Ảnh tham khảo

Angelica dahurica. Tác giả: Alicia-C. Ngày tạo: Ngày 25, tháng 5, năm 2013. Nguồn: Wikipedia Common.

Angelica dahurica. Tác giả: Oleg Kosterin. Ngày tạo: Ngày 3, tháng 8, năm 2020. Nguồn: Wikipedia Common.

Phần rễ được thái thành từng khúc của Angelica dahurica. Tác giả: 三猎. Ngày tạo: Ngày 23, tháng 6, năm 2016. Nguồn: Wikipedia Common.
Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Bạch chỉ, tên tiếng Anh là Dahurian angelica (danh pháp khoa học là Angelica dahurica (Hoffm.) Benth. & Hook.f. ex Franch. & Sav.) là một loài thực vật thuộc họ Hoa tán Apiaceae phân bố nhiều ở Đông Siberi, đông bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản.
Mô tả cây bạch chỉ
Cây bạch chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thân thảo, sống lâu năm, cao 1 – 1,5m. Thân rỗng, đường kính có thể đến 2 – 3cm, mặt ngoài màu tím hồng, phía dưới nhẵn, phía trên gần cụm hoa có lông ngắn. Rễ phình thành củ dài, mọc thẳng, đôi khi phân nhánh. Lá to, có cuống dài phát triển thành bẹ rộng, ôm lấy thân, phiền lá xẻ 2 – 3 lần hình lông chim, thùy hình trứng dài 2 – 6cm, rộng 1 – 3cm, mép có răng cưa, hai mặt lá không có lông trừ đường gân ở mặt trên lá có lông tơ.
Cụm hoa là một tán kép mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá, có cuống chung dài 4 – 8cm, cuống tán dài 1cm; hoa màu trắng có 5 cánh cong lên ở đầu, nhị 5, dài hơn cánh hoa. Quả bế đôi dẹt, hình bầu dục hoặc hơi tròn, dài khoảng 6mm, có 4 cánh mỏng. Rễ, thân, lá có tinh dầu thơm. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.
Cây dùng thay thế:
Ở nước ta, không có cây bạch chỉ mọc hoang. Các thầy thuốc y học cổ truyền và nhân dân ở nhiều nơi đã dùng rễ cây mát rừng (Millettia pulchra (Voigt) Kurz, họ Đậu Fabaceae) còn gọi là đậu dự, đậu chỉ, cây nểnh để thay thế với tên bạch chỉ nam.

Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Bạch chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Bạch chỉ đã được di thực vào nước ta có kết quả, cây mọc tốt, cả ở đồng bằng và những vùng núi cao mát. Nhưng giống thì chỉ mới để được ở miền núi cao, lạnh.
Tại Tam Đảo trồng vào tháng 1 – 2, tháng 4 – 5 năm sau ra hoa, nhưng có những cây trồng vào tháng 7 – 8 năm trước thì tháng 4 – 5 năm sau cùng ra hoa một lúc với cây trong tháng 1 – 2.
Vào mùa thu, khi lá úa vàng, đào lấy rễ, cắt bỏ thân và rễ con, rửa sạch đất, sau đó có nơi cho vào vại có vôi, đậy kín một tuần rồi mới lấy ra phơi khô, có nơi đem phơi ngay, nếu trời mưa thì sấy trong lò, sau đó cạo bỏ vỏ mỏng ngoài.
Cây bạch chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Angelica L. có khoảng 110 loài trên thể giới, phân bố chủ yếu ở vùng bắc ôn đới ẩm. Ở Việt Nam, hiện có 4 hoặc 5 loài, phần lớn là cây nhập nội, trong đó có bạch chỉ. Ở Trung Quốc, cây thuốc có tên bạch chỉ gồm nhiều loài: Hương bạch chỉ (A. dahurica (Hoffm.) Benth. & Hook.f. ex Franch. & Sav.); xuyên bạch chỉ (A. anomala Avé-Lall.); hàng bạch chỉ (A. formosana H.Boissieu) và sơn bạch chỉ (A. yabeana Makino). Tất cả đều là cây trồng, nhưng loài hương bạch chỉ được trồng phổ biến hơn. Cây sinh trưởng tốt ở vùng có khí hậu ôn đới ấm, nhiệt độ trung bình hàng năm là 13,5 – 17,7oC, mùa đông lạnh kéo dài và có băng tuyết.
Bạch chỉ được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam sau năm 1960. Lúc đầu, trồng thử ở SaPa, sau chuyển dần xuống Tam Đảo và ngoại thành Hà Nội (các trại cây thuốc của Viện Dược liệu) đều thấy cây sinh trưởng phát triển tốt. Đến giữa những năm 1970, bạch chỉ đã được trồng phổ biến ở nhiều tỉnh miền núi, trung du cũng như đồng bằng ở miền Bắc. Năm 1978, 1979 cây còn được trồng thử ở Đà Lạt, Ngọc Linh (Kon Tum) có kết quả.
Bạch chỉ là cây ưa sáng và ưa ẩm. Vốn là một cây có nguồn gốc ở vùng ôn đới, nên khi trồng ở Việt Nam đều phải bố trí thời vụ gieo trồng sao cho thời kỳ sinh trưởng mạnh của cây đúng vào lúc nhiệt độ chưa cao (đông – xuân). Bạch chỉ thường ra hoa vào mùa hè ngay trong năm đầu tiên. Cây trồng ở SaPa có mùa hoa quả muộn hơn so với cây trồng ở vùng xung quanh Hà Nội. Cá biệt có cây đến năm thứ hai mới có hoa. Sau thời kỳ hoa quả, cây vàng úa và tự tàn lụi.
Qua thực tế trồng ở Việt Nam cho thấy bạch chỉ là cây có khả năng thích nghi với biên độ sinh thái tương đối rộng và có thể triển khai trồng lớn ở nhiều nơi.
2. Thành phần hoá học
Bạch chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong bạch chỉ có các hoạt chất sau đây: Oxypeucedanin, imperatorin, isoimperatorin, phellopterin, byakangelicin, isobyakangelicol hay anhydrobyakangelicin có độ chảy 108 – 109oC, angelicol, xanthotoxin (methoxsalen), neobyakangelicol, marmesin có độ chảy 189,5oC, năng suất quay cực (αD) + 26o8 (trong chloroform), nodakenetin tả tuyển (αD) – 22o4, scopoletin.
Ngoài ra người ta còn chiết được chất allo-imperatorin có độ chảy 228 – 230oC (thăng hoa) và bergapten (5-methoxypsoralen) có độ chảy 215 – 217oC, những chất đó vốn không có trong bạch chỉ nhưng có thể xuất hiện trong quá trình chiết xuất từ những chất isoimperatorin hoặc chất neobyakangelicol mà sinh ra.
Trong xuyên bạch chỉ (Angelica anomala Avé-Lall.) ngoài chất bergapten, umbelliferone còn có anomalin (độ chảy 105 – 106oC).
Một tác giả khác đã lấy từ xuyên bạch chỉ được chừng 0,43% một chất gọi là angelicotoxin, một chất nhựa màu vàng, vị đắng có tính chất kích thích; ngoài ra còn có 0,2% chất byakangelicin C17H18O7 0,2%, chất byakangelicol C17H16O6, axit angelic C5H8O2 và tinh dầu.
Cây bạch chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Angelica dahurica:
Rễ chứa tinh dầu, coumaria. Các coumarin gồm byakangelicin 2%; byakangelical 0,20%; oxypeucedanin; imperatorin; isoimperatorin; phellopterin 0,015%; angelicotoxin; xanthotoxin; nodakenetin; anhydrobyakangelicin; isobyikangelicol; neobyakangelicol; allo-isoimperatorin; 5-methyl-8-hydroxypsoralen; 7-demethylsuberosin; 5-(2-hydroxy-3-methoxy-3-methyl-butoxy)psoralen; tert-O-methylbyakangelicin; sec-O- acetylbyakangelicin; 8-hydroxy-7-isopent-2-en-coumarin;cedrelopsin; sen-byakangelicol; scopoletin; oxypeucedanin hydrate.
Quả chứa imperatorin 0,10%, phellopterin 0,05%.
Theo Kim Hyun Soo và cộng sự (1990) tinh dầu hương bạch chỉ chứa α-pinen 4,74%; camphene; β-pinene; myrcene; α-phellandrene; Δ3-caren 39,4%; α-terpinene; terpinolene; 4-vinylguaiacol; isoelemicin; β- elemene; caryophyllene; ligustilide, osthol và 7 hợp chất sesquiterpene.
Angelica dahurica var. formosana (H.Boissieu) Yen:
Rễ chúa isoimperatorin; imperatorin; bergapten; phellopterin; oxypeucedanin; oxypeucedanin hydrate. Ngoài ra, còn 2 chất kết tinh màu trắng (Trung hoa dược học II, 1976; Trung dược chí, 1993; Trung dược Từ Hải I, 1993).
3. Tác dụng dược lý
Bạch chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Với liều nhỏ, angelicotoxin có tác dụng hưng phấn đối với trung khu vận động huyết quản, trung khu hô hấp và dây thần kinh phế vị (nerf vague), làm cho huyết áp tăng cao, nhịp mạch chậm lại, hơi thở kéo dài, chảy dãi và nôn mửa.
Với liều lớn, có thể dẫn tới co giật và toàn thân tê liệt. Độc tính của angelicotoxin có thể sánh giống như chất ciguatoxin, nhưng không mạnh bằng. Hoạt chất khác trong bạch chỉ chưa rõ.
Năm 1950, Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tân nghiên cứu tác dụng kháng sinh của bạch chỉ đối với một số vi trùng thì thấy bạch chỉ có khả năng ức chế sự sinh trưởng của trực khuẩn Escherichia coli, trùng lỵ Shigella sonnei, trùng trực khuẩn mủ xanh và vì trùng thổ tả.
Cây bạch chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tác dụng kháng khuẩn: Bằng phương pháp khuếch tán thuốc trên môi trường nuôi cấy vi khuẩn, nước sắc và cao chiết từ bạch chỉ có tác dụng ức chế sự phát triển của phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn tán huyết, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn subtilis, trực khuẩn lỵ Shigella shiga, S. sonnei, S. flexneri, tràng cầu khuẩn, phẩy khuẩn tả và trực khuẩn thương hàn. Ngoài ra, bạch chỉ còn có tác dụng kháng virus.
Tác dụng hạ sốt, giảm đau: Trên thỏ gây sốt thực nghiệm bằng cách tiêm pepton, nước sắc bạch chỉ có tác dụng hạ sốt rõ rệt. Trên mô hình gây quặn đau bằng cách tiêm xoang bụng dung dịch acid acetic 0,6%, bạch chỉ dùng với liều 10g/kg có tác dụng giảm đau, thể hiện giảm số lần quặn đau một cách có ý nghĩa.
Tác dụng chống viêm: Với mô hình gây phù chân chuột cống trắng bằng kaolin, bạch chỉ với liều dùng 10g/kg có tác dụng chống viêm. Coumarin toàn phần chiết từ bạch chỉ có tác dụng chống viêm khớp thực nghiệm do albumin hoac formaldehyde gây nên.
Tác dụng giải co thắt cơ trơn, bình suyễn: Coumarin toàn phần đối kháng với tác dụng kích thích ruột non thỏ cô lập của acetylcholin, đối với co bóp của tử cung thỏ tại chỗ coumarin toàn phần có tác dụng ức chế, đồng thời đối kháng với tác dụng kích thích tử cung của chế phẩm thùy sau tuyến yên. Coumarin toàn phần có tác dụng bình suyễn trên mô hình gây co thắt khí phế quản chuột lang bằng histamin.
Tác dụng kích thích trung khu thần kinh: Chất angelicotoxin chiết từ bạch chỉ dùng liều bé có tác dụng kích thích các trung khu vận mạch, hô hấp, thần kinh phế vị, tủy sống gây huyết áp tăng cao, nhịp tim chậm, hô hấp sâu thậm chí có thể gây nôn mửa, chảy nước miếng. Dùng liều cao gây co giật và cuối cùng là liệt toàn thân.
Tác dụng đối với hệ tim mạch: Coumarin toàn phần dùng bằng đường uống làm chậm nhịp tim thỏ, còn điện tim đồ không thay đổi. Hoạt chất isoimperatorin làm hạ huyết áp mèo, ức chế sức co bóp của tim ếch cô lập; còn chất byakangelicin lại làm giãn mạch vành.
Các tác dụng khác: Bạch chỉ còn có khả năng làm giảm chảy máu do đặt dụng cụ tránh thai. Các chất isoimperatorin và byakangelicin có tác dụng chống khối u.
Độc tính: Nước sắc bạch chỉ ở các vùng trồng khác nhau, bằng đường uống trên chuột nhắt trắng có LD50 vào khoảng từ 42 – 47g/kg. Coumarin toàn phần bằng đường uống trên chuột nhắt trắng có LD50 bàng 2110 ± 22mg/kg.
Công dụng và liều dùng cây bạch chỉ
Chỉ mới thấy dùng trong phạm vi đông y. Đông y coi bạch chỉ là những vị thuốc có vị cay, tính ôn, vào 3 kinh phế, vị và đại tràng. Có tác dụng phát biểu khứ phong, thẩm thấp, hoạt huyết bài nùng sinh cơ, giảm đau, dùng để làm thần kinh hưng phấn làm cho huyết trong toàn thân vận chuyển mau chóng, làm thuốc thư giãn, ra mồ hôi chữa nhức đầu, răng đau, các bệnh về đầu, mặt, xích bạch đới, thông kinh nguyệt. Dùng ngoài, bạch chỉ có thể dùng chữa sưng vú, tràng nhạc, ghẻ lở, đỡ đau hút mủ.
Thường bạch chỉ được dùng làm thuốc giảm đau, chữa nhức đầu, cảm mạo, hoa mắt, đau răng, còn dùng làm thuốc cầm máu, đại tiện ra máu, chảy máu cam.
Ngày dùng 5 – 10g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột chia làm nhiều lần uống, mỗi lần uống 1 – 2g.
Đơn thuốc có bạch chỉ dùng trong nhân dân:
– Trẻ con nóng sốt: Nấu nước bạch chỉ, tắm thật nhanh ở nơi kín gió.
– Chữa chứng hôi miệng: Bạch chỉ 30g, xuyên khung 30g. Hai vị tán nhỏ, dùng mặt viên bằng hạt ngô. Hàng ngày ngậm thuốc này, mỗi ngày ngậm chừng 2 – 3 viên.
Cách trồng dược liệu bạch chỉ
Cây bạch chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Bạch chỉ là cây thuốc bắc di thực, sinh trường thích hợp ở nhiệt độ 16 – 25oC, trung bình là 18 – 20oC, ưa sáng, ưa ẩm nhưng không chịu úng. Đất trống tốt nhất là đất pha cát, đất phù sa, sâu màu, nhiều mùn, thoát nước, độ pH = 6,5 – 7.
Bạch chỉ thường được trồng từ hạt bằng cách gieo thẳng hoặc gieo hạt trong vườn ươm rồi đánh cây con đi trồng nhưng củ phân nhánh nhiều, giá trị thương phẩm không cao. Hạt giống tốt nhất được sản xuất ở vùng núi phía bắc, chủ yếu là Tam Đảo. Đã có những thử nghiệm sản xuất hạt giống ở đồng bằng (vùng Thanh Trì – Hà Nội).
Theo nhận xét chung, hạt giống sản xuất ở vùng đồng bằng cho củ chắc hơn nhưng tỷ lệ ra ngồng cao hơn. Cây giống ở đồng bằng hay gặp mưa bão nên ra hoa kết hạt cũng gặp khó khăn. Cách tốt nhất là sản xuất hạt giống ở vùng núi và trồng thu dược liệu ở đồng bằng và trung du. Để sản xuất hạt giống, ở vùng núi có thể gieo hạt vào tháng 2 – 3, đến tháng 10 – 11 trọn lấy những cây chưa ra ngồng để tại ruộng qua đông, mùa xuân năm sau cây sẽ tái sinh, ra hoa vào tháng 5 – 6 và cho hạt vào tháng 7. Cần thu hạt giống kịp thời, không để chín vàng, phơi trong râm đến khô, bảo quản kín nơi khô ráo, mát mẻ đến khoảng tháng 9 đưa về đồng bằng để trồng. Thời vụ gieo hạt để lấy dược liệu ở đồng bằng tốt nhất là vào tháng 9 – 10. Ở các cao nguyên phía nam, có thể gieo vào tháng 4 – 5 (đầu mùa mưa) và thu hoạch vào cuối năm.
Đất sau khi cày, để ải, làm nhỏ, cần lên luống cao 30 – 35cm, mặt luống rộng 55 – 60cm, bón lót 15 – 21 tấn/ha phân chuồng hoai mục. Sau khi cất luống, đem rải phân đều lên mặt luống rồi vét đất hai bên lấp sâu khoảng 5 – 7cm. Sau đó, san đều mặt luống và tiến hành gieo hạt. Hạt có thể gieo vãi hoặc gieo thành rạch (cách nhau 20cm). Mỗi héc ta cần khoảng 4 – 5kg hạt giống. Trước khi gieo, cần ngâm hạt 12 giờ, thỉnh thoảng thay nước, vớt ra để ráo rồi trộn đều với cát hoặc đất bột để gieo được đều. Sau khi gieo, dùng trấu, rơm rạ hay cỏ khô phủ kín mặt luống và tưới nước giữ ẩm. Hạt sẽ nảy mầm trong vòng 12 – 15 ngày. Nếu phủ bằng rơm rạ hay cỏ khô, cần dỡ bỏ và tiếp tục chăm sóc cho đến khi cây cao 10 – 12cm thì tiến hành tỉa định cây. Mật độ cuối cùng 20 x 20cm là thích hợp. Có thể tận dụng những cây tỉa để trồng trên diện tích khác.
Ruộng bạch chỉ cần giữ đủ ẩm, sạch cỏ, nhất là thời kỳ đầu. Ở giai đoạn sau, cần chú ý thoát nước nhanh, tránh thối củ. Từ khi cây mọc đến lúc giao tán có thể tưới thúc bằng nước phân chuồng, NPK (50kg urê + 25kg supe lân + 25kg kali/ha/lần) từ 3 đến 5 lần sau mỗi lần làm cỏ.
Bạch chỉ thường bị rệp và sâu xám gây hại ở thời kỳ cây con. Rệp có thể phòng trừ bằng Sherpa, sâu xám có thể diệt bằng Basudin. Gần đây, ở vùng giống Tam Đảo, xuất hiện tuyến trùng hại củ giống, cần nghiên cứu thêm để có biện pháp xử lý hữu hiệu. Khi cây đã có củ, cần đặc biệt lưu ý thoát nước sau mưa.
Vào tháng 5 – 6, khi cây bắt đầu tàn lụi thì thu hoạch củ, rửa sạch, xông lưu huỳnh cho rễ củ mềm và có màu vàng nhạt rồi phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ 50 – 60oC. Chú ý giữ cho rễ thẳng để đảm bảo giá trị thương phẩm. Tỷ lệ tươi khô vào khoảng 4:1, năng suất trung bình 2,5 – 3 tấn củ khô/ha.
Rễ thu hoạch khi lá chuyển sang màu vàng, loại bỏ đất cát, rễ con rồi phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp.
Rễ nguyên hoặc phân nhánh, hình chùy thẳng hoặc cong queo, to nhỏ không đều, dài 5 – 25 cm, đường kính 0,5 – 3 cm, đầu trên to, dưới nhỏ dần lại. Đầu trên còn vết tích của thân cây. Mặt ngoài màu vàng nâu, còn dấu vết của rễ con đã cắt bỏ, nhiều nếp nhăn dọc.
Vậy mua cây bạch chỉ ở đâu uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây bạch chỉ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.











