ± 1,5 µg/mL và 13,0 ± 0,5 µg/mL. Phân đoạn BuOH cho tác dụng yếu hơn với tế bào ung thư phổi với IC50 là 64,0 ± 2,2 µg/mL. Kết quả chống oxy hóa chỉ ra rằng phân đoạn EtOAc có tác dụng chống oxy hóa tốt nhất với IC50 là 46,9 ± 2,5 µg/mL. Cao EtOH toàn phần cũng thể hiện tác dụng chống oxy hóa mạnh với IC50 là 48,5 ± 2,3 µg/mL. Kết quả nghiên cứu này cho thấy cao chiết lá xạ đen có tác dụng ức chế tế bào ung thư và chống oxy hóa cao.
Từ thân cây của loài Celastrus hindsii Benth, Hui-Chi Huang cùng đồng sự đã chiết tách được chất 1β,2β,6α,15β-tetracetoxy-8β,9α-dibenzoyloxy-β-dihydroagarofuran (hay còn được gọi là celahin D) (1) có công thức tương tự như 2 hợp chất đã biết là 1,1β-acetoxy-8β,9α-dibenzoyloxy-4α,6α-dihydroxy-2β-(α-methylbutanoyloxy)-β-dihydroagarofuran (2) và 1β-acetoxy-8β,9α-dibenzoyloxy-6α-hydroxy-2β(α-methylbutanoyloxy)-β-dihydroagarofuran (3), một cytotoxic sesquiterpene pyridine alkaloid là emarginatine E (4), 3 triterpene được xác định gồm loranthol (5), lupenone (6) và epifriedelinol (7). Công thức cấu tạo của chúng đã được chứng minh bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân 2D (Hui-Chi Huang et al; 2000).
Bốn hợp chất triterpene mới là celasdin A, celasdin B, celasdin C và cytotoxic maytenfolone A được phân lập từ Celastrus hindsii. Đánh giá sinh học cho thấy maytenfolone A thể hiện độc tính tế bào đối với u gan (HEPA-2B, ED50 = 2,3 μg/ml−1) và ung thư biểu mô vòm họng (KB, ED50 = 3,8 μg/ml−1). Celasdin B được phát hiện có hoạt tính chống lại sự nhân lên của HIV trong tế bào lympho H9 với EC50 là 0,8 μg/ml−1 (Yao-Haur Kuo, Li-Ming Yang Kuo; 1997).
Một macrocyclic lactone mới có tên là hindsiilactone A (1); một 5,8-quinoflavan mới có tên là hindsiiquinoflavan B (5) cùng ba hợp chất đã biết là combretastatin D-2 (2), combretastatin D-3 (3) và isocorniculatolide A (4) được phân lập từ chiết xuất ethanol 80% từ thân cây Celastrus hindsii (Xian-Qing Hu et al.; 2014).
Cây xạ đen có công dụng gì ?
Xạ đen có tác dụng chữa bệnh như thông kinh, lợi tiểu, chữa ung nhọt và lở loét, phòng ngừa ung thư, tiêu viêm, mát gan mật, giúp cơ thể loại trừ độc tố.
Theo Đông y, cây xạ đen có vị đắng chát, tính hàn, có tác dụng hữu hiệu trong điều trị mụn nhọt, ung thư, tiêu viêm, giải độc, những người mắc huyết áp cao, giảm tiết dịch, tăng cường sức đề kháng của cơ thể.
Hướng dẫn cách dùng cây xạ đen hiệu quả
Cây xạ đen là một loại thảo dược không có độc tính nên hoàn toàn có thể sử dụng như nước trà hàng ngày. Bạn có thể dùng theo cách thuốc sắc hoặc trà hãm. Sử dụng khoảng 50 gram xạ đen khô với 1,5 lít nước.
Ngoài ra cũng có thể sử dụng theo kiểu cô đặc, dùng 20 – 40 gram cho 1,5 lít nước, đun sôi nhỏ lửa cho tới khi còn 500 ml nước, tạo thành dạng siro dùng 2 lần một ngày.
Thảo dược này dùng tốt nhất là vào buổi sáng, sau khi ăn 30 phút.
Cách pha trà:
- Bước 1: Dùng một nhúm xạ đen (10g) khô cho 150 ml nước.
- Bước 2: Tráng trà, dùng nước sôi đổ 1 chút vào đảm bảo nước tưới qua 1 lượt trà lắc đều ấm rồi đổ nước này đi.
- Bước 3: Cho nước sôi ấm pha trà theo tỉ lệ pha, đợi 5 – 7 phút cho nước ngấm vào trà. Thưởng thức khi trà còn ấm mùi vị sẽ thơm ngon hơn.
Cách nấu trà:
- Nếu như bạn không có thói quen nhâm nhi ly trà vào mỗi sáng thì cũng có thể sử dụng xạ đen để nấu nước uống thay nước hàng ngày.
- Mỗi ngày lấy khoảng 50g phơi khô đem nấu với 1,5 lít nước uống.
Địa chỉ bán cây giống xạ đen châu Âu uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống xạ đen phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Xạ đen – Wikipdia tiếng Việt.
- Đỗ Văn Hiệu cùng cộng sự (2024). “Đặc điểm thực vật, thành phần hóa học của cây dây gối (Celastrus hindsii benth.) thu hái tại tỉnh Hòa Bình và so sánh với cây xạ đen (Ehretia asperula Zoll. & Moritzi)”. Tạp chí Y Dược cổ truyền Việt Nam. 4(57): 22 – 28.
- Nguyễn Huy Cường (2009). “Nghiên cứu thành phần hóa học và thăm dò hoạt tính sinh học cây xạ đen (Celastrus hindsii Benth. & Hook.) và cây cùm rụm răng (Ehretia dentata Courch.)”. Luận án Tiến sĩ Hóa học. Chuyên ngành: Hóa hữu cơ. Mã số luận án: 62.44.27.01.
- Hui-Chi Huang et al. (2000). “A novel agarofuran sesquiterpene, Celahin D from Celastrus hindsii Benth.”. Chemical and Pharmaceutical Bulletin. 48(7):1079 – 1080.
- Yao-Haur Kuo, Li-Ming Yang Kuo (1997). “Antitumour and anti-AIDS triterpenes from Celastrus hindsii“. Phytochemistry. 44(7):1275 – 1281.
- Xian-Qing Hu et al. (2014). “A new macrocyclic lactone and a new quinoflavan from Celastrus hindsii“. Phytochemistry Letters. 7:169 – 172.








