Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Ngũ gia bì gai hay tam gia bì, xuyên gia bì, thích gia bì (danh pháp khoa học là Eleutherococcus trifoliatus (L.) S.Y.Hu; đồng nghĩa: Acanthopanax aculeatus (Aiton) Witte) là một loài thực vật có hoa trong Họ Cuồng Araliaceae.
Ngũ gia bì (Cortex Acanthopanacis), là vỏ rễ phơi khô của cây ngũ gia bì. Vì lá có 5 lá chét to chụm vào với nhau và chỉ dùng vỏ rễ làm thuốc do đó có tên như vậy. Ngoài vị trên ra, tên ngũ gia bì còn chỉ nhiều vị khác nhau. Cần chú ý tránh nhầm lẫn.

Mô tả cây ngũ gia bì gai
Cây ngũ gia bì – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây bụi nhỡ có chiều cao trung bình khoảng từ 1 – 7 mét, có thể mọc dựa vào cây khác. Cành có xu hướng vươn dài ra và có gai nhọn. Lá mọc cách, kép chân vịt có từ 3 – 5 lá chét, cuống dài từ 4 – 7cm và có gai. Phiến lá chét hình bầu dục hay hơi thuôn dài, phía cuống hơi thót lại, đầu nhọn, mỏng, mép có răng cưa to, dài khoảng từ 5 – 8 cm, rộng khoảng 2 – 4 cm. Lá chét ở giữa lớn hơn các lá chét bên, gân lá có gai, cả hai mặt đều nhẵn nhưng mặt trên sẫm bóng. Cụm hoa mọc ở đầu cành, gồm từ 3 – 10 tán có cuống dài 3 – 4 cm. Hoa nhỏ, màu trắng lục, đài hoa không rõ. Cánh hoa có hình tam giác, nhị 5 với chỉ nhị mảnh. Mùa hoa từ tháng 9 – 11. Quả mọng, hình cầu, đường kính chừng 2,5mm, khi chín có màu đen. Mùa quả vào khoảng từ tháng 12 – 1.
Cây ngũ gia bì gai – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây bụi nhỡ, cao 1 – 7m, mọc dựa. Cành vươn dài có gai. Lá kép chân vịt, mọc so le, gồm 3 – 5 lá chét, thường là 3, hình bầu dục hoặc thuôn, gốc tròn, đầu nhọn, dài 5 – 8cm, rộng 2 – 4cm, lá chét giữa lớn hơn, mép khía răng to, gân lá có gai, hai mặt nhẫn, mặt trên sẫm bóng; cuống lá kép dài 4 – 7cm, có gai. Cụm hoa mọc ở đầu cành, gồm 3 – 10 tán, cuống dài 3 – 4cm; hoa nhỏ, mẫu 5, màu trắng lục, lá đài không rõ; cánh hoa hình tam giác; nhị 5, chì nhị mảnh; bầu hạ, 2 ô. Quả mọng, hình cầu dẹt, mang vòi tồn tại, đường kính khoảng 2,5mm, khi chín màu đen, có 2 hạt. Toàn cây có tinh dầu thơm. Mùa hoa: tháng 9 – 11; mùa quả: tháng 12 – 1.
Các loài Acanthopanax evodiifolius Franch., A. senticosus Harms (nam ngũ gia) và thứ Acanthopanax trifoliatus var. setosus H.L.Li cũng được sử dụng.

Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây ngũ gia bì – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Ngũ gia bì mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta, hay gặp nhất là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Sapa (Lào Cai), Vĩnh Phúc, Phú thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây, Tuyên Quang. Có mọc ở Trung Quốc (Quảng Châu, Tứ Xuyên).
Thường đào cây vào mùa hạ hay mùa thu, lấy rễ, bỏ gỗ, lấy vỏ, phơi khô là được. Khi dùng để sống hoặc sao vàng sắc uống.
Vị thuốc thường là những cuộn ống nhỏ, dài ngắn không đều, dày chừng 1mm, vỏ ngoài màu vàng nâu nhạt, hơi bóng có những nếp nhăn, bì khổng dài, mặt trong màu xám trắng, dai, mặt phẳng, có những điểm vàng nâu. Mùi không rõ.
Cây ngũ gia bì gai – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Acanthopanax (Decne. & Planch.) Miq. có khoảng hơn 10 loài, phân bố chủ yếu ở vùng Đông Á, bao gồm Viễn Đông Nga, Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Một số loài có ở vùng Nam và Đông – Nam Á. Ở Việt Nam, chỉ này có 3 – 4 loài kể cả loài Acanthopanax baviensis R.Vig. hiện chưa thu lại được mẫu vật. Trong số những loài đã biết, đáng chú ý có loài ngũ gia bì gai phân bố tương đối tập trung ở các tỉnh dọc theo biên giới phía bắc, như Lạng Sơn, (huyện Bắc Sơn, Tràng Định, Cao Lộc, Văn Lãng, Văn Quan …); Cao Bằng (Quảng Hòa, Trùng Khánh, Hạ Lang, Hà Quảng, Trà Lĩnh …); Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ, Tủa Chùa …); Lào Cai (Sapa, Bắc Hà, Bát Xát …); Hà Giang (Quản Bạ); Sơn La. Ở những tỉnh khác, ngũ gia bì gai chỉ mới thấy có ở 1 – 2 điểm thuộc vùng núi cao (trên 1000m), với số lượng quần thể không nhiều, đó là Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc); Thanh Hoá (Son Bá Mười); Nghệ An (Mường Lống), Quảng Nam (Trà My; Hiền); Kon tum (Ngọc Linh); Quảng Ngãi (Sơn Hà). Như vậy, mức độ phân bố của ngũ gia bì gai ở Việt Nam giảm dần vào các tỉnh phía nam. Trên thế giới, ngũ gia bì gai có nhiều nhất ở Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài ra, còn có ở Lào, Ấn Độ và Philippines.
Ngũ gia bì gai thuộc loại cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc ở ven rừng núi đá vôi ẩm, dọc theo các bờ suối hoặc còn sót lại ở các bờ nương rẫy. Độ cao phân bố phổ biến từ 400 đến 1500m. Cây có thể rụng lá về mùa đông. Ngũ gia bì gai thích nghi với vùng có khí hậu ẩm mát thuốc nhiệt đới núi cao. Nhiệt độ trung bình năm 15,3 – 21,7oC, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tới dưới 0oC. Lượng mưa dao động từ 1103,1 (ở Bảo Lạc – Cao Bằng) đến 2833 mm/năm (Sa Pa – Lào Cai). Độ ẩm không khí trung bình là 85%. Ngũ gia bì gai thường mọc trên loại đất feralit mùn trên núi đá vôi. Kết quả phân tích 50 mẫu đất lấy ở những nơi có ngũ gia bì gai mọc tập trung cho thấy: pH: 5,5 – 6,3; N tổng số: 0,05 – 0,06%; P2O5 tổng số: 0,17 – 0,33%; K2O tổng số: 0,14 – 0,23% (Nguyễn Tập, 1976 và 1996).
Ngũ gia bì gai ra hoa quả nhiều hàng năm. Quả chín và rụng xuống đất trong mùa đông. Đã quan sát thấy cây con mọc từ hạt quanh gốc cây mẹ vào tháng 4 – 5, nhưng với tỷ lệ rất thấp so với số lượng quả của cây. Cây có khả năng tái sinh vô tính khoẻ, 100% số gốc chặt trong mùa thu – đông hoặc mùa xuân đều mọc chồi. Phần lớn các cá thể trong quần thể ngũ gia bì gai được quan sát ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, đều là cây chồi. Nghiên cứu khả năng tái sinh từ hom cành đạt tỷ lệ từ 78,8% (Nguyễn Tập, 1996) đến 100% (Tác giả đang nghiên cứu tiếp ở Sapa, 2000 – 2001). Cây trồng từ hom cành sau 2 – 3 năm bắt đầu có hoa quả lứa đầu tiên.
Nguồn ngũ gia bì gai ở Việt Nam tương đối phong phú theo kết quả điều tra trữ lượng vào các năm 1973 – 1987 ở Lạng Sơn, Cao Bằng và Lai Châu, đã xác định đến vài trăm tấn dược liệu. Tuy nhiên, việc khai thác thường xuyên, với khối lượng không hạn chế suốt gần 40 năm qua, đã làm cho trữ lượng của cây giảm sút nghiêm trong. Phạm vi phân bố của cây cũng bị thu hẹp do nạn phá rừng, mở mang canh tác nương rẫy và làm nơi định cư mới. Cây đã được đưa vào Sách Đỏ Quốc gia để lưu ý bảo vệ.
2. Cách trồng ngũ gia bì gai
Cây ngũ gia bì gai – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Ngũ gia bì gai ưa khí hậu ẩm mát ở vùng núi phía bắc, nhưng cũng có thể trồng được ở đồng bằng với khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Cây được nhân giống chủ yếu bằng giâm cành. Chọn cành bánh tẻ, mập, không sâu bệnh, cắt thành đoạn dài 30 – 40 cm, cắm một nửa xuống đất, lèn chặt và giữ ẩm vừa phải. Nếu giâm trong bầu, cành giâm có thể cắt ngắn hơn, khoảng 15 – 20cm. Đoan rễ mang mầm cũng có thể dùng làm giống. Thời vụ giâm cành tốt nhất vào đầu mùa xuân.
Cây có thể trồng trên mọi loại đất, nhất là đất cao ráo, thoát nước. Nếu trồng thành ruộng, thường trồng với khoảng cách 1 – 2m một cây. Hiện nay, cây chủ yếu được trồng làm hàng rào kết hợp làm thuốc, với khoảng cách 40cm. Khi cây đã ra rễ, có thể bón thêm phân hữu cơ, nước giải. Ngũ gia bì gai ít có sâu bệnh. Cây trồng sau 2 – 3 năm có thể cho thu hoạch.
Vỏ rễ hoặc vỏ thân thu hái vào mùa thu đông đã được rửa sạch, phơi hay sấy khô. Vỏ rễ ngũ gia bì gai được ghi vào Dược điển Trung Quốc (bản in tiếng Anh 1997).
3. Thành phần hoá học
Cây ngũ gia bì – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Loại ngũ gia bì của ta chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
Loại ngũ gia bì của Trung Quốc hái ở cây nam ngũ gia bì hay thích ngũ gia bì, hoặc xuyên gia bì Eleutherococcus nodiflorus (Dunn) S.Y.Hu; đồng nghĩa: Acanthopanax gracilistylus W.W.Sm., cùng họ, có chứa một chất thơm là 4-methoxysalicylaldehyde và một số axit hữu cơ.
Trong rễ và thân cây Eleutherococcus senticosus (Rupr. & Maxim.) Maxim., Eleutherococcus senticosus (Rupr. & Maxim.) Maxim. có chứa nhiều heteroside: Rễ chứa 0,6 – 0,9%, thân chứa 0,6 – 1,5%. Trong những heteroside có eleutheroside A C35H60O6, eleutheroside B (syringin) C17H24O9, eleutheroside B1 C17H20O10, ngoài ra còn eleutheroside D và E, cả hai đều là glucoside của syringaresinol C22H26O8 với vị trí sắp xếp khác nhau, eleutheroside F và G (C. A., 1965, 62, 16630a và C. A., 1969, 71, 1693n). Tỷ lệ những heteroside có trong rễ đã xác định được như sau: A, B, C, D, E, F và G là 8:30:10:12:4:2:1 (C. A., 1965, 62, 16630a). Trong vỏ rễ và thân eleutheroside B có nhiều hơn, trong vỏ thân và thịt quả thì heteroside A, C, E và B nhiều hơn (C. A., 1971, 74, 1080r). Tác dụng của những heteroside ấy so với một số heteroside trong nhân sâm có những điểm giống nhau.
Rễ còn chứa l-sesamin C20H18O6 (C. A., 1972,76, 32224m) và các đa đường.
Lá chứa eleutheroside I, K, L và M (C. A., 1972. 76, 59965r và Index Chemicus, 1972, 45, 190217) cùng với senticoside A, B, C, D, E và F có genin là axit oleanic (??) (C. A., 1970, 73 127741e, C. A.,1972, 76, 70053m).
Trong rễ loài ngũ gia bì Eleutherococcus sessiliflorus (Rupr. & Maxim.) S.Y.Hu, người ta thấy có những lignan glucoside như: Acanthoside A (độ chảy 100oC, acanthoside B C28H36O13, acanthoside C độ chảy 125 – 128oC, acanthoside D C34H46O18, (C. A., 1965, 63, 843g và C. A., 1966, 64, 8290a).
Ngoài ra còn có eleutheroside A (hay daucosterin, β-sitosterol glucoside) C35H60O6 (C. A., 1966, 65, 2626h), l-sesamin C20H18O6, I-savinin C10H16O6 (C. A., 1966, 65, 15790d) glucoside tim, tinh dầu (C. A., 1955, 49, 5603b).
Cây ngũ gia bì gai – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Vỏ rễ và vỏ thân ngũ gia bì gai chứa acid 3α,11α-dihydroxy-23-lup-20(29)-en-28-oic (Phạm Đình Tỵ và cs, 1984), acid 24-nor-11α-hydroxy-3-oxo-lup-20(29)-en-28-oic (Lischewski M. và cs, Phytochemistry 1985, 24: 2355), acid 24-nor-3α,11α-hydroxy-lup-20(29)-en-25-oic (Kutchalbsky Leo và cs, 1986).
Lá chứa acid 3α,11α-dihydroxy-lup-20(29)-en-28-oic và acid 3α,11α-23-trihydroxy-lup-20(29)-en-28-oic (Phạm Đình Tỵ và cs, 1984). Ngoài ra, còn có nevadensin, taraxerol và taraxerol acid acetic ester (Du Jiang và cs 1992, CA. 117, 183251v).
Lá và cành còn chứa tinh dầu gồm hơn 60 thành phần, trong đó các chất chính là α-pinene, sabinene, terpinen-4-ol, β-pinene và p-cymene (Trần Minh Hợi và cs, 1998).
4. Tác dụng dược lý
Cây ngũ gia bì gai – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Ngũ gia bì gai có tác dụng kích thích tâm thần. Trong thử nghiệm gây trạng thái trầm uất trên chuột nhắt trắng theo phương pháp Porsolt, ngũ gia bì gai cũng như tam thất và đinh lăng, có tác dụng làm giảm thời gian bất động của chuột. Nước sắc và dịch chiết cồn từ vỏ cây có các tác dụng làm tăng hoạt động tự nhiên của súc vật thí nghiệm, tăng khả năng bám trụ quay của chuột, rút ngắn thời gian gây ngủ của hexobarbital, tăng khả năng thiết lập phản xạ có điều kiện và tăng khả năng duy trì phản xạ có điều kiện. Ngoài ra, ngũ gia bì gai còn có khả năng tăng cường tác dụng gây co giật của strychnine và pentetrazol. Tuy ngũ gia bì gai có tác dụng gây hưng phần tâm thần nhưng không làm thay đổi hoạt tính của men monoamine oxidase (MOA) ở não và gan chuột thí nghiệm.
Thuộc nhóm này, có cây Acanthopanax senticosus Harms (đồng nghĩa: Eleutherococcus senticosus (Rupr. & Maxim.) Maxim.) đã được các tác giả Liên Xô trước đây nghiên cứu nhiều về dược lý và đã chứng minh có các tác dụng sau: Tác dụng “sinh thích nghi” (adaptogen) tốt hơn nhân sâm, tạo cho cơ thể ở trạng thái sức đề kháng được tăng cường một cách không đặc hiệu (a state of non-specific increased resistance) với những đặc điểm sau:
– Tăng cường sức đề kháng không đặc hiệu của cơ thể đối với các tác nhân gây độc hại như các tác nhân về vật lý (quá lạnh, nóng bức, quá tải, không trong lượng, vận động quá mức hoặc bất động bắt buộc, phóng xạ), tác nhân hóa học (các chất độc), tác nhân sinh học (vi khuẩn, ung thư),
– Điều tiết quá trình bệnh lý, làm cho cơ thể có xu hướng trở về trạng thái bình thường, ví dụ như đối với bệnh đường huyết cao do thức ăn hoặc do tiêm adrenalin thì A. senticosus có tác dụng làm hạ đường huyết nhưng ở trường hợp đường huyết thấp do insulin gây nên thì lại có tác dụng nâng cao đường huyết.
– Độc tính thấp, với liều dùng tăng sức đề kháng của cơ thể, không làm ảnh hưởng đến các chức năng bình thường của cơ thể. Ngoài tác dụng trên, cây còn có tác dụng làm giãn mạch máu, cải thiện việc cung cấp máu cho não, hạ huyết áp. Đối với thần kinh trung ương, dạng chiết từ A. senticosus có tác dụng gây trấn tĩnh, kéo dài thời gian gây ngủ của pentobarbital hay nembutal, giảm co giật do picrotoxin gây nên. Polysaccharide chiết từ A. senticosus có tác dụng kích thích miễn dịch. Đối với hiện tượng giảm bạch cầu do bezene hoặc cyclophosphamide gây nên, A. senticosus có tác dụng phòng ngừa. Trên lâm sàng, cây được dùng điều trị ngộ độc benzene mạn tính và bệnh giảm bạch cầu có kết quả nhất định.


Công dụng của ngũ gia bì gai
Ngũ gia bì gai có vị đắng, cay, tính mát, vào 3 kinh can, phế, thận, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khư phong, lợi thấp, thư cân, hoạt lạc.
Theo kinh nghiệm dân gian, ngũ gia bì gai được coi là một vị thuốc bổ, làm mạnh gân xương, chữa thấp khớp, lưng gối mỏi đau, trẻ con chậm biết đi, đàn ông đương sư kém, đàn bà ngứa âm hộ. Ngày dùng 6 – 12g, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống. Ở Trung Quốc, ngũ gia bì gai (thích tam giáp) còn được dùng chữa cảm mạo, sốt cao, ho đờm có máu, hoàng đản, bạch đới, sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt.
Bài thuốc có ngũ gia bì gai:
Chữa đau khắp mình mẩy, đau lưng, đau xương:
Ngũ gia bì thái nhỏ sao vàng 100g, rượu trắng 30o một lít, ngâm trong 10 – 15 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống một cốc con chừng 30ml vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Chữa chứng kê trảo phong, tay run rẩy không cầm nắm được, miệng lập cập: Ngũ gia bì gai 30g, ngưu tất, thạch hộc mỗi vị 24g; nhục quế (bỏ vỏ ngoài) 6g; gừng khô 3g. Sắc uống (Nam dược thần hiệu).
Chữa bạch đới, kinh nguyệt khó khăn: Rễ ngũ gia bì gai 9g, hồng ngưu tất 6g. Sắc nước uống (Giang Tây thảo dược thủ sách).
Chữa thổ huyết lao thương: Rễ ngũ gia bì gai, ngưu tất, chu sa liên, tiểu huyết đằng, mỗi vị 9g. Ngâm rượu uống, ngày 2 lần, mỗi lần 15 – 30ml (Quý Châu thảo dược – Trung Quốc).




Địa chỉ bán ngũ gia bì gai tại Hà Nội uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống ngũ gia bì gia phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tìm kiếm liên quan
- Hình ảnh cây ngũ gia bì gai
- Công dụng của ngũ gia bì gai
- Ngũ gia bì rừng
- Quả ngũ gia bì có an được không
- Lá ngũ gia bì có uống được không
- Hoa ngũ gia bì
- Tác dụng của ngũ gia bì ngâm rượu
- Cách sử dụng cây ngũ gia bì
Sản phẩm liên quan: Lá đắng cảy

















