Bộ sưu tập






Độ hoàn thiện nội dung: 60% (✅♥️).
✅: Kiểm tra chính tả lần 1
♥️: Kiểm tra chính tả lần 2
Trầu không (phù lâu, Hán tự: 芙蔞), tên tiếng Anh là betel (danh pháp khoa học là Piper betle L.) là một loài cây gia vị hay cây thuốc, lá của nó có các tính chất dược học.
Mô tả cây trầu không
Trầu không – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Trầu không là một loại cây mọc leo, thân nhẵn. Lá mọc so le, cuống có bẹ, dài 1,5 – 3,5cm, phiến lá hình trái xoan, dài 10 – 13cm, rộng 4,5 – 9cm, phía cuống hình tim (đối với những lá phía gốc) đầu lá nhọn, khi soi lên thấy rất nhiều điểm chứa tinh dầu rất nhỏ, gân lá thường 5. Hoa khác gốc mọc thành bông. Quả mọng không có vòi sót lại.
Trầu không – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dây leo bám. Cành hình trụ, nhẵn, có khía dọc, bén rễ ở những mấu. Lá mọc so le, hình tim tròn, gốc đôi khi hơi lệch, đầu nhọn, dài 10 – 13 cm, rộng 4,5 – 9 cm, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, gân nổi rất rõ ở mặt dưới; cuống lá có bẹ kéo dài. Cụm hoa mọc buông thòng ở kẽ lá thành bông ngắn; lá bắc tròn hoặc hình trái xoan; hoa đực dài có cuống có lông, nhị 2, chỉ nhị ngắn; hoa cái dài khoảng 5 cm, cuống phủ lông dày, bầu có lông ở đỉnh. Quả mọng, tròn và có lông ở đỉnh. Toàn cây có tinh dầu thơm, cay. Mùa hoa quả: tháng 5 – 8.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Trầu không – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Cây trầu không được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy lá ăn trầu. Nó còn được trồng tại nhiều nước khác ở châu Á, vùng nhiệt đới như Malaysia, Indonesia, Philippines.
Làm thuốc người ta cũng dùng lá trầu không hái như đối với lá dùng ăn trầu.
Trầu không – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Trầu không có nguồn gốc ở miền Trung và Đông Malaysia; được trồng từ 2500 năm trước, sau lan sang Madagascar và Đông Phi. Ở Trung Quốc, trầu không cũng được ghi chép từ đời nhà Tần 618 – 907 sau Công nguyên. Đến đầu thế kỷ 15, cây bắt đầu được đưa sang châu Âu. Ngày nay, trầu không không còn gặp ở trạng thái hoang dại; mà đã được trồng phổ biến khắp các nước nhiệt đới ở vùng Nam Á và Đông Nam Á như Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Campuchia, Việt Nam, Lào, Nam Trung Quốc và đảo Hải Nam (Stephen, P. Teo & R. A. Banka, 2000; PROSEA, No16 – Stimulants, p. 102 – 106).
Ở Việt Nam, trầu không cũng đã được nhắc đến trong truyện cổ “Trầu – Cau” từ thời các vua Hùng, cách đây khoảng 2000 năm. Hiện nay cây được trồng ở khắp nơi (trừ vùng núi cao lạnh, trên 1.500 m) như vườn các gia đình, trang trại (ở miền Nam) và cả trên các cánh đồng. Việc trồng trầu không ở Việt Nam cũng như ở các nước châu Á khác thường gắn với tục ăn trầu của người dân.
Trầu không thuộc loại cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng; sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, nhiệt độ trung bình từ 22 đến 26oC; lượng mưa 2000 – 3500 mm/năm (hoặc trên 4000 mm/năm ở Malaysia). Trầu không thích nghi với các loại đất giàu chất hữu cơ, có thành phần sét cao, với pH từ 6 đến 7.
Do đặc điểm của loại cây leo bám, nên trồng trầu không phải có giá thể (thân cây gỗ, cây cau, tường nhà) hoặc có giàn đỡ. Cây trồng được 3 – 4 năm mới thấy có hoa quả; hiện chưa quan sát được cây con mọc từ hạt, song trầu không lại có khả năng tái sinh dinh dưỡng rất khỏe.
Trầu không là một cây trồng quan trọng. Trải qua lịch sử lâu đời về trồng trọt, hiện nay, quần thể trầu không có nhiều giống khác nhau. Ở Viện Thực vật học Quốc gia Ấn Độ người ta đã thu thập được 85 loại trầu không. Ấn Độ là nước trồng trầu không nhiều nhất thế giới (khoảng 50.000 ha), sau đến Bangladesh (12.700 ha). Riêng Thái Lan, sản lượng trầu không hằng năm dành cho xuất khẩu đến 4.500 tấn, tương đương 3,7 triệu đô la Mỹ.
2. Thành phần hóa học
Trầu không – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Trong lá trầu không có 0,8 – 1,8%, có khi đến 2,4% tinh dầu, tỷ trọng 0,958 – 1,057 thơm mùi creozot (creosote) (củi đốt), vị nóng. Trong tinh dầu người ta đã xác định có hai chất phenol là betel-phenol (đồng phân với chất chavibetol C10H12O2 và chavicol C9H10O), kèm theo một số hợp chất phenolic khác.
Hoạt chất khác chưa rõ.
Trầu không – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lá trầu không tươi chứa nước 85,4%; protein 3,1%; chất béo 0,8%; carbohydrate 6,1%; chất xơ 2,3%; chất vô cơ 2,3%; Ca 230 mg; P 40 mg; sắt 7mg; sắt ion hóa 3,5 mg; carotene 9600 đơn vị quốc tế; thiamine 70 µg; riboflavin 30 µg; acid nicotinic 0,7mg; vitamin C 5 mg/100g; 3 – 4 µg/100g iod; kali nitrat (KNO3) với hàm lượng cao.
Thành phần quan trọng trong lá là đường và tinh dầu. Đường khử (glucose): 1,4 – 3,2%; đường không khử (sucrose): 0,6 – 2,5%; đường toàn phần 2,4 – 5,6%; tinh bột 1,0 – 1,2%; tinh dầu 0,8 – 1,8%; tanin 1,0 – 1,3%.
Nhiều vitamin nhóm B (chủ yếu là acid nicotinic) là acid ascorbic và carotene.
Các acid amin, trong đó asparagine có nhiều, lysine và proline ở mức độ vừa phải, histidine và arginine chỉ có vết.
Tinh dầu lá trầu không ở Ấn Độ thuộc nhiều typ với hàm lượng 0,7 – 2,6%. Đó là một chất lỏng màu vàng sáng đến nâu đen. Thành phần tinh dầu từ nhiều vùng ở Ấn Độ là eugenol 26,8 – 42,5%; carvacrol 2,2 – 5,6%; chavicol 5,1 – 16,7%; allylcatechol 2,7 – 6,2%; chavibetol 0 – 9,6%; cineole 2,4 – 4,8%; estragole 0 – 14,6%; eugenol methylether 4,2 – 15,8%; p-cymene 0 – 2,5%; caryophyllene 3 – 11,3%; cadinene 2,4 – 9,1%; sesquiterpene chưa xác định 4,5 – 6,8% (The Wealth of India VII, 1969).
Các thành phần chính của tinh dầu trầu không thuộc nhiều nhóm hóa học khác nhau:
– Anethole 32,0%; eugenol 18,9%; terpenyl acetate 15,61% (Rawat A. K. S. và cs, CA. 108: 156.239u).
– Chavibetol 53,1%; chavibetol acetate 15,5% (Rimando Agnes M. và cs, CA. 106: 38.203p).
– Terpenyl acetate 21,88%; eugenol 15,83%; 1,8-cineole 5,95% (Sharma M. L. và cs, CA. 99: 27.801t).
– Eugenol 82,2% (vùng Desi) 90,5% (vùng Ramtek), methyleugenol 6,9% (vùng Desi), 4,1% (vùng Ramtek), (Sharma M. L. và cs, CA. 101: 11.993).
Ngoài ra, trầu không còn có piperbetol, methylpiperbetol, piperol A và piperol B.
Theo Agnes M. Rimando cùng cộng sự (1986), hóa thực vật của lá trầu không thay đổi tùy theo từng vùng địa lý và chiếm ưu thế chủ yếu trong tinh dầu của lá Piper betle là chavibetol (53.1%), tiếp theo đó là chavibetol acetate (15,5%), caryophyllene (3,79%), allypyroacatechol diacetate (0,71%), campene (0,48%), chavibetol methyl ether (methyl eugenol, 0,48%), eugenol (0,32%), α-pinene (0,21%), β-pinene (0,21%), α-limonene (0,14%), safrole (0,11%), 1,8-cineol (0,04%) và allylpyrocatechol monoacetate (Agnes M. Rimando et al.; 1986).
Theo Arambewela cùng cộng sự, safrole C10H10O2 lại là thành phần chính của cây trầu không ở Sri Lanka (Arambewela L. S. R. et al.; 2011). Ngoài ra lá cũng chứa eugenol, chavicol và caryophyllene.
Nghiên cứu trên thân cây Piper betle, Yan Yin và cộng sự (2009), chín hợp chất được phân lập từ các phân đoạn hòa tan trong este dầu hỏa và etyl axetat của chiết xuất axeton 70% và cấu trúc của chúng được xác định là 6 β-hydroxystigmast-4-en-3-one (1), β-sitosterol (2), stigmasterol (3), oleanolic acid (4), 23-hydroxyursan-12-en-28-oic acid (5), β-sitosterol-3-O- β-D-glucoside-6′-O-palmitate (6), β-daucosterol (7), (2S)-4′-hydroxy- 2,3-dihydroflavonone-7-O- β-D-glucoside (8) và alpha-ethyl glucoside (9) (Yan Yin et al.; 2009).
Đồng nghiên cứu, theo Xiangzhong Huang và đồng sự (2010), từ các phân đoạn hòa tan trong etyl axetat của chiết xuất acetone 70%, mười hợp chất đã được phân lập và xác định là piperine (1), pellitorine (2), N-isobutyl-2E,4E-dodecadienamide (3), dehydropipernonaline (4), piperdardine (5), piperolein-B (6), guineensine (7), (2E,4E)-N-isobutyl-7-(3′,4′-methylenedioxyphenyl)-2,4-heptadienamide (8), syringaresinol-O-beta-D-glucopyranoside (9), pinoresinol (10) (Xiangzhong Huang et al.; 2010).
Yu-Jen Wu và cộng sự (2020) đã nghiên cứu về (+)-bornyl p-coumarate được chiết xuất từ thân cây Piper betle gây ra quá trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis) và tự thực (autophagy) trong tế bào u hắc tố (melanoma cell) (Yu-Jen Wu et al.; 2020).
Theo nghiên cứu của Ghosh và Bhattacharya (2005), rễ chứa aristololactam A-II và một phenylpropene mới, đặc trưng là 4-allyl resorcinol và một diketosteroid là stigmast-4-en-3,6-dione (K. Ghosh et al.; 2005).
3. Tác dụng dược lý
Trầu không – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Ít có tài liệu nghiên cứu. Năm 1956, Bộ môn ký sinh Trường Đại học Y dược Hà Nội có nghiên cứu thấy trầu không có tác dụng kháng sinh rất mạnh đối với các loại vi trùng: Staphylococcus sp. (tụ cầu), Bacillus subtilis và Escherichia coli (Y học tạp chí số 4, tháng 11/1956).
Năm 1961, Phòng Đông y thực nghiệm thuộc Viện Vi trùng học cũng thí nghiệm lại và cũng xác định tính chất kháng sinh bay hơi của lá trầu không.
Một số bệnh viện của ta đã dùng cao nước trầu không thí nghiệm điều trị bệnh viêm cận răng (paradentose) có kết quả.
Trầu không – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cao lá và tinh dầu trầu không có hoạt tính ức chế in vitro các chủng vi khuẩn: tụ cầu vàng, phế cầu, Staphylococcus albus, Bacillus subtilis, B. anthracis, liên cầu tan máu, Escherichia coli, Salmonella typhi, phẩy khuẩn tả, Shigella flexneri, Sh. shigae, Proteus vulgaris, Sarcina lutea và Erwinia carotovora, các chủng nấm: Candida albicans, C. stellatoides, Aspergillus niger, A. flavus, A. oryzae, Curvularia lunata, Fusarium oxysporum và Rhizopus cuns. Hoạt tính diệt nấm có thể so sánh với resorcinol. Nước cất lá có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao in vitro trong thử nghiệm pha loãng với nồng độ ức chế thấp nhất 1:5000.
Trầu không có tác dụng kháng Entamoeba histolytica phân lập từ bệnh phẩm. Tinh dầu diệt động vật nguyên sinh Paramecium caudatum với độ pha loãng đến 1:10.000. Trầu không có tác dụng diệt nấm mạnh đối với 24 chủng Trichophyton rubrum, 3 chủng T. mentagrophytes, 3 chủng T. tonsurans, 1 chủng T. verrucosum, 4 chủng Microsporum canis, 2 chủng M. gypseum và 2 chủng Epidermophyton floccosum.
Trầu không có tác dụng chống co thắt trên mô cơ trơn, ức chế sự tăng quá mức của nhu động ruột, gây trung tiện, có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương ở động vật có vú. Liều chết có tác dụng gây mê sâu và gây chết sau vài giờ. Trầu không đã được đánh giá về tác dụng làm giảm trạng thái căng thẳng về thần kinh ở người và có tác dụng tốt trên bệnh nhân hen phế quản.
Piperbetol, methylpiperbetol, piperol A và piperol B, phân lập từ trầu không, ức chế đặc hiệu sự kết tập tiểu cầu thỏ gây bởi yếu tố hoạt hóa tiểu cầu một cách phụ thuộc vào nồng độ. Liều ức chế IC50 của các chất trên và ginkgolide B vào khoảng 18,2; 10,6; 114,2; 11,8 và 4,8 µmol/lít, tương ứng. Hoạt lực ức chế của ginkgolide B bằng khoảng 2,8; 1,2; 22,8 và 1,4 lần lớn hơn của piperbetol, methylpiperbetol, piperol A và piperol B. Các kết quả nghiên cứu cho thấy piperbetol, methylpiperbetol, piperol A và piperol B là những chất đối kháng với thụ thể của yếu tố hoạt hóa tiểu cầu in vitro.
Cao cồn cuống lá trầu không cho chuột cống trắng cái uống 4 liều khác nhau (250 – 1000 mg/kg/ngày), trong những ngày 1 – 10 sau khi giao hợp, có tác dụng chống làm tổ phụ thuộc vào liều. Với liều uống 1g/kg, tỷ lệ ức chế làm tổ 90%. Tác dụng chống làm tổ do hoạt tính kháng steroid của cao trầu không. Đồng thời trọng lượng tử cung giảm, và cùng với tác dụng chống làm tổ, có thể trầu không tác động đến sự tiết hoặc việc sử dụng progesteron. Cao cồn cuống lá trầu không được cho chuột cống trắng đực uống với liều 800 – 1500 mg/kg, và cho chuột nhắt trắng đực uống với liều 50 – 100 mg/kg trong 60 ngày liên tục để nghiên cứu về tác dụng trên khả năng sinh sản và những thông số về hormone nam tính khác trên các cơ quan sinh sản nam. Những kết quả nghiên cứu gợi ý về tác dụng ức chế sự sinh tinh trùng hoặc kháng androgen của trầu không ở chuột.
Trong thử nghiệm về tác dụng gây biến trạng gen gián phân, sự trao đổi chéo, và đột biến ngược trên những chủng lưỡng bội của Saccharomyces cerevisiae cho thấy cao nước lá trầu không không gây sự đột biến ở men khi không có sự hoạt hóa chuyển hóa, không làm tăng tần suất những thể biến trạng, thể tái hợp và thể đột biến ngược, không gây chết tế bào và không ức chế sự phân chia tế bào. Việc đánh giá hàm lượng DNA ở nhân các tế bào tuyến ở da dày chuột nhắt trắng in situ bằng phương pháp đo quang tế bào cho thấy sự biến đổi có ý nghĩa của hàm lượng trung bình DNA sau thời gian dài (6 – 10 tháng) nhai lá trầu không với hạt cau và vôi tôi.
Cao nước lá trầu không chế thành thuốc mỡ có tác dụng làm vết thương ở thỏ chóng lành do thúc đẩy nhanh sự co và sự biểu mô hóa vết thương, ít ảnh hưởng đến sự tạo mô hạt. Mỡ trầu không chứa 1% cao trầu không đã được áp dụng cho 18 bệnh nhân bỏng vôi từ độ hai tới độ ba. Kết quả 7 bệnh nhân bỏng 6 – 18% khỏi sau 10 – 15 ngày, 7 bệnh nhân bỏng 10 – 40% khỏi sau 25 – 38 ngày, 4 bệnh nhân bỏng 25 – 46% khỏi sau 54 – 124 ngày. Mỡ trầu không 1% có tác dụng tốt trị bỏng độ hai nông và sâu, và có tác dụng hạn chế đối với bỏng độ ba. Dùng uống, trầu không làm giảm sốt ở một số bệnh nhân bỏng. Thuốc đắp không gây xót và phản ứng phụ khác.
Tinh dầu trầu không có tác dụng kích ứng trên da và niêm mạc, và gây phản ứng viêm khi tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Lá trầu không có tác dụng chống oxy hóa; đun nóng với dầu, mỡ, bơ, ngăn chặn được sự ôi khét. Tác dụng này do phenol, đặc biệt là hydroxy-chavicol có trong trầu không.
Ảnh hưởng về mô bệnh học của việc nhai lá trầu không, hạt cau, với thuốc lá đã được nghiên cứu trên chuột nhắt trắng với mô hình niêm mạc tuyến dạ dày. Cho chuột uống liên tục trong 5 tháng cao chiết từ thuốc lá với lá trầu không, hạt cau và vôi với liều thường dùng của người nghiện nhai trầu, nhận thấy có hiện tượng dị sản ruột rõ rệt ở tất cả chuột. Tác dụng này chủ yếu do thuốc lá; trầu không và vôi có tác dụng bảo vệ làm giảm hiện tượng dị sản và loạn sản do thuốc lá. Các kết quả thí nghiệm làm sáng tỏ nguyên nhân của hiện tượng người nhai trầu thường xuyên với thuốc lá khối lượng lớn dễ mắc bệnh ung thư.
Công dụng và liều dùng trầu không
Trầu không – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Ngoài công dụng dùng để ăn trầu (lá trầu không, vôi, cau và vỏ cây), nhân dân nhiều nơi còn dùng lá trầu không giã nhỏ, cho thêm nước sôi vào rồi dùng rửa những vết loét, mẩn ngứa, viêm mạch bạch huyết. Nước pha lá trầu không còn được dùng làm thuốc nhỏ mắt chữa viêm kết mạc, chữa bệnh chàm mặt của trẻ em. Ít dùng trong. Chỉ hay dùng ngoài, liều lượng tùy tiện. Có nơi còn giã lá trầu không đắp lên ngực để chữa ho và hen, hoặc đắp lên vú để cho sữa không ra nữa.
Đơn thuốc có trầu không:
Chúng ta giới thiệu sau đây đơn thuốc dùng lá trầu không để chữa các vết lở loét, mụn nhọt, vết chàm của trẻ em mới đẻ (Đỗ Tất Lợi). Lá trầu không tươi: 2 hoặc 3 lá, cắt thật nhỏ, cho vào một cốc con. Dội nước sôi vào cho ngập lá trầu không. Làm như khi ta pha chè. Đợi chừng 10 – 15 phút cho chất thuốc trong lá trầu thôi ra nước. Dùng nước này rửa các vết loét, vết chàm, mụn nhọt.
Ngày làm như vậy 2 hoặc 3 lần, nếu vết loét rửa bằng lá trầu không, còn có nước vàng rỉ ra thì có thể dùng giấy bản đốt lấy tro mà đắp vào. Rất chóng khỏi.
Nếu vết loét quá to, thì có thể dùng số lượng lá trầu không nhiều hơn.
Đáng lẽ pha thuốc như trên, ta có thể đem lá trầu không đun với nước cho sôi kỹ để ấm mà dùng.
Địa chỉ bán cây trầu không tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống trầu không phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Trầu không – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Trầu không – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Agnes M. Rimando, Byung Hoon Han, Jeong Hill Park & Magdalena C. Cantoria (1986). “Studies on the constituents of philippine Piper betle leaves”. Archives of Pharmacal Research. 9(2): 93 – 97.
- Arambewela L. S. R., Arawwawala L. D. A. M., Kumaratunga K. G, Dissanayake D. S, Ratnasooriya W. D., Kumarasingha S. P. (2011). “Investigations on Piper betle grown in Sri Lanka”. Pharmacognosy Reviews. 5(10): 159 – 163.
- Yan Yin, Xiang-Zhong Huang, Jiong Wang, Jian-Hui Dai, Hui Liang, Yun Dai (2009). “[Studies on the chemical constituents of the stems of Piper betle]”. Zhong Yao Cai. 32(6): 887 – 90.
- Xiangzhong Huang, Yan Yin, Wenquan Huang, Kuizong Sun, Chunmei Cheng, Lian Bai, Yun Dai (2010). “[Alkaloids and lignans from stems of Piper betle]”. Zhongguo Zhong Yao Za Zhi. 35(17): 2285 – 8.
- Yu-Jen Wu, Tzu-Rong Su, Chi-I Chang, Chiy-Rong Chen, Kuo-Feng Hung, Cheng Liu (2020). “(+)-bornyl p-coumarate extracted from stem of Piper betle induced apoptosis and autophagy in melanoma cells”. International Journal of Molecular Sciences. 21(10): 3737.
- K. Ghosh, T. K. Bhattacharya (2005). “Chemical Constituents of Piper betle Linn. (Piperaceae) roots”. Molecules (Basel, Switzerland). 10(7): 798 – 802.
Tìm kiếm liên quan
- Hình ảnh lá trầu không
- Uống nước la trầu không có hại không
- La trầu không tươi
- Tác dụng la trầu không
- Cao trầu không
- Lá trầu không và muối có tác dụng gì
- La trầu không ăn được không













