Độ hoàn thiện nội dung: 70% (✅♥️).
✅: Kiểm tra chính tả lần 1
♥️: Kiểm tra chính tả lần 2
Cây lựu hay thạch lựu (cũng là tên gọi của một loại đá quý), tên tiếng Anh là pomegranate (danh pháp khoa học là Punica granatum L.) là một loài cây ăn quả thuộc chi Lựu Punica, họ Bằng lăng Lythraceae, bộ Đào kim nương Myrtales. Cây được cho là có nguồn gốc từ Afghanistan và Iran trước khi được du nhập và xuất khẩu sang nhiều khu vực của châu Á, châu Phi và châu Âu (Lorna J. Sass; 1979. The New York Times). Giống lựu lùn hiện nay có danh pháp là P. granatum var. nana.
Lựu được du nhập vào châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 16 và vào California từ những người định cư Tây Ban Nha vào năm 1769 (Morton, J. F.; 1987). Hiện nay, loài cây này được trồng rộng rãi ở nhiều khu vực trên thế giới như Tây Á và vùng Kavkaz, Nam Á, Trung Á, Bắc Phi, một số vùng khô hạn của Đông Nam Á và ven Địa Trung Hải. Mùa vụ thu hoạch ở Bắc bán cầu là từ tháng 9 đến tháng 2 còn ở Nam bán cầu là từ tháng 3 đến tháng 5.
Quả lựu và nước ép lựu được sử dụng rất nhiều trong đời sống hằng ngày, không chỉ để ăn sống mà còn để làm bánh, nấu ăn giúp tạo vị chua nhẹ và màu sắc hấp dẫn, pha chế nhiều loại đồ uống không cồn, trang trí món ăn và làm cocktail.
Mô tả cây lựu
Cây lựu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ hay cây nhỡ, cao 2 – 3 m. Thân màu xám, có vỏ mỏng. Cành mảnh đôi khi có gai. Lá mọc đối, nhưng thường tụ họp thành cụm nhiều lá, cuống ngắn, hình mác thuôn, dài 5 – 6 cm, rộng 1 – 2 cm, gốc thuôn, đầu tù hoặc hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, lá kèm rất nhỏ, hình chỉ. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, màu đỏ hoặc màu vàng, loại màu trắng là bạch lựu, đài 6 phiến dày, màu đỏ nhạt, hàn liền thành ống ngắn ở phần dưới; tràng 6 cánh mỏng, nhăn nheo, nhị rất nhiều; bầu có 2 tầng, tầng trên 6 – 7 ô, tầng dưới 3 – 4 ô; noãn rất nhiều.
Quả mọng, to bằng nắm tay, có đài tồn tại ở đỉnh, khi chín màu vàng đốm đỏ nâu; hạt màu hồng, có vỏ ngoài mọng nước thành một lớp cơm trong, gọi là áo hạt (sarcotesta), ăn được. Mùa hoa quả: tháng 4 – 7.



Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây lựu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Punica L. được biết đến trước hết là loài lựu cho quả ăn được. Ngoài ra, còn một loài khác là Punica protopunica Balf.f. mọc hoang dại ở vùng Nam Á hay Trung Á, nhưng ít được nhắc tới. Gần đây, ở Việt Nam cây Punica granatum var. nana Per. được nhập trồng vì có hoa đẹp, không kết quả, để làm cảnh.
Lựu có nguồn gốc ở Iran và Afghanistan, hiện nay được trồng rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt ở các nước vùng Nam Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam, lựu cũng là cây ăn quả quen thuộc trong nhân dân. Cây được trồng nhiều ở các tỉnh phía nam và một số tỉnh ở đồng bằng trung du Bắc Bộ. Cây có biên độ sinh thái rộng, về mùa đông có thể chịu được nhiệt độ -10oC (vùng Trung Á và Trung Quốc) và ở nhiệt độ cao đến 40oC về mùa hè. Tuy nhiên, nhìn chung, cây thích nghi nhất ở khí hậu nóng và ẩm ở vùng nhiệt đới với nhiệt độ trung bình nhất là 24 – 26oC, sống được trên nhiều loại đất, nhất là đất giàu kali (PROSEA, No 2. Edible Fruits and Nuts, 1992: 270 – 271). Lựu là cây ưa sáng, nếu bị che bóng có thể ra nhiều hoa nhưng không đậu quả. Cây rụng lá về mùa đông, tái sinh chủ yếu bằng hạt. Cây chồi rễ cũng là nguồn giống để trồng. Lựu trồng hiện nay gồm nhiều giống. Người ta căn cứ vào màu hoa và quả để phân biệt giữa các giống khác nhau.
2. Cách trồng
Cây lựu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lựu được trồng làm cảnh, lấy quả ăn và làm thuốc. Cây được nhân giống dễ dàng bằng cành giâm. Cành hóa gỗ 1 năm tuổi, không sâu bệnh, được cắt thành từng đoạn dài 20 – 25 cm và giâm vào đầu xuân. Đến mùa xuân năm sau, đánh đi trồng. Cành non, giâm vào mùa hè cũng có thể ra rễ nếu ươm trong điều kiện độ ẩm cao. Từ rễ lựu, mọc ra những chồi con. Có thể tách những chồi này cùng với một đoạn rễ vào mùa đông đem trồng.
Lựu trồng được trên nhiều loại đất; đất màu mỡ, không bị úng ngập là tốt. Khi trồng, đào hố 50 x 50 x 50 cm, khoảng cách 2 – 4 m, bón lót 10 – 15 kg phân chuồng và đặt cây. Thời gian đầu, cần làm cỏ, tưới nước, bón thêm phân để cây mau lớn. Sau mỗi vụ thu hoạch quả, cần đốn tỉa và bón thúc. Phân bón chủ yếu là phân hữu cơ các loại. Ngoài ra, có thể bón thêm NPK và vôi bột.
Cây có khả năng chịu hạn, ít bị sâu bệnh, không chịu được úng.
Vỏ quả, thường là thạch lựu bì. Vỏ cây, vỏ rễ, thịt quả cũng được sử dụng.
Vỏ thân, vỏ rễ, thu hái quanh năm. Đào rễ bóc lấy vỏ, bỏ lõi, phơi hoặc sấy khô. Quả hái vào tháng 7, bóc lấy vỏ quả, bỏ màng trong, sấy khô. Khi dùng đem vỏ khô đồ cho mềm, thái mỏng, sao qua. Còn dùng hoa. Bảo quản nơi khô ráo, không để lâu quá hai năm.
3. Thành phần hóa học
Cây lựu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả và tên gọi các hợp chất):
Vỏ rễ và vỏ thân lựu chứa alkaloid toàn phần với hàm lượng từ 5 đến 7%. Các alkaloid chủ yếu là pelletierine, isopelletierine, methylpelletierine, pseudopelletierine và methylisopelletierine.
Tỷ lệ alkaloid trung bình tính bằng dạng muối sulfat trong 1 kg vỏ là:
– Pelletierine sulphate (pelletierin sulfat): 0,7 – 1g
– Isopelletierine sulphate (isopelletierin sulfat): 1,3 – 1,5g
– Pseudopelletierine: 1,5 – 2g
– Methylisopelletierine: 0,04g
Tỷ lệ alkaloid thay đổi theo điều kiện thu hái và cách bảo quản.
Nếu bón bằng supe – phosphat calci thì tỷ lệ alkaloid 5,5% ở cành và 7,5% ở rễ; bón bằng phân sulfat amoni, tỷ lệ alkaloid là 4,2% (cành) và 6,3% (rễ); bón bằng sulfat sắt, tỷ lệ alkaloid là 5,7% (cành) và 6,1% (rễ).
Tỷ lệ alkaloid trong rễ bao giờ cũng cao hơn trong thân và cành (Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 1999). Neuhöfer H.; Witte L.; Gorunović M. đã phân tích vỏ lựu của Nam Tư, thấy ngoài các alkaloid quen thuộc như pelletierine, methylpelletierine, pseudopelletierine, còn 10 alkaloid khác cũng đã được phát hiện nhờ GLC-MS, trong đó, một số alkaloid có nhóm thế ở vị trí 2 và 2,6-sedridin; 2-(2′-hydroxypropyl)-Δ1-piperidine; 2-(2′-propenyl)-Δ1-piperidine và nor-pseudopelletierine.
Các alkaloid hygrine và norhygrine chỉ tìm thấy trong vỏ rễ (CA. 119, 1993, 135641f).
Rễ lựu còn chứa 2,5-di-O-galloyl-4,6-O-(S)-hexahydroxydiphenoyl-D-glucuronic acid (Takashi Tanaka; Hui-Hong Tong; CA. 118, 1993, 230159t).
Chất diellagilactone có tác dụng giảm đau, giảm sốt, chống viêm đã được Yutaka Kyota; Masazumi Watanabe chứng minh cấu trúc (CA. 120, 1994, 226939w).
Quả lựu chứa 52% phần ăn được. Phần này gồm 78% dịch quả và 22% hạt. Dịch quả tươi chứa 85,4% nước; 10,6% đường; 1,4% pectin; 0,1g/100 ml acid citric; 0,7 mg/100 ml acid ascorbic; 19,6 mg/100 ml aminonitrogen tự do và 0,05 g/100 ml tro (El-Nemr S. E.; Ismail I. A.; Ragab M.; CA. 115, 1991, 134507x).
Velioglu Y. S.; Unal C.; Cemeroglu B. đã xác định dịch quả lựu về mặt hóa học thấy hàm lượng acid từ 2 đến 55g/lít, tỷ lệ glucose trên fructose luôn thấp hơn 1,0; hàm lượng Cl khá cao (496 mg/lít) và nồng độ acid D-isocitric cũng khá cao từ 4 đến 186 mg/lít (CA. 127, 1997, 277431b).
Elżbieta Lesińska; Danuta Sudoł thông báo trong dịch chiết quả lựu có 4,95% monosaccharide; 8,65% đường; 1,22% acid citric; 48 mg% acid ascorbic; 45 mg phenol; 0,23% pectin (CA. 108, 1988, 203529a).
María I. Gil; Francisco A. Tomás-Barberán; Cristina García-Viguera cho rằng có sự thay đổi chất màu trong quá trình quả lựu chín.
Sáu chất màu anthocyanin đã được tìm thấy trong sự hình thành màu đỏ của dịch quả là delphinidin 3-glucoside; delphinidin 3,5-diglucoside; cyanidin 3-glucoside; cyanidin 3,5-diglucoside; pelargonidin 3-glucoside và pelargonidin 3,5-diglucoside. Vỏ quả chỉ chứa cyanidin và pelargonidin. Thời kỳ đầu, 3,5-diglucoside là chất màu chủ yếu, các dẫn chất của delphinidin là chất nổi trội nhất ở giai đoạn này đến giai đoạn sau của quá trình quả chín. Tỷ lệ các monoglucoside tăng dẫn đến bằng hoặc nhiều hơn diglucoside và hợp chất cyanidin base là chất nổi trội hơn cả (CA. 118, 1993, 230156t).
Vỏ quả lựu là nguồn cung cấp tanin với hàm lượng thay đổi từ 20 đến 30%.
Việc phân tích vỏ quả lựu ở Anh cho thấy hàm lượng tanin, trong vỏ tươi là 5,2% và 20,3% ở vỏ phơi khô ở 50oC. Việc xử lý vỏ quả với các muối sulfit khác nhau trong quá trình làm khô đều có tác dụng làm tăng hàm lượng tanin (Mamajanov A. A.; Khaidarov K. K.; CA. 122, 1995, 159035z).
Hayato Satomi; Keishiro Umemura phát hiện trong vỏ lựu chất ellagitannin có tác dụng ức chế carbonic anhydrase là punicalin, punicalagin, granatin B, gallagyldilacton, casuarinin, pedunculagin, tellimagrandin.
Bốn chất khác có tác dụng yếu hơn là acid gallic, granatin B, corilagin và acid ellagic (CA. 120, 1994, 290035a).
Hạt lựu chứa 35,0% nước; 6,9% chất béo; 9,4% hợp chất chứa N; 12,6% tinh bột; 23,4% sợi; 1,5% tro (The Wealth of India Vol VIII; p. 322).
Các thành phần lipid trong hạt lựu có chỉ số khúc xạ là 1,518; độ chảy 13oC; chỉ số iod 74,2; chỉ số acid 1,1; phần không xà phòng hóa 0,7%; chỉ số xà phòng 188,9; chỉ số este 187,8 và glycerol 10,3%.
Các acid béo trong lipid hạt lựu chiếm 83,6% gồm 11 thứ trong đó acid caprylic nhiều hơn cả chiếm 36,3%; tiếp theo là acid stearic 22,5%; acid oleic 5,1% và acid linoleic 10,3%. Hạt lựu còn chứa 6% pectin, 4,7% đường (CA. 115, 1991, 134507x).
Mahimnur Yusuph; John Mann đã tìm thấy trong hạt lựu một triglyceride là di-O-punicyl-O-octadeca-8Z,11Z,13E-trienylglycerol (Phytochemistry 1997, 44(7): 1301 – 1392). Ahmed Rehana; Ifzal S. M.; Saifuddin Abid đã xác định sự có mặt của các oestrogen glucoside và Moneam N. M. A.; El-Shararky E. E. xác định hàm lượng estron trong hạt là 0,8mg% và loại estrogen phi steroid coumestrol là 0,036 mg (CA. 124, 1996, 325122р.; СА. 109, 1988, 3225Κ).
Lá lựu chứa nhiều hợp chất phenolic như N-(2′,5′-dihydroxyphenyl)pyridinium chloride, các flavone glucoside như apigenin 4-O-β-glucopyranoside; luteolin 4′-O-β-glucopyranoside; luteolin 3′-O-β-glucopyranoside và luteolin 3′-O-xylopyranoside (Nawwar Mahmoud A. M.; Hussein Sahar A. M.; CA. 122, 1995, 51398f; Phytochemistry 1994, 37(4): 1175 – 7).
Các tác giả còn xác định sự có mặt của các polyphenol khác trong lá như brevifolin; acid carboxylic; corilagin 3,6-(R)-hexahydroxydiphenoyl-(α,β)-1C4-glucopyranose; 1,3,6-tri-O-galloyl-β-4C1-glucopyranose; 1,4,6-tri-O-galloyl-4C1-glucopyranose; acid ellagic; 3,4,8,9,10-pentahydroxydibenzo[b,d]pyran-6-on, granatin B và punicafolin (Phytochemistry 1994, 36(3): 793-798).
Gần đây, Hussein Sahar A. M.; Barakat Heba H. cũng phát hiện các chất gallotannin như 1,2,4-tri-O-galloyl-β-glucopyranose; 1,3,4-tri-O-galloyl-β-glucopyranose cùng với 1,4-di-O-galloyl-3,6-(R)-hexahydroxydiphenyl-β-glucopyranose và acid brevifolin carboxylic 10-monopotassium sulfat (Phytochemistry 1997, 45(4): 819 – 823).
Kirillova V. V.; Kondzharya Z. T. đã thủy phân các tanin của một số loài lựu mọc ở vùng á nhiệt đới và thu được cyanidin và delphinidin (CA. 108, 1988, 34792y).
André Castonguay; Gali Hala U.; Perchellet Jean-Pierre chứng minh các hoạt chất chống u trong lựu gồm ellagitannin, punicalagin (dạng α và β) cùng với các acid ellagic, anthocyanin và procyanidin (CA. 126, 1997, 207223r).
Ngoài những chất quan trọng như các alkaloid, tanin, polyphenol, người ta còn tìm thấy trong lựu các acid hữu cơ như acid maslinic, acid asiatic, acid pipecolinic, acid betulinic, acid ursolic. Chất flavonoid pelargonin gồm một phân tử pelargonidin và 2 phân tử glucose ở vị trí 3 và 5.



4. Tác dụng dược lý
Cây lựu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Từ xưa, ở Trung Quốc và châu Âu, người ta đã biết dùng vỏ rễ lựu để trị bệnh giun sán đường ruột. Năm 1807, Buchanan đã công bố vỏ thân và vỏ rễ lựu có tác dụng tẩy giun sán trên lâm sàng. Năm 1884, Schroeder thấy rằng vỏ lựu và hoạt chất pelletierine có tác dụng diệt sán rất mạnh. Hiện nay, người ta đã chứng minh thành phần chính có tác dụng diệt sán là isopelletierine và pelletierine, nhưng do có độc quá lớn nên chúng ít được sử dụng trong điều trị. Trong phòng thí nghiệm, muối chloralhydrate pelletierine (clohydrat pelletterin) với nồng độ 1/10.000 sau 5 phút tiếp xúc có tác dụng diệt sán, còn với nồng độ 1/50.000 lại có tác dụng kích thích sán. Đối với động vật máu nóng, pelletierine có tác dụng
kích thích tủy sống gây co giật, với liều lớn làm tê liệt các đầu cuối dây thần kinh vận động, cuối cùng làm tê liệt trung khu hô hấp, gây tử vong. Trên người, pelletierine với liều 0,5 – 0,6g đã đủ gây chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn, mệt lả, tiêu chảy. Để giảm bớt độc hại và tăng cường hiệu lực diệt sán, người ta thường dùng dạng tannate pelletierine (tannat pelletierin) vì dạng này không hòa tan trong dịch ruột nên không bị hấp thu nhanh chóng vào máu, đồng thời tăng nồng độ tiếp xúc với sán. Trong vỏ rễ và vỏ thân cây lựu, pelletierine thường kết hợp tự nhiên với tanin dưới dạng tannat nên người ta thường dùng vỏ rễ và vỏ thân để chữa sán.Dịch chiết bằng nước của vỏ rễ lựu cho thỏ uống có tác dụng thúc đẩy quá trình đông máu.
Nước sắc vỏ quả lựu có tác dụng ức chế các khuẩn: Bacillus dysenteriae, B. typhi, Streptococcus aureus, B. pyocyaneus, Escherichia coli. Dịch chiết từ vỏ quả lựu thí nghiệm trên ống kính với nồng độ 10g/lít có tác dụng chống nấm Piricularia oryzae Cavara và nấm Colletotrichum falcatum là những tác nhân gây bệnh cho cây lúa và cây mía. Nước sắc và quả lựu cho thỏ uống qua đường dạ dày, ngày 2 lần có tác dụng cầm tiêu chảy. Bột vỏ quả lựu cho chuột cống trắng và chuột lang uống qua đường dạ dày, có tác dụng giảm tỷ lệ sinh đẻ của chuột. Có báo cáo cho rằng alkaloid toàn phần của vỏ quả có tác dụng kích thích tử cung.
Độc tính: Các alkaloid của vỏ rễ lựu là thành phần độc chủ yếu trong cây lựu, độc gấp 25 lần so với rễ lựu. Triệu chứng ngộ độc của pelletierine hoặc nước sắc vỏ lựu là cơ bắp bị yếu, giãn đồng tử, giảm thị lực, chóng mặt, nôn mửa và cuối cùng là liệt cơ, ngừng hô hấp gây tử vong. Nó có tác dụng kiểu curare đối với hệ thống cơ vân, và tác dụng kiểu nicotine đối với hệ thần kinh thực vật. Thí nghiệm trên thỏ bằng đường tiêm tĩnh mạch alkaloid của vỏ lựu có LD50 40mg/kg.
Hạt giống mướp hương – tự tay trồng cho thu hoạch quanh năm
Công dụng chữa bệnh của lựu
Rễ và vỏ rễ lựu có vị đắng, chát, tính ôn, có độc, có tác dụng sát trùng, trừ sán, sáp trường, chỉ đới.
Vỏ quả lựu có vị chua, chát, tính ôn, có độc, có tác dụng sáp trường, chỉ huyết, khu trùng. Hoa lựu có vị chua, chát, tính bình, có tác dụng chỉ huyết.
Pelletierine, vỏ rễ và vỏ thân cây lựu đều được dùng làm thuốc diệt sán, nhưng hiện nay pelletierine ít được dùng vì quá độc. Thường dùng vỏ rễ, vỏ thân vì trong có pelletierine ở dạng muối tannate độc đối với cơ thể người, lại có hiệu lực diệt sán cao. Dùng vỏ tươi mới thu hoạch vì chứa nhiều hoạt chất có hiệu lực diệt sán, còn đối với vỏ khô, cần ngâm nước vài giờ trước khi pha chế vẫn có hiệu lực diệt sán.
Liều lượng của pelletierine là 0,03 – 0,12g; cho vào nang uống lúc đói. Sau khi uống thuốc nửa giờ, uống thuốc xổ. Không dùng dầu thầu dầu để tránh bị nhiễm độc do hấp thu vào đường ruột.
Liều dùng của vỏ rễ hoặc vỏ thân, 30 – 40g, dưới dạng nước sắc. Vỏ rễ hoặc vỏ thân chặt nhỏ ngâm vào 750 ml nước trong 6 giờ, sắc lấy 500 ml. Lọc bỏ bã. Uống vào buổi sáng lúc đói, chia làm 2 – 3 lần, cách nhau nửa giờ. Hai giờ sau khi uống thuốc, dùng một liều thuốc tẩy magie sulfat (không dùng dầu thầu dầu), nằm nghỉ. Đợi lúc buồn đi ngoài, nhúng hẳn mông vào chậu nước ấm để sán ra hết. Phụ nữ có thai và trẻ em không được dùng.
Ngoài công dụng trị sán, vỏ rễ và vỏ thân còn được dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng.
Vỏ quả lựu chữa tiêu chảy lâu ngày không khỏi. Ngày dùng 15 – 20g sắc với 400 ml nước còn 100 ml thêm đường và tinh dầu thơm cho dễ uống, uống một lần trong ngày. Dùng 7 – 10 ngày liên tiếp. Có thể pha chế thành dung dịch để bảo quản được lâu theo cách làm sau: Vỏ quả lựu 2000g, rửa sạch, cạo bỏ màng trong, cắt nhỏ, cho vào nồi đất hoặc nồi nhôm không dùng nồi sắt hoặc gang vì chất sắt sẽ kết hợp với tanin của vỏ lựu thành tannat sắt có màu đen bẩn). Thêm 10 lít nước, đun sôi, trong vòng nửa giờ, gạn lấy nước thứ nhất. Cho thêm 5 lít nước nữa và đun sôi trong nửa giờ. Lọc bỏ bã, lấy nước thứ hai, hợp 2 nước sắc lại, cô đặc còn 4 lít. Thêm đường cho đủ ngọt và ít tinh dầu thơm. Người lớn uống ngày 4 lần, mỗi lần 2 – 3 thìa cà phê, uống liền 7 – 10 ngày. Ngoài ra, vỏ quả lựu 20g, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống với rễ cây phèn đen sao vàng, hạ thổ, chữa kiết lỵ.
Hoa lựu, chữa kiết lỵ, đi ngoài ra máu. Ngày 10 – 20g, dưới dạng nước sắc.
Ở Trung Quốc, hoa lựu nghiền thành bột hòa với dầu vừng, bôi ngoài, chữa bỏng. Bột hoa lựu thổi vào mũi, mỗi lần 0,3g; chữa chảy máu cam.
Ngoài ra, hoa và quả lựu có chất pelargonidin 3,5-diglucoside cho màu đỏ tươi, được dùng làm thuốc nhuộm vải lụa. Ở Ấn Độ, người dân ở đây đã chế một dạng nước từ quả lựu chín giàu vitamin đường và pectin uống khá ngon.
Bài thuốc có lựu:
Thuốc diệt sán: Vỏ rễ lựu 40g, đại hoàng 4g, hạt cau 4g, nước 750ml. Sắc đặc còn 300 ml, uống vào sáng sớm lúc đói, chia 2 – 3 lần.
Chữa lỵ tiêu chảy lâu ngày không khỏi: Vỏ quả lựu, đảng sâm, bạch truật, cam thảo mỗi thứ 5g; bào khương (gừng đã chế) 3g. Sắc nước uống.
Chữa kiết lỵ, đi ngoài ra máu: Hoa lựu 50g, rau sam 50g, nhọ nồi 30g, rau má 30g, kim ngân hoa 30g, rễ cúc áo hoa vàng 10g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, cắt nhỏ, nấu với nước 2 – 3 lần, rồi cô thành cao lỏng, hòa với sirô với tỷ lệ 1:1. Trẻ em 5 tuổi, mỗi lần uống 1 – 2 thìa cà phê, trên 10 tuổi 2 – 3 thìa, người lớn mỗi lần 4 – 6 thìa cà phê. Ngày dùng 2 lần.
Chữa đái són, đái rắt: Vỏ thân lựu 20g, vỏ rễ dâu 20g, sắc uống.
Dinh dưỡng của quả lựu
Phần ăn được của quả lựu chứa 78% nước, 19% carbohydrate, 2% protein và 1% chất béo. Mỗi khẩu phần ăn khoảng 100g (3,5 oz) áo hạt lựu cung cấp 11% giá trị dinh dưỡng hàng ngày (Daily Value hay DV) cho vitamin C, 14% DV cho vitamin K và 10% DV cho vitamin B9.
Địa chỉ bán cây giống lựu uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống lựu phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Pomegranate – Wikipedia tiếng Anh.
- Lorna J. Sass (31/10/1979). “Pomegranates: Rich In History and Taste”. The New York Times.
- Morton, J. F. (1987). “Pomegranate, Punica granatum L”. Fruits of Warm Climates. Purdue New Crops Profile. p. 352 – 5.
- Cây lựu – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.









