Sửa chính tả và điều chỉnh lại nội dung: 26/3/2025;
Vừng hay mè đen, du tử miêu, cự thắng tử, chi ma, bắc chi ma, hổ ma, tên tiếng Anh là sesame, benne (danh pháp khoa học là Sesamum indicum L.; đồng nghĩa: Sesamum orientale L.) là một loại cây ra hoa thuộc chi Vừng Sesamum, họ Vừng Pedaliaceae.
Vừng và vừng đen (Semen Sesami) là vừng của dân tộc Khương Hồ (tên cổ người Trung Quốc gọi nước Ấn Độ) do đó có tên hổ ma là vừng của người Hổ (ma là vừng).



Mô tả cây mè đen (vừng)
Cây vừng là một loại cỏ nhỏ, thân có nhiều lông, cao chừng 0,6m, sống hằng năm. Lá mọc đối, đơn, không có lá kèm, nguyên, có cuống. Hoa trắng mọc đơn độc ở kẽ lá, lưỡng tính, không đều, có cuống ngắn. Đài hơi hợp ở gốc. Tràng hình ống loe ra thành hai môi, môi dưới gồm 3 thùy, môi trên 2 thùy, 4 nhị, 2 to, 2 nhỏ, 2 lá noãn, đầu nhụy có 2 nuốm, bầu có vách già chia thành 4 ô, mỗi ô chứa một dãy dọc nhiều noãn. Quả nang dìa, 4 ô mở thành 4 mảnh. Nhiều hạt nhỏ màu vàng hay nâu đen, Lá mầm chứa nhiều dầu.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái, chế biến
Cây vừng (mè, chi ma, hổ ma) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Vừng được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy hạt ăn và để xuất cảng. Ngoài ra những nước khác như Campuchia, Lào, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Tiểu Á, miền nam Liên xô cũ, Rumani, Hy Lạp đều có trồng. Trước cách mạng Tháng Tám, hàng năm toàn nước ta sản xuất chừng 1.200 – 1.300 tấn, nhiều nhất ở các tỉnh vùng Trung Bộ.
Vào các tháng 7, 8, 9 người ta cắt toàn cây về phơi khô đập lấy hạt, phơi khô, loại bỏ tạp chất là được.
Vừng đen hay vàng đều dùng làm thuốc được, nhưng thường chỉ hay dùng vừng đen. Còn dầu thì ép từ vừng đen hay vàng đều dùng được.
Muốn phát hiện có dầu vừng trong một hỗn hợp dầu hay muốn xem một chất dầu có phải là dầu vừng hay không, người ta thường tiến hành phản ứng Baudouin như sau: Lấy 2ml dầu, thêm 1ml dung dịch 1% (theo thể tích) axit clohidric có pha furfural, để yên 5 phút, nếu thấy xuất hiện màu đỏ là có dầu vừng. Phản ứng này giúp ta phát hiện chừng 0,5 – 5% dầu vùng trong hỗn hợp, màu đỏ do sesamol tác dụng trên furfurol.
2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Cây vừng (mè, chi ma, hổ ma) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong hạt vừng có từ 40 – 55% dầu, có khi lên tới 60%. Ngoài ra còn chừng 5 – 6% nước, 20 – 22% chất protein, 5% tro, trong đó có 1,7mg đồng, 1% canxi oxalat, 6,3 – 8,8% chất không có nitơ, pentosan, lecithin, phytin và choline.
Dầu vừng chứa khoảng 12-16% axit đặc (7,7% axit palmitic, 4,6% axit stearic, 0,4% axit arachidic), 75-80% axit lỏng (trong đó có 48% axit oleic, 30% acid linoleic và, 0,04% axit lignoceric). Phần không xà phòng hóa được chiếm 0,9 – 1,7% và chừng 1% lecithin.
Trong dầu vừng Villelavecchia và Fabris còn phân tích được chất sesamin C20H18O6, với tỷ lệ chừng 0,25 – 1%. Ngoài ra còn chừng 0,1% chất sesamol là một phenol có công thức C7H6O3.




Công dụng và liều dùng vừng (mè đen)
Trong tây y dùng dầu vừng thay dầu ô liu để chế thuốc tiêm, thuốc cao dán nhọt. Đông y coi dầu vừng và vừng là một vị bổ, nhuận tràng, lợi sữa. Trong các sách cổ đông y người ta viết về vừng như sau: Vừng có vị ngọt, tính bình, không độc, vào 4 kinh phế, tỳ, can và thận, có tác dụng ích gan, bổ thận, nuôi huyết, nhuận táo, là thuốc tự dưỡng cường tráng, chủ trị thương phong, hư nhược, bổ ngũ tạng, ích khí lực, đầy tủy não, bền gân cốt, sáng tai mắt, quên đói sống lâu. Thường dùng nấu với muối chì và các vị thuốc khác làm thuốc cao dán nhọt
Khi kết hợp chất sesamin hay dầu vừng với thuốc trừ sâu pyrethrin, người ta thấy với tỷ lệ thêm chừng 5% dầu vừng thì hiệu lực trừ sâu của pyrethrin tăng lên rõ rệt.
Dầu vừng là một thực phẩm quý và còn dùng để chế xà phòng, dầu máy.
Khô dầu vừng có thể dùng làm phân bón, thức ăn cho súc vật, nuôi cá. Tuy nhiên có tác giả cho rằng khô dầu vùng cho súc vật ăn sẽ gây đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, run rét. Thực tế người ta vẫn cho súc vật ăn mà không làm sao và sở dĩ có hiện tượng độc nổi trên là do khô dầu lên men mà sinh ra chăng ?.
Hoa vừng ngâm vào nước đắp lên mắt đau làm mát mắt, dịu đau.
Nước sắc lá và rễ vừng được nhân dân Ấn Độ, Trung Quốc dùng làm thuốc mọc tóc và giữ cho tóc được đen lâu.
Liều dùng hằng ngày: Ngày uống 10 đến 25ml làm thuốc bổ, muốn nhuộm và tẩy, tăng liều lên tới 40 đến 60g.
Vừng đen: Ngày có thể dùng 12 đến 25g dưới dạng thuốc viên, thuốc bột hay thuốc cao.
Đơn thuốc có Vừng dùng trong nhân dân:
Thuốc chữa cao huyết áp: Vừng đen, hà thủ ô, ngưu tất, các vị bằng nhau tán nhỏ, dùng mặt viên thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 10g, dùng chữa bệnh cao huyết áp, mạch máu bị xơ cứng, bị cảm mà bán thân bất toại, táo bón.
Thuốc lợi sữa: Vừng đen sao qua, giã nhỏ cho thêm ít muối ăn hằng ngày cho lợi sữa, chữa phụ nữ cạn sữa
Trẻ con bị xích bạch lỵ: Dùng dầu vừng 5 hay 10g tùy theo tuổi hòa với mật ong cho uống.
Địa chỉ bán cây giống mè đen tại Hà Nội uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống mè đen phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây vừng (mè, chi ma, hổ ma) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Panpan Wei et al. (2022). “Sesame (Sesamum indicum L.): A comprehensive review of nutritional value, phytochemical composition, health benefits, development of food, and industrial applications“. Nutrients. 14(19):4079.