Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Một số loại bồ công anh
Tham khảo “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS.TS Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây bồ công anh Việt Nam có tên khoa học là Lactuca indica L. thuộc họ Cúc (Asteraceae). Chữ “Việt Nam” là chúng tôi mới thêm để tránh nhầm lẫn. Cây này được dùng phổ biến, nhất là tại phía Bắc và phía bắc Trung Bộ.
Cây bồ công anh Trung Quốc Taraxacum officinale F.H.Wigg. cũng họ Cúc (Asteraceae). Chữ “Trung Quốc” chúng tôi cũng mới thêm vào để chỉ rõ rằng tên bồ công anh ghi trong các sách Trung Quốc là cây này. Cây này có mọc hoang và được trồng ở một vài nơi trong nước ta, nhất là tại các miền núi cao như Tam Đảo, Sapa. Tuy nhiên ta hầu như không dùng loại này.
Cây chỉ thiên Elephantopus scaber L. cũng thuộc họ Cúc (Asteraceae). Cây này được một số anh em miền Nam nước ta dùng với tên bồ công anh. Điều đáng chú ý là tại một vài nơi ở miền nam Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây) người ta cũng gọi cây chỉ thiên này là bồ công anh và dùng như cây bồ công anh Trung Quốc.
Mô tả cây bồ công anh Việt Nam
Cây bồ công anh Việt Nam hay diếp dại, diếp hoang, diếp trời, bồ cóc, bồ công anh mũi mác, mót mét, mũi mác, rau mũi cày, tên tiếng Anh là Indian lettuce (danh pháp khoa học là Lactuca indica L.) là một loài thực vật thuộc họ Cúc Asteraceae.






Bồ công anh Việt Nam – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Bồ công anh là một cây nhỏ, cao 0,6 – 1m, có thể cao tới 3m. Thân mọc thẳng, nhẵn, không cành hoặc rất ít cành. Lá có nhiều hình dạng; lá phía dưới dài 30cm, rộng 5 – 6cm, gần như không cuống, chia thành nhiều thùy hay răng cưa to thô, lá phía trên ngắn hơn, nguyên chứ không chia thùy, mép có răng cưa thưa. Bấm lá và thân đều thấy tiết ra nhũ dịch màu trắng đục như sữa, vị hơi đắng. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, có loại tím.
Có người gọi cây hoa vàng là hoàng hoa địa đinh và loại hoa tím là tử hoa địa đinh (tử là màu tím). Cả hai loại đều được dùng làm thuốc.
Bồ công anh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, mọc đứng, sống một năm hay hai năm. Thân nhẫn, thẳng, cao 0,50 – 1m, có khi đến 2m, ít phân cành, đôi khi có những đốm tía. Lá mọc so le, gần như không cuống, rất đa dạng. Những lá ở dưới thuôn dài, xẻ thùy không đều, hẹp và sâu, thùy lớn và thùy nhỏ xen kẽ nhau, mép có răng cưa, gốc tù, đầu nhọn; các lá ở giữa và ở trên ngắn và hẹp hơn, có ít răng hoặc hoàn toàn nguyên.
Cụm hoa là một đầu, tụ họp thành chùy dài 20 – 40cm, mọc ở ngọc thân và kẽ lá, phân nhánh nhiều, mỗi nhánh mang 2 – 5 đầu; tổng bao hình trụ, mỗi đầu có 8 – 10 hoa màu vàng hoặc vàng nhạt, tràng hoa có lưỡi dài, ống mảnh, nhị 5, bao phấn có đỉnh rất tròn, tai hình dùi; vòi nhụy có gai. Quả bế, màu đen, có mào lông trắng nhạt. 2 cạnh có cánh, 2 cạnh khác giảm thành một đường lối. Thân và lá khi bẩm có nhưa màu trắng chảy ra. Mùa hoa: tháng 6 – 7; mùa quả: tháng 8 – 9.
Cây dễ nhầm lẫn:
Bồ công anh hoa tím Cichorium intybus L., wild endive (Anh), chicorée (Pháp). Cây nhập trồng, có nguồn gốc ở vùng Địa Trung Hải.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Bồ công anh Việt Nam – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Bồ công anh mọc hoang tại nhiều tỉnh miền bắc nước ta; ít thấy trồng. Việc trồng rất dễ dàng bằng hạt. Mùa trồng vào các tháng 3 – 4 hoặc 9 – 10. Có thể trồng bằng mẩu gốc, sau 4 tháng có thể bắt đầu thu hoạch.
Thường nhân dân ta dùng lá, lá hái về dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô dùng dần. Thường hay dùng tươi. Không phải chế biến gì đặc biệt.
Một số người hái cả cây, cả rễ cắt nhỏ phơi khô để dùng.
Bồ công anh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lactuca L. là một chi tương đối lớn, gồm những cây sống một năm, vài loài sống nhiều năm, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Bắc bán cầu. Ở Ấn Độ, có khoảng 25 loài, Việt Nam cũng có hơn 10 loài, trong đó, bồ công anh có lẽ là loài phân bố phổ biến nhất, ở hầu hết các tỉnh từ miền núi đến đồng bằng. Độ cao phân bố thường không quá 1500m. Cây cũng gặp ở nhiều nước khác như Trung Quốc, Lào, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines va Indonesia.
Bồ công anh là cây ưa ẩm và ưa sáng, thường mọc trên những nơi đất tương đối màu mỡ, nhất là các bãi bồi ven sông, vườn bỏ hoang hoặc nương rẫy. Hàng năm, cây con mọc từ hạt thường xuất hiện vào cuối mùa xuân. Cây sinh trưởng nhanh trong mùa hè, ra hoa quả vào đầu mùa thu và sau đó tàn lụi. Hạt giống có túm lông ở đỉnh, nhờ gió phát tán đi khắp nơi. Vài năm trở lại đây, nhiều cơ sở chữa bệnh bằng y học dân tộc đã trồng thêm cây thuốc này.
2. Cách trồng
Bồ công anh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Bồ công anh ưa ẩm ướt, không kén đất, có khả năng thích nghi rộng, được trồng phổ biến ở các vườn cây thuốc của các trạm xá, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu để hướng dẫn học tập và khai thác sử dụng khi cần thiết.
Bồ công anh được nhân giống khá dễ dàng bằng hạt. Trong tự nhiên, hạt phát tán theo gió, theo nước rồi nằm dưới đất, đến mùa xuân năm sau thì nảy mầm và phát triển thành cây. Để gieo trồng, vào tháng 8 – 9, người ta thu lấy những quả chín đem về phơi khô để làm giống. Quả bồ công anh có rất nhiều hạt, tỷ lệ nảy mẩm đạt khá cao (80 – 90%), thời gian này mầm nhanh nên thường gieo thẳng, không qua vườn ươm.
Đất trồng bồ công anh cần chọn đất không bị úng ngập, không có nhiều sỏi đá hoặc khô hạn quanh năm. Sau khi cày, bừa, đập nhỏ, lên thành luống cao 15 – 20cm, rộng 1 – 1,2m, có thể đánh rạch hoặc gieo vãi rồi tỉa định cây với khoảng cách 20 x 20cm. Chưa có nghiên cứu về chế độ phân bón, nhưng theo kinh nghiệm, có thể dùng phân chuồng (10 – 15 tấn/ha) bón lót, nước phân chuồng, nước phân bắc, nước giải hoặc đạm hòa loãng để bón thúc. Ruộng bồ công anh cần được làm cỏ và giữ ẩm thường xuyên. Ít thấy sâu bệnh hại.
3. Thành phần hóa học
Bồ công anh Việt Nam – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu về cây Lactuca indica L. của ta. Theo những tài liệu nước ngoài, tại một số nước người ta có sử dụng và nghiên cứu một số loài Lactuca khác như Lactuca virosa, Lactuca sativa L. (rau diếp của ta ăn) thấy trong có lactuxerin là một este axetic của hai thứ rượu nhị no lactuxerola α và lactuxerola β. Ngoài ra còn 3 chất đắng có tên axit lacturic, lactucopicrin và lactucin. Lactucopicrin là một hợp chất tự nhiên thuộc nhóm sesquiterpene lactone hydroxyphenylaxetic của lactuxin.
Bồ công anh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Bộ công anh chứa 91,8% nước, 3,4% protid, 1,1% glucid, 2,9% xơ, 1,2% tro, 3,4mg carotene; 2,5mg vitamin C, 2 chất đắng chính là lactucin và lactucopicrin. Ngoài ra, còn có β-amyrin, taraxasterol, germanicol.
4. Tác dụng dược lý
Bồ công anh Việt Nam – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Theo sự nghiên cứu của nước ngoài, những loại Lactuca nói trên không có độc, có tính chất gây ngủ nhẹ. Nhưng tại những nước này người ta không dùng lá như ở ta, mà dùng chất nhựa mủ phơi khô đen lại như nhựa thuốc phiện để dùng làm thuốc chữa ho trẻ con và dùng chữa cho trẻ con mất ngủ.
Cây Lactuca indica L. của ta chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
Bồ công anh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Bồ công anh được thử nghiệm với phương pháp lồng cử động đã thể hiện tác dụng an thần.
Flavonoid của bồ công anh đã được nghiên cứu tác dụng sinh học thấy có tác dụng ức chế men oxy hóa khử peroxydase và catalase máu chuột cống trắng. Những thí nghiệm tiến hành với huyết thanh người cũng cho những kết quả ức chế men oxy hóa khử rõ rệt.
Theo tài liệu nước ngoài, tại một số nước, người ta có sử dụng và nghiên cứu những loài Lactuca khác như L. virosa, L. sativa (rau diếp ăn), thấy những cây này không độc và có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương gây ngủ nhẹ.

Công dụng và liều dùng cây bồ công anh
Bồ công anh có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, thanh nhiệt, tán kết.
Bồ công anh được dùng điều trị tỳ vị có hoả uất, sưng vú, áp xe, tràng nhạc, mụn nhọt. Ngày dùng 20 – 40g cây tươi ép lấy nước hoặc 8 – 30g cây khô sắc uống. Thường phối hợp với các vị thuốc khác. Đắp ngoài trị ung nhọt. Có trường hợp dùng uống để điều trị bệnh đau dạ dày, ăn uống kém tiêu.
Kiêng kỵ: Trong các trường hợp âm hư hoặc tràng nhạc, ung nhọt đã vỡ mủ, khi dùng bồ công anh nên thận trọng.
Bài thuốc có bồ công anh:
Thuốc tiêu độc chữa sưng vú, mụn nhọt: Bồ công anh (12g), ké đầu ngựa (12g), vòi voi (12g), liên kiều (12g), kim ngân hoa (10)g), kinh giới (10g), hạ khô thảo (10g), cỏ mần trầu (10g). Tất cả phơi khô, thái nhỏ, sắc với 400 ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày (kinh nghiệm của bệnh viện Hưng Yên – Hải Hưng).
Chữa đau dạ dày: Lá bồ công anh khô (20g), lá khôi (15g), lá khổ sâm (10g), nước (300ml). Đun sôi trong vòng 15 phút, thêm đường, chia làm 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong vòng 10 ngày. Nghỉ 3 ngày rồi lại tiếp tục cho đến khi khỏi.
Chữa mụn nhọt, làm nhọt chóng chín và vỡ mủ: Lá bồ công anh tươi phối hợp với lá phù dung, rễ vông vang hoặc rễ gai, giã đắp.
Vậy mua cây bồ công anh ở đâu uy tín?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây bồ công anh phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Bồ công anh – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Bồ công anh – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.








