Bộ sưu tập



Sửa chính tả và điều chỉnh lại nội dung: 22/3/2025;
Chùm ngây hay ba đậu dại, tên tiếng Anh là moringa, drumstick tree, horseradish tree, malunggay (danh pháp khoa học là Moringa oleifera Lam.) là loài thực vật thân gỗ vô cùng phổ biến trong Chi Chùm ngây Moringa thuộc họ Chùm ngây Moringaceae. Qua tìm hiểu, chùm ngây có xuất xứ từ vùng Nam Á nhưng cũng mọc hoang và được trồng, khai thác, sử dụng khá nhiều nơi trên thế giới do có giá trị kinh tế cao và năng suất vượt trội.
Horseradish tree (cây cải ngựa), chỉ phần rễ non của cây có vị của cây cải ngựa, mù tạt. Drumstick tree (cây dùi trống), chỉ phần thân/quả có hình dáng giống dùi trống. Ben-oil tree (cây dầu ben), do dầu ép từ hạt cây được bán với tên gọi là dầu ben (ben-oil).
Mô tả cây chùm ngây
Chùm ngây là cây rụng lá phát triển rất nhanh, có thể cao từ 10 – 12 mét và đường kính thân lên đến 46 cm. Vỏ cây có màu xám trắng và được phủ bởi lớp bần dày. Chồi non có vỏ ngoài màu tím hoặc xanh nhạt, phủ lông mịn. Lá kép 3 lần lông chim (tripinnate leaf) lẻ dài 30 – 60 cm, màu xanh mốc, lá chét con dài 12 – 20mm hình trứng, mọc đối từ 6 đến 9 đôi.
Hoa màu trắng kem, dài khoảng 1 – 1,5 cm, rộng khoảng 2 cm, có cuống, hình dạng thì giống hoa đậu nhưng đẹp hơn, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ, nhiều mật. Hoa bắt đầu nở trong 6 tháng đầu sau khi trồng. Ở nơi có khí hậu mát mẻ theo mùa, cây chỉ nở hoa 1 lần/năm vào cuối xuân hoặc đầu hè (từ tháng 4 – 6 ở Bắc bán cầu, tháng 10 – 12 ở Nam bán cầu). Ở vùng có khí hậu ổn định và mưa đều, cây có thể nở 2 lần mỗi năm hoặc nở hoa quanh năm. Quả nang treo, dài 25 – 40 cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh. Chỗ có hạt thì hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh. Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hà Lan. Mỗi hạt có 3 cánh mỏng màu trắng, giúp nó được gió thổi đi hoặc trôi theo nước. Khi trồng, người ta thường cắt cây xuống còn 1 – 2 mét mỗi năm, để các quả và lá luôn ở tầm với, thuận tiện cho việc thu hoạch.
Thông tin thêm
1. Phân bố của chùm ngây
Bản địa chùm ngây là ở vùng sơn cước Hi Mã Lạp Sơn tây bắc Ấn Độ, có lịch sử phát hiện và sử dụng hơn 4000 năm, nhưng ngày nay được trồng rộng rãi ở Phi châu, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Đông Nam Á, …
Ở Việt Nam chùm ngây là loài duy nhất của Chi Chùm ngây được phát hiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú Quốc … Tuy vậy trước đây cây ít được chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào, và chỉ trong vài chục năm trở lại đây khi hạt cây từ nước ngoài được mang về Việt Nam, được trồng có chủ định và qua nghiên cứu người ta thấy cây có nhiều tác dụng đặc biệt nên tưởng là cây mới du nhập.
2. Giá trị dinh dưỡng và sử dụng
Hầu hết các bộ phận của chùm ngây đều có giá trị sử dụng, từ toàn bộ lá, thân và cành đến quả hoặc vỏ hạt xanh non; hoa, hạt, thậm chí là rễ non.
Hàm lượng dinh dưỡng trong 100g lá chùm ngây tươi cung cấp hàm lượng đáng kể các vitamin nhóm B, cụ thể là thiamine (B1) 0,257 mg, riboflavin (B2) 0,660 mg, niacin (B3) 2,220 mg, axit pantothenic (B5) 0,125 mg, vitamin B6 1,200 mg, folate (B9) 40 μg; vitamin C (51,7 mg); vitamin A dưới dạng beta-carotene (378 μg); vitamin K; mangan và protein (số liệu được công bố trong dữ liệu của USDA hay Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ). Một phần canxi trong lá chùm ngây tồn tại dưới dạng tinh thể canxi oxalat, hấp thụ vào cơ thể kém hơn nhiều so với canxi “tự do”. Mức oxalat (chất phản dinh dưỡng) có thể dao động từ 430 đến 1050 mg trong 100g lá, so với (rau chân vịt) thì trung bình là 750 mg/100g.
Quả non, thon dài của chùm ngây rất phổ biến trong ẩm thực ở khu vực Nam Á. Người ta thường chế biến chúng bằng cách luộc sơ (chần qua nước), cắt ngắn thành từng đoạn nhỏ đem nấu với cà ri hoặc súp cho đến khi mềm. Mùi vị của quả non tương tự như măng tây, pha chút mùi của đậu xanh, nhưng ngọt hơn đôi chút do có hạt non bên trong. Phần vỏ hạt ngay cả khi được luộc chín vẫn giữ được hàm lượng vitamin C cao (nhưng có thể giảm ít nhiều tùy cách nấu), đồng thời là nguồn cung tốt các chất xơ, kali, magie và mangan.
Các món cà ri nấu với quả non thường được nấu bằng cách luộc quả non đến độ mềm vừa ý trong hỗn hợp nước cốt dừa và nhiều thứ gia vị như hạt cải hoặc mù tạt. Quả cũng là nguyên liệu phổ biến trong món súp đậu lăng, chẳng hạn như món sāmbār. Cách chế biến là nghiền quả ra trước, sau đó ninh với các loại rau củ và gia vị như nghệ và thìa là.
Hạt chùm ngây trưởng thành có thể ép ra khoảng 38 – 40% dầu ăn được, gọi là dầu ben do chứa nhiều axit behenic. Phần dầu tinh luyện trong suốt, không mùi và lâu bị hỏng, có thể bảo quản lâu dài. Quả non của cây cũng được luộc chín, phần dầu từ quả sẽ nổi trên mặt nước và có thể dùng thìa hớt lấy. Phần bánh dầu (bã hạt sau khi ép dầu) có thể dùng để làm phân bón hoặc làm chất keo tụ để làm sạch nước. Ngoài ra, dầu hạt chùm ngây còn có tiềm năng sử dụng làm dầu sinh học (biofuel).
Rễ chùm ngây sau khi thái nhỏ thường được dùng làm gia vị do có vị cay nồng đặc trưng nhờ vào hàm lượng cao các polyphenol (một loại chất chống oxy hóa).
Tham khảo thêm cây sống đời tại đây
Rau chùm ngây có tác dụng gì ?
Cây chùm ngây – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác:
Cành non, lá non hoặc bánh tẻ, hoa và quả xanh chùm ngây dem luộc ăn có tác dung kích thích tiêu hóa. Lá non dùng riêng hoặc phối hơp với các dược liệu khác làm thuốc lợi sữa. Lá già phơi khô sắc có tác dụng lơi tiểu nhẹ. Dầu ép từ hạt chùm ngây pha loãng dùng xoa bóp chữa tê thắp.
Trong y học dân gian Ấn Độ, tất cả các phần của cây chùm ngây được dùng điều trị cổ trướng, thấp khớp, vết cắn có noc độc, và làm thuốc kích thích tim và tuần hoàn. Rễ của cây non và vỏ rễ có tác dụng gây sung huyết dạ và làm rộp đa. Lá chứa nhiều vitamin A và C được coi là có tác dụng chữa bệnh scorbut và các bênh viêm xổ; dịch ép lá được dùng làm thuốc gây nôn. Bột nhão từ lá đắp trị vết thương. Hoa là thuốc lợi tiểu và thông mật. Hạt có tác dụng ha sốt. Dầu hạt dùng bôi chữa thấp khớp và bệnh gút.
Cao vỏ cây chùm ngây được dùng làm chất giải độc trị sâu bọ cắn và rắn cắn. Khi người bị động vặt như mèo, chó hoặc chuột cắn, được khuyên lâp tức cắn vào thân cây chùm ngây, hoặc nhai vỏ thân, và sau đó uống cao vỏ thân. Quả chùm ngày được coi là thuớc tăng dục và làm tăng độ nhớt của tinh dịch. Chùm ngây còn có trong thành phần một bài thuốc cổ truyến của Ấn Đô dùng chữa sỏi niệu. Vỏ thân chùm ngây cùng với lá cây Vitis assamica, lượng bằng nhau, được giã nát và đắp lên chỗ bị bệnh của cơ thế rồi phủ một miếng vải sach để chũa bệnh liệt nhe. Giữ ẩm thuốc đắp bằng cách thỉnh thoảng rảy nước khi bị khô. Mỗi đêm dùng thuốc này một lần, trong 2 tuần.
Trong y bọc dân guan Madagascar, rễ chùm ngây được coi là độc có thể gây chết. Dùng rễ chùm ngây làm thuốc đắp ngoài để chữa bênh phổi, làm chuyển máu.
Theo kinh nghiệm dân gian nuớc ngoài, nguời ta dùng hạt chùm ngây dể làm sạch nuớc. Nghiền nát hạt, trộn với một lượng nước thành một dung dịch đậm đặc, rồi đổ nước cần được làm sạch vào, khuấy đều trong 5 phút, để lắng trong 1 – 2 giờ, gạn bỏ các chất cặn bẩn.
Địa chỉ bán cây chùm ngây tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống chùm ngây phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Chùm ngây – Wikipedia tiếng Việt.
- Moringa oleifera – Wikipedia tiếng Anh.
- Cây chùm ngây – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích.