Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Cà gai leo hay cà quýnh, cà quạnh, cà quánh, cà hải nam, trap khar (Campuchia), Blou xít (Lào) (danh pháp khoa học là Solanum procumbens Lour.; đồng nghĩa: Solanum hainanense Hance) là loài thực vật có hoa thuộc họ Cà Solanaceae.

Mô tả cây cà gai leo
Cây cà gai leo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cà gai leo thuộc loại cây nhỡ leo, thân dài 0,6 – 1m hoặc hơn, rất nhiều gai. Cành xòe rộng, trên phủ lông hình sao. Lá hình trứng hay thuôn, phía gốc lá hình rìu hay hơi tròn. Mép lá nguyên hay hơi lượn và khía thùy, hai mặt, nhất là mặt dưới phủ lông trắng nhạt. Phiến dài 3 – 4 cm, rộng 12 – 20 mm, có gai, cuống dài 4 – 5 mm. Hoa tím nhạt, nhị vàng, hợp thành xim gồm 2 – 5 hoa. Quả cà gai leo có hình cầu, khi chín màu vàng, bóng, nhẵn, đường kính 5 – 7 mm. Hạt màu vàng, hình thận, có mạng, dài 4 mm, rộng 2 mm.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây cà gai leo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cà gai leo mọc hoang ở khắp nơi tại các tỉnh miền Bắc, tới Huế. Ở Lào và Campuchia cũng có.
Thường người ta đào rễ quanh năm, rửa sạch thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc. Không phải chế biến gì khác.
Cây cà gai leo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cà gai leo phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng và trung du, không thấy ở miền núi. Vùng phân bố tương đối phong phú ở Việt Nam bao gồm các tỉnh ven biển từ Hải Phòng đến Bình Thuận. Cà gai leo còn thấy ở một vài nước nhiệt đới châu Á khác như Campuchia, Thái Lan, đảo Hải Nam – Trung Quốc.
Cà gai leo là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc tập trung nhiều cá thể, lẫn trong các lùm bụi thưa ở quanh làng, bãi hoang, kể cả các bụi tre gai. Cây mọc ở chỗ nhiều ánh sáng, sinh trưởng phát triển tốt, ra nhiều hoa quả. Cà gai leo có khả năng tái sinh bằng hạt hoặc từ các phần thân và gốc còn lại sau khi chặt. Ngoài ra, từ các đoạn thân và cành trồng vào mùa xuân cũng có thể mọc thành cây mới.
Nguồn cà gai leo ở Việt Nam tương đối phong phú. Các tỉnh ven biển miền trung, từ Thanh Hóa trở vào có thể khai thác mỗi năm vài chục tấn nguyên liệu để làm thuốc.
2. Thành phần hóa học
Báo cáo khoa học “Thành phần hóa học của cà gai leo (Solanum procumbens)” của Nguyễn Xuân Hải cùng cộng sự; Science and technology development journal natural sciences, vol 2, issue 6, 2018:
Từ cao ethyl acetate của thân cây Cà gai leo đã được phân lập được một hợp chất anthraquinone, bốn hợp chất polyphenol và một hợp chất indole. Bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại kết hợp với so sánh tài liệu tham khảo, các hợp chất này lần lượt được xác định là ziganein (1), acid benzoic (2), acid salicylic (3), 4-hydroxybenzaldehyde (4), acid vanillic (5) và indole-3-carbaldehyde (6). Đây là các hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy trong chi Solanum (Nguyễn Xuân Hải cùng cộng sự; 2018).
Cây cà gai leo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Rễ và lá cà gai leo mọc ở Việt Nam có cholesterol, β-sitosterol, lanosterol, dihydrolanosterol. Ngoài ra, rễ chứa 3β-hydroxy-5α-pregnan-16-on, rễ và lá có solasodenone. Hai chất solasodine và neochlorogenin còn thu được sau khi thủy phân dịch chiết rễ (Hoàng Thanh Hương, 1980).
Viện Dược liệu đã phân tích thành phần hóa học thấy có alkaloid, glycoalkaloid, saponin, flavonoid, acid amin và sterol, trong đó nhân glycoalkaloid có tỷ lệ nhiều hơn cả (Âu Văn Yên – Phạm Kim Mẫn).
3. Tác dụng dược lý
Cây cà gai leo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trong mô hình gây phù thực nghiệm chân chuột bằng kaolin tạo nên giai đoạn cấp tính của phản ứng viêm tương ứng với những biến đổi về mạch máu gây thoát huyết tương ở khoảng ngoài tế bào, rễ và thân lá cà gai leo có tác dụng ức chế phù rõ rệt (rễ với liều 13,5g/kg và thân lá với liều 22,5g/kg trở lên).
Đối với giai đoạn bán cấp của phản ứng viêm tương ứng với sự tạo thành tổ chức hạt, trong mô hình gây u hạt thực nghiệm với amian, rễ và thân lá cà gai leo có tác dụng ức chế rõ rệt (rễ với liều từ 5g/kg và thân lá từ 10g/kg chuột trở lên).
Tuyến ức có vai trò quan trọng trong sự hình thành hệ thống miễn dịch của cơ thể, rễ và thân lá cà gai leo có tác dụng gây thu teo tuyến ức chuột cống non rõ rệt (rễ với liều 7,5g/kg và thân lá với liều 15g/kg chuột cống trở lên).
Chỉ số tán huyết của rễ cà gai leo xác định bằng phương pháp Brunel là 13. Cà gai leo tỏ ra không độc trong thí nghiệm về độc tính cấp và bán cấp.
Đã nghiên cứu định lượng sinh học hoạt lực chống viêm của rễ cà gai leo tương ứng với 2,5mg hydrocortison, thân lá cà gai leo tương ứng với 1,3mg hydrocortison.
Đã nghiên cứu tác dụng bảo vệ của rễ cà gai leo chống độc lực của nọc rắn cobra trên chuột nhắt trắng và thấy cà gai leo có tác dụng bảo vệ chuột thí nghiệm chống độc lực của liều cao nọc rắn, làm tăng một cách có ý nghĩa tỷ lệ chuột sống sót so với chuột đối chứng không uống cà gai leo.
Đã nghiên cứu thăm dò khả năng chống co thắt phế quản của một số thuốc chữa hen có truyền bằng phương pháp khí dung histamin của Armitage và thấy cà gai leo có tác dụng kéo dài thời gian chịu đựng của chuột được uống thuốc và đặt trong buồng khí dung, làm thời gian triệu chứng khó thở xuất hiện chậm hơn so với chuột đối chứng không uống cà gai leo.
Việc nghiên cứu thăm dò khả năng ngăn chặn tiến triển xơ gan của cà gai leo trên mô hình gây xơ gan thực nghiệm của Marcos cho thấy sau 3 tháng gây xơ gan trên chuột cống trắng, xơ gan hình thành rõ rệt, thể hiện trên các chỉ tiêu hóa sinh và tổ chức học. Ở thời điểm 5 tuần, quá trình bệnh lý mới tiến triển tới giai đoạn thoái hóa mô gan, chưa có sự gia tăng rõ rệt của collagen. Nhưng khi xơ đã ở giai đoạn hoàn chỉnh, song song với các biến đổi về tổ chức học, hàm lượng collagen ở gan xơ cũng tăng cao gấp 2,5 lần so với bình thường. Cà gai leo với liều cho uống hàng ngày 6g/kg thể trọng chuột, tuy không ngăn chặn được hoàn toàn quá trình xơ hoá, nhưng có tác dụng làm chậm tiến triển của xơ. Hàm lượng collagen ở lô chuột dùng cà gai leo chỉ bằng 71% so với lô chuột chứng gây xơ không dùng thuốc. Về mặt tổ chức học, thí nghiệm cho thấy toàn bộ chuột ở lô chứng gây xơ đều bị xơ nặng hoặc vừa, còn ở lô dùng cà gai leo hầu hết chỉ xơ nhẹ hoặc không xơ.
Cà gai leo có tác dụng gì ?

Rễ cà gai leo được nhân dân dùng làm thuốc chữa phong thấp, đau nhức răng, sâu răng, chảy máu chân răng.
Có nơi nhân dân coi như có tác dụng chữa say rượu. Người ta cho rằng trong khi uống rượu thỉnh thoảng sát răng bằng rễ cà gai leo thì tránh được say rượu. Nếu bị say uống nước sắc của rễ. Ngoài ra cà gai còn được dùng để chữa bệnh lậu. Mỗi ngày uống từ 16 – 20 g rễ khô dưới dạng sắc.
Có nơi còn dùng chữa rắn cắn: Nhai rễ nuốt nước, bã đắp lên vết bị rắn cắn.
Không nên bỏ qua cây kim thất tai trị tiểu đường nha
Cách trồng cà gai leo
Cây cà gai leo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cà gai leo có thể được nhân giống bằng hạt, giâm cành hoặc bằng công nghệ sinh học. Hạt cà gai leo tuy dễ nảy mầm, nhưng hệ số nhân giống không cao do cây ít quả, quả nhỏ và ít hạt. Hơn nữa, cây nhân giống bằng hạt có chất lượng không đồng đều, gây khó khăn cho việc tiêu chuẩn hóa nguyên liệu. Nhân giống bằng giâm cành cho hệ số nhân thấp và lại phải sử dụng chính nguyên liệu để nhân giống. Cây nhân giống bằng công nghệ sinh học có hệ số nhân khá hơn, chất lượng dược liệu đồng đều nhưng giá thành hơi cao. Phương hướng chung là sử dụng phương pháp giâm cành và công nghệ sinh học để nhân nhân giống chọn lọc tạo ra một lượng giống nguyên chủng cần thiết, sau đó dùng phương pháp nhân giống bằng hạt để cung cấp cây con cho sản xuất.
Thời vụ gieo hạt tốt nhất là tháng 2 – 3. Hạt nảy mầm sau 7 – 10 ngày. Hạt có thể gieo trong vườn ươm, khi cây con cao 10 – 12cm thì đánh đi trồng, hoặc gieo thẳng theo hốc, mỗi hốc 3 – 4 hạt. Khi cây cao 7 – 10cm thì tỉa bớt, mỗi hốc giữ lại 1 cây khỏe nhất. Nếu giâm cành thì vào tháng 2 – 3, chọn cành bánh tẻ chặt thành đoạn dài 12 – 15cm, giâm vào bầu và tưới ẩm thường xuyên. Khi cây con chuyển trồng ra ruộng (chú ý huỷ bầu). Những chỉ nên sử dụng phương pháp này và phương pháp nhân bằng công nghệ sinh học trong các cơ sở nghiên cứu tạo giống ban đầu.
Đất trồng cà gai leo là nơi nhiều mùn, thoát nước. Sau khi cày bừa kỹ, để ải, cần bón lót 10 – 15 tấn phân chuồng hoai mục, 100 – 150kg phân lân, 50 – 75kg kali cho mỗi hecta và lên luống cao 25 – 30cm, rộng 70 – 80cm. Cây trồng hoặc gieo thẳng đều định khoảng cách 50 x 50cm. Cà gai leo chịu hạn khá tốt, nhưng muốn có năng suất cao vẫn cần tưới ẩm thường xuyên. Mỗi tháng làm cỏ, xới xáo một lần, kết hợp bón phân thúc. Bệnh chủ yếu là sâu đục quả đẻ trứng phá loãng (2%). Bệnh hại chủ yếu là rệp vảy cà gai leo gây hại (Pseudococcus sp.). Có thể trừ sâu bằng cách phun Bitox 40 EC theo hướng dẫn ghi trên nhãn.
Muốn đuổi bọ thì dùng cây mần tưới – click để hiểu
Vậy mua cây cà gai leo ở đâu uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây cà gai leo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Solanum procumbens – Wikipedia Tiếng Việt.
- Cây cà gai leo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây cà gai leo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Trung Nhân, Nguyễn Thị Thanh Mai (2018). “Thành phần hoá học của cây Cà gai leo (Solanum procumbens)”. Tạp chí Phát triển Khoa học & Công Nghệ – Chuyên san Khoa học Tự nhiên. 2(6): 134 – 138.
- (Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng loài cà gai leo Solanum procumbens Lour tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Solanum procumbens – thầy thuốc của bạn.












