Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
♥️: Đã kiểm tra chính tả
💕: Đã kiểm tra nguồn tham khảo
Cây mận lý hay roi hoa vàng, doi hoa vàng, gioi hoa vàng, mận hoa vàng, tên tiếng Anh là rose apple (danh pháp khoa học là Syzygium jambos (L.) Alston), là một loài thực vật có hoa trong họ Đào kim nương Myrtaceae, có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Tên tiếng Anh rose apple là do vị của quả cây này rất thơm và khi ăn, bạn sẽ cảm nhận được hương vị hoa hồng trong nó.





Mô tả cây mận lý
Cây gỗ nhỡ, cao 5 – 10 m. Cành non hơi vuông, dẹp. Lá có phiến to, hơi thơm, đáy lá tròn hay hơi hình tim. Hoa mọc thành chùm tụ tán ở nách lá hay cành non. Hoa có cánh màu vàng ngà, mau rụng, với vô số nhị màu vàng; bầu nhụy hạ, vòi nhụy xanh dài. Quả mọng hình chuông có màu vàng, đỏ, trắng hay hồng, ăn giòn, ngọt, bên trong có 1 – 3 hạt nhỏ màu nâu.
Cây ra hoa vào mùa xuân, tạo quả vào mùa hè. Cũng có giống ra hoa 2 lần trong năm vào mùa xuân và mùa thu. Cây được trồng phổ biến ở khắp Việt Nam. Hiện nay, nhờ lai tạo, nhiều giống cho quả quanh năm, có màu đẹp.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mận lý được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Mỹ, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia và nhiều quốc gia khác. Ở Việt Nam, cây thường được trồng chủ yếu ở các vùng miền Tây. Thu hái toàn bộ cây, đặc biệt là phần quả. Quả được thu hoạch khoảng tháng 12 đến tháng 3 âm lịch trong năm.
2. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Lá cây Lý Syzygium jambos được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh về tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa, lợi tiểu, hạ sốt và các bệnh về phổi. Trong nghiên cứu này, lá cây Lý được thu hái tại Kiên Giang. Cao tổng ethanol được chiết phân đoạn lần lượt với dung môi n-nexane và ethyl acetate. Bằng phương pháp sắc ký cột đã phân lập được 4 hợp chất gồm stigmasterol (1), 2-phenyl-4H-chromen-4-one (2), chavicol β-D-glucopyranoside (3), rutin (4). Cấu trúc các hợp chất được xác định dựa trên phân tích phổ NMR và so sánh với các dữ liệu trong tài liệu tham khảo. Hợp chất (2) và (3) lần đầu tiên được phân lập từ loài thực vật này (Huỳnh Kim Yến cùng cộng sự; 2023).
Melvin Adhiambo Ochieng cùng cộng sự (2022) đã tổng hợp nghiên cứu từ các tác giả trước đó:
– Hai diglycoside flavonol được phân lập từ lá của cây Eugenia jambos đã được xác định cấu trúc là quercetin và myricetin 3-O-β-D-xylopyranosyl-(1→2)-α-L-rhamnopyranoside thông qua các phân tích quang phổ sử dụng kỹ thuật NMR 2D và các thí nghiệm NOE (Karla Slowing et al.; 1994).
– Nghiên cứu hoạt tính chống gốc tự do, hàm lượng phenolic tổng số (total phenolic content, TPC) và hàm lượng anthocyanin tổng số (total anthocyanin content, TAC) của 14 loại quả thuộc họ Myrtaceae chưa được khai thác tiềm năng, bao gồm: Eugenia aggregata, E. brasiliensis, E. luschnathiana, E. reinwardtiana, Myrciaria cauliflora (nho thân gỗ), M. dubia, M. vexator, Syzygium cumini, S. curranii, S. jambos, S. javanicum, S. malaccense, S. samarangense (mận An Phước/mận chuông), và S. samarangense var. Taiwan pink. Phương pháp HPLC-PDA đã được phát triển để định lượng các chất cyanidin 3-glucoside (1), delphinidin 3-glucoside (2), acid ellagic (3), kaempferol (4), myricetin (5), quercetin (6), quercitrin (7) và rutin (8) có trong dịch chiết MeOH của quả. Hàm lượng TPC dao động từ 3,57 đến 101 mg/g, TAC dao động từ không phát hiện được đến 12,1 mg/g, và hoạt tính chống gốc tự do (đo bằng chỉ số DPPH˙ IC50) dao động từ rất mạnh (19,4 μg/ml) đến không có hoạt tính (389 μg/ml) (Kurt A. Reynertson etal.; 2008).
– Gabriela Bonfanti cùng cộng sự (2013) đã khảo sát ảnh hưởng của dịch chiết lá bằng nước từ cả hai loài thực vật đối với hoạt tính của enzyme δ-aminolevulinate dehydratase (δ-ALA-D) và acetylcholinesterase (AChE), cũng như tác dụng chống oxy hóa chống lại tổn thương oxy hóa do sodium nitroprusside gây ra ở chuột, thông qua các thử nghiệm in vitro. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện sự hiện diện của các hợp chất hoạt tính sinh học trong dịch chiết bao gồm acid gallic, acid caffeic, acid chlorogenic, cùng với rutin, quercetin và kaempferol thông qua phương pháp HPLC và định lượng hàm lượng của chúng.
– Hemayet Hossain cùng cộng sự (2016) đã phân tích hồ sơ các hợp chất phenolic bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), đồng thời đánh giá hoạt tính chống oxy hóa và chống viêm của dịch chiết ethanol từ loài S. jambos hiện có tại Bangladesh. Dịch chiết được phân tích bằng HPLC để xác định và định lượng các polyphenol có hoạt tính sinh học chính trong S. jambos. Hoạt tính chống oxy hóa được xác định thông qua các phép thử khử gốc tự do ABTS (2,2′-azino-bis(3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid)), khả năng khử, tổng năng lực chống oxy hóa, hàm lượng phenolic tổng số và flavonoid tổng số. Ngoài ra, tác dụng chống viêm của dịch chiết cũng được khảo sát trên chuột bằng hai mô hình gây phù bàn chân: gây viêm bằng carrageenan và bằng histamine. Phân tích HPLC cho thấy hàm lượng cao của catechin hydrate và rutin hydrate (lần lượt là 99,00 và 79,20 mg/100 g dịch chiết) cùng hàm lượng trung bình acid ellagic và quercetin (lần lượt là 59,40 và 69,30 mg/100 g dịch chiết). Trong phép thử loại bỏ gốc tự do ABTS, giá trị IC50 của S. jambos là 57,80 µg/ml, có ý nghĩa so với acid ascorbic (12,01 µg/ml). Trong phép thử khả năng khử, độ hấp thụ cực đại đạt 0,4934. Tổng năng lực chống oxy hóa, hàm lượng phenolic tổng và flavonoid tổng số được xác định lần lượt là 628,50 mg/g tương đương acid ascorbic, 230,82 mg/g tương đương acid gallic và 11,84 mg/g tương đương quercetin. Ở liều 400 mg/kg, hoạt tính chống viêm cấp tính đáng kể (P < 0,01) trên cả hai mô hình thí nghiệm gây phù bàn chân chuột. Kết quả cho thấy thể tích phù bàn chân giảm 58,04% và 53,95%, so với thuốc đối chứng indomethacin có mức giảm tương ứng là 62,94% và 65,79%.
– Từ dịch chiết n-butanol của cây S. jambos (họ Myrtaceae) đã phân lập được tổng cộng 8 hợp chất, được xác định là quercetin 3-O-rutinoside (1), prenylbenzoic acid 4-β-D-glucoside (2), morolic acid 3-O-caffeate (3), 5,4’-dihydroxy-7-methoxy-6-methyl-flavone (4), acid 3,4,5-trihydroxybenzoic (5), quercetin (6), isoetin-7-O-β-D-glucopyranoside (7) và (4’-hydroxy-3’-methoxyphenol-β-D-[6-O-(4”-hydroxy-3”,5”-dimethoxylbenzoate)] glucopyranoside) (8). Hợp chất 5 và 6 cho thấy khả năng khử gốc tự do mạnh nhất với giá trị SC50 lần lượt là 5,50 và 4,30 µg/ml, so với acid ascorbic được sử dụng làm chất chuẩn (Mosad Ahmed Ghareeb et al.; 2017).
– M. A. Nawwar cùng cộng sự (2016) đã phân lập được 8 hợp chất polyphenol đã biết cùng 3 flavonol-O-glycoside mới từ dịch chiết lá của Eugenia jambos L., cụ thể là gallic acid (1), quercetin 3-O-xylosyl-(1→2)-xyloside (2), quercetin 3-O-xylosyl-(1→2)-rhamnoside (3), quercetin 3-O-glucuronide (4), myricetin 3-O-xylosyl-(1→2)-rhamnoside (5), myricetin 3-O-glucoside (6), myricetin 7-methylether-3-O-xylosyl-(1→2)-rhamnoside (7), myricetin 3’,5’-dimethylether-3-O-xylosyl-(1→2)-rhamnoside (8), myricetin 3’,5’-dimethylether-3-O-rhamnoside (9), 1,2,3-tri-O-galloyl-β-glucose (10), ellagic acid (11). Các hợp chất 2, 7, 8 sau đó được xác định lại là quercetin 3-O-β-xylopyranosyl-(1→2)-O-β-xylopyranoside (2), europetin 3-O-β-xylopyranosylsyl-(1→2)-O-α-rhamnopyranoside (7), syringetin 3-O-β-xylopyranosyl-(1→2)-O-α-rhamnopyranoside (8).
– Nghiên cứu chuyên sâu đối với chiết xuất dichloromethane từ lá loài Syzygium jambos đã phân lập được ba hợp chất dihydrochalcone gồm phloretin 4′-O-methyl ether (2′,6′-dihydroxy-4′-methoxydihydrochalcone) (1), myrigalone G (2′,6′-dihydroxy-4′-methoxy-3′-methyldihydrochalcone) (2) và myrigalone B (2′,6′-dihydroxy-4′-methoxy-3,5′-dimethyldihydrochalcone) (3) (Lalith Jayasinghe et al.; 2007).
– Guo-Qiang Li cùng đồng sự (2015) đã phân lập được bảy dẫn xuất phloroglucinol mới (1 – 7) từ quả loài Syzygium jambos, cùng với bốn triterpenoid (8 – 11) và hai flavon đã biết (12 và 13), cụ thể là jambone A (1), jambone B (2), jambone C (3), jambone D (4), jambone E (5), jambone F (6), jambone G (7), oleanolic acid (8), betulinic acid (9),13β-O-trans-p-coumaroylalphitolic acid (10), 3β-O-cis-p-coumaroylalphitolic acid (11), 5,7-dihydroxy-6,8-dimethyl-4′-methoxyflavone (12) và 6-desmethyl-sideroxylin (13).
– Từ dịch chiết ethyl acetat (EtOAc) từ vỏ thân cây Syzygium jambos (L.) Alston đã phân lập được một số triterpene đã biết như friedelin, β-amyrin acetate, acid betulinic và lupeol (Jules-Roger Kuiate et al.; 2007).
– Dịch chiết methanol từ vỏ thân khô của Syzygium jambos được đem đi cô đặc, sau đó được phân đoạn bằng sắc ký lỏng chân không (vacuum liquid chromatography – VLC). Nghiên cứu ban đầu cho thấy phân đoạn VLC số 6 chứa một pentacyclic triterpene là friedelin (SJ-61), phân đoạn VLC số 9 chứa một sitosterol là β-sitosterol (SJ-92) và phân đoạn VLC số 16 chứa một dẫn xuất triterpene 3-nor-2,3-fridelan rất có thể là dẫn xuất 3-của acid nor-2,4-secofriedelan-4-oxo-2-oic (SJ-184) (Majidul Haque et al.; 2015).
– Mười hai hợp chất đã được phân lập từ các dịch chiết ethyl acetat (EtOAc) và methanol (MeOH) từ thân cây S. jambos gồm acid alphitolic (1), urolithin A (2), dibutyl phthalate (3), acid betulinic (4), acid ursolic (5), 1-(4-methoxyphenyl)-1,2-propanediol (6), 2,6-dimethoxy-1,4-benzoquinone (7), diisobutyl phthalate (8), β-sitosterol (9), 3-acetyl-ursolic acid (10), acid asiatic acid (11) và acid arjunolic (12). Các hợp chất được thử nghiệm gồm 1, 7, 10 và hỗn hợp 11 + 12 không biểu hiện hoạt tính gây độc tế bào đối với dòng tế bào ung thư gan ở người Huh-7 trong khoảng nồng độ khảo sát lên đến 50 μmol/L (Lin Dadu et al.; 2014).
– Từ dịch chiết acetone 70% từ loài Syzygium jambos, hai tanin thủy phân được là 1-O-galloyl castalagin và casuarinin đã được phân lập (Ling-Ling Yang et al.; 2000).
– Từ dịch chiết methanol của lá S. jambos đã phân lập thành công các dẫn xuất của acid ellagic gồm 3,3′,4′-tri-O-methylellagic acid và 3,3′,4′-tri-O-methylellagic acid-4-O-β-d-glucopyranoside (Ajit Kumar Chakravarty et al.; 1998).
– Phân tích dịch chiết lá Syzygium jambos bằng phương pháp HPLC-PDA-MS/MS đã xác định được 17 chất chuyển hóa thứ cấp, bao gồm các flavonol glycoside, flavonol diglycoside, flavone, cùng với ellagitannin và các acid phenolic. Cụ thể là acid malic (1), acid citric (2), hexahydroxydiphenoyl-hexoside (3), đồng phân castalagin/vescalagin (4), galloyl-hexahydroxydiphenoyl-dehydrohexahydroxydiphenoyl-hexoside (5), bis-hexahydroxydiphenoyl-hexoside (6), đồng phân castalagin/vescalagin (7), galloyl-hexahydroxydiphenoyl-dehydrohexahydroxydiphenoyl-hexoside (8), bis-hexahydroxydiphenoyl-hexoside (9), galloyl-bis-hexahydroxydiphenoyl-hexoside (casuarinin) (10), ellagic acid pentoside (11), ellagic acid rhamnoside (12), acid ellagic (13), myricetin rhamnoside (14), myricetin 3-O-xylosyl-(1→2)-rhamnoside (15), rosmarinic acid rhamnoside (16), quercetin 3-O-xylosyl-(1→2)-rhamnoside (17) (Mansour Sobeh et al.; 2018).
– Phân tích HPLC-MS/MS đối với dịch chiết nước từ vỏ cây Syzygium jambos sơ bộ thu được 10 hợp chất trong đó có 1 hợp chất chưa xác định được, cụ thể là hexahydroxydiphenoyl-hexoside (1), bis-hexahydroxydiphenoyl-hexoside (2), phyllanthusiin G (3), castalagin (4), đồng phân vescalagin (5), casuarinin (6), ellagic acid pentoside (7), methyl ellagic acid sulfate (8), acid ellagic (9) (Mona F. Mahmoud et al.; 2021).
– Amanda Silva Reis cùng cộng sự (2021) đã phân lập được 15 hợp chất dễ bay hơi trong tinh dầu lá S. jambos gồm 4,8-α-epoxy-caryoplyllane; β-caryoplyllane; α-humulene; β-bisabolene; (E,E)-α-farnesene; caryophyllenyl alcohol; caryolan-8-ol; trans-(IPP vs OH) sesquisabinene hydrate; viridiflorol; ledol; humulene epoxide II; epi-cedrol; epi-α-muurolol; n-heneicosane và isolongifolan-8-ol.
– Các hợp chất dễ bay hơi từ quả Syzygium jambos gồm heptane; toluene; pentadecane; methanol; ethanol; hexanal; 3-penten-2-one; 3-methylbutanol; dodecane; hexanol; (Z)-3-hexen-1-ol; tetradecane; methyl octanoate; 7-octen-4-ol; acid acetic; 2-ethylhexanol; 2-nonanol; linalool; hexadecane; 2-octen-1-ol; acid isovaleric; (E)-epoxylinalool; 2-(2-butoxyethoxy)ethanol; 2-phenylethyl acetate; acid caproic; benzyl alcohol; 2-phenylethyl alcohol; acid heptanoic; benzothiazole; (E)-cinnamaldehyde; acid caprylic; methyl-(E)-cinnamate; acid nonanoic; acid capric; (E)-cinnamyl alcohol; acid lauric; acid phenylacetic; acid cinnamic; acid tridecanoic (Clarissa M. Guedes et al.; 2004).
Công dụng và liều dùng cây mận lý
Cây mận lý có thể được trồng trước nhà hoặc trong sân vườn để tạo ra không gian xanh mát. Đặc biệt, nó có khả năng tạo bóng mát, làm cho môi trường trở nên mát mẻ và dễ chịu.
Ngoài ra, cây mận lý cũng có thể trồng trong chậu kiểng trên ban công, hành lang, hay trong nhà. Bạn cũng có thể sử dụng cây lâu năm để tạo dáng bonsai kiểng độc đáo.
Tất cả các bộ phận của cây đều được cho là có giá trị chữa bệnh. Nước sắc của lá dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa đau mắt và chữa bệnh thấp khớp. Hạt được sử dụng để điều trị bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, tiểu đường và viêm gan.
Địa chỉ bán cây mận lý uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống mận lý phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Lý (cây) (Syzygium jambos) – Wikipedia tiếng Việt.
- Huỳnh Kim Yến, Nguyễn Trọng Tuân, Nguyễn Quốc Châu Thanh và Trần Thanh Mến (2023). “Thành phần hóa học của lá cây lý (Syzygium jambos (L.)), họ sim (Myrtaceae)”. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. Tập 59, số 5A: 88 – 92.
- Melvin Adhiambo Ochieng, Widad Ben Bakrim, Gabin Thierry M Bitchagno, Mona F Mahmoud, Mansour Sobeh (2022). “Syzygium jambos L. Alston: An insight into it’s phytochemistry, traditional uses, and pharmacological properties”. 13: 786712.
- Karla Slowing, Mónica Söllhuber, Emilia Carretero, Angel Villar (1994). “Flavonoid glycosides from Eugenia Jambos“. Phytochemistry. 37(1): 255 – 258.
- Kurt A. Reynertson, Hui Yang, Bei Jiang, Margaret J. Basile, Edward J. Kennelly (2008). “Quantitative analysis of antiradical phenolic constituents from fourteen edible Myrtaceae fruits”. Food Chemistry. 109(4): 883 – 890.
- Gabriela Bonfanti, Paula Rodrigues Bitencourt, Karine Santos de Bona, Priscila Sabino da Silva, Letícia B Jantsch, Aline S Pigatto, Aline Boligon, Margareth L Athayde, Thissiane L Gonçalves, Maria Beatriz Moretto (2013). “Syzygium Jambos and Solanum Guaraniticum show similar antioxidant properties but induce different enzymatic activities in the brain of rats”. Molecules. 18(8): 9179 – 9194.
- Hemayet Hossain, Shaikh Emdadur Rahman, Proity Nayeeb Akbar, Tanzir Ahmed Khan, Md Mahfuzur Rahman, Ismet Ara Jahan (2016). “HPLC profiling, antioxidant and in vivo anti-inflammatory activity of the ethanol extract of Syzygium Jambos available in Bangladesh”. BMC Research Notes. 9: 191.
- Mosad Ahmed Ghareeb, Manal Mortady Hamed, Abdel-Aleem Hassan Abdel-Aleem, Amal Mohamed Saad, Mohamed Sayed Abdel-Aziz, Asmaa Hadad Hadad (2017). “Extraction, isolation, and characterization of bioactive compounds and essential oil from Syzygium Jambos“. Asian Journal of Pharmaceutical and Clinical Research. 10(8): 194.
- M. A. Nawwar, A. N. Hashem, S. A. Hussein, N. F. Swilam, A. Becker, B. Haertel, U. Lindequist, A. El-Khatib, M. W. Linscheid (2016). “Phenolic profiling of an extract from Eugenia jambos L. (Alston) – the structure of three flavonoid glycosides – antioxidant and cytotoxic activities”. Pharmazie. 71(3): 162 – 168.
- Lalith Jayasinghe, R. M. S. Ratnayake, Wathsala Medawala, Yoshinori Fujimoto (2007). “Dihydrochalcones with radical scavenging properties from the leaves of Syzygium Jambos“. Natural Product Research. 21(6): 551 – 554.
- Guo-Qiang Li, Yu-Bo Zhang, Peng Wu, Neng-Hua Chen, Zhong-Nan Wu, Li Yang, Rui-Xia Qiu, Guo-Cai Wang, Yao-Lan Li (2015). “New phloroglucinol derivatives from the fruit tree Syzygium Jambos and their cytotoxic and antioxidant activities”. Journal of Agricultural and Food Chemistry. 63(47): 10257 – 10262.
- Jules-Roger Kuiate, Simplice Mouokeu, Hypolyte K. Wabo, Pierre Tane (2007). “Antidermatophytic triterpenoids from Syzygium Jambos (L.) Alston (Myrtaceae)”. Phytotherapy Research. 21(2): 149 – 152.
- Majidul Haque, Mst Marium Begum, Moynul Hasan, A. F. M. Towheedur Rahman, Md. Iftekhar Hussain, Mohammad Mizanur Rahman, Md. Hazrat Ali, Md. Ashraful Islam, Md. Zakir Sultan, Md. Reyad-ul- Ferdous, Choudhury Mahmood Hasan (2015). “Investigation of the medicinal potentials of Syzygium Jambos (L.) extract and characterization of the isolated compounds”. American Journal of BioScience (AJBIO). 3(2-1): 12 – 18.
- 林大都 (Lin Dadu),刘嘉炜 (Liu Jiawei),李武国 (Li Wuguo),罗 维 (Luo Wei),成金乐 (Cheng Jinle),陈蔚文 (Chen Weiwen) (2014). Chemical constituents from stems of Syzygium jambos var. jambos and their in vitro cytotoxicity (蒲桃茎化学成分及其体外细胞毒活性研究)”. Chinese Traditional and Herbal Drugs. 45(17): 1993 – 1997.
- Ling-Ling Yang, Chih-Ying Lee, Kun-Ying Yen (2000). “Induction of apoptosis by hydrolyzable tannins from Eugenia Jambos L. on human Leukemia cells”. Cancer Letters. 157(1): 65 – 75.
- Ajit Kumar Chakravarty, Binayak Das, Tapas Sarkar, Kazuo Masuda, Kenji Shiojima (1998). “Ellagic acid derivatives from the leaves of Eugenia Jambos Linn.”. ChemInform Abstract. 30(25).
- Mansour Sobeh, Ahmed Esmat, Ganna Petruk, Mohamed A.O. Abdelfattah, Malak Dmirieh, Daria Maria Monti, Ashraf B. Abdel-Naim, Michael Wink (2018). “Phenolic compounds from Syzygium Jambos (Myrtaceae) exhibit distinct antioxidant and hepatoprotective activities in vivo“. Journal of Functional Foods. 41: 223 – 231.
- Mona F. Mahmoud, Shimaa Abdelaal, Heba Osama Mohammed, Assem M. El-Shazly, Rachid Daoud, Mohamed A. El Raey, Mansour Sobeh (2021). “Syzygium jambos extract mitigates pancreatic oxidative stress, inflammation and apoptosis and modulates hepatic IRS-2/AKT/GLUT4 signaling pathway in streptozotocin-induced diabetic rats”. Biomedicine & Pharmacotherapy. 142: 112085.
- Omar Maajal Khalaf, Mohamed Abelaziz, Ali El Hagrassi, Abeer Osman, Mosad Ghareeb (2021). “Biochemical aspect, antimicrobial and antioxidant activities of melaleuca and Syzygium species (Myrtaceae) grown in Egypt”. Journal of Physics Conference Series. 1879(2): 022062.
- Khadar Syed Musthafa, Wipawadee Sianglum, Jongkon Saising, Sakkarin Lethongkam, Supayang Piyawan Voravuthikunchai (2017). “Evaluation of phytochemicals from medicinal plants of Myrtaceae family on virulence factor production by Pseudomonas aeruginosa“. Acta Pathologica, Microbiologica, et Immunologica Scandinavica. 125(5): 482 – 490.
- Amanda Silva Reis, Liliane de Sousa Silva, Christiane França Martins, José Realino de Paula (2021). “Analysis of the volatile oils from three species of the gender Syzygium“. Agrarian and Biological Sciences. 10(7): e13510716375.
- Clarissa M. Guedes, Alice B. Pinto, Ricardo F. A. Moreira & Carlos A.B. De Maria (2004). “Study of the aroma compounds of rose apple (Syzygium jambos Alston) fruit from Brazil”. European Food Research and Technology. 219(5): 460 – 464.








