Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Cỏ lào hay bớp bớp, ba bớp, lốp bốp, yên bạch, cỏ hôi, cỏ Việt Minh, cỏ Nhật, cây cộng sản, cây phân xanh, tên tiếng Anh là Jack in the Bush (danh pháp khoa học là Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob.; đồng nghĩa: Eupatorium odoratum L.), là một loài thực vật có hoa thuộc họ Cúc Asteraceae.


Mô tả cây giống cỏ lào
Cây cỏ lào – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ, cao 1 – 2m, mọc thành bụi, phân nhiều cành nằm ngang. Thân tròn, màu rất nhạt, có rãnh và lông nhỏ mịn. Lá mọc đối, hình gần tam giác, dài 6 – 9cm, rộng 2 – 4cm, gốc thuôn vát, đầu nhọn, mép có răng cưa to, vò ra có mùi hăng hắc, hai mặt lá cùng màu có lông mịn, dày hơn ở mặt dưới, gân chính 3; cuống lá dài 1 – 2cm.
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành ngù kép, gồm nhiều hoa có mùi thơm, tụ hợp thành hình đầu dài khoảng 1cm, màu vàng lục; lá bắc xếp thành 3 – 4 hàng, hơi có lông, mào lông có sợi đều; tràng hoa loe dần từ gốc, bao phấn không có tai. Quả bế, hình thoi, có 5 cạnh, có lông. Mùa hoa quả: tháng 1 – 3. Cỏ lào khi là cây con rất giống cây hy thiêm. Chú ý phân biệt, tránh nhầm lẫn.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây cỏ lào – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Eupatorium L. là một chi lớn trong họ Asteraceae. Trên thế giới, có khoảng 400 loài, đa số là cây bụi, cây bụi nhỏ hoặc cây thảo, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Vùng ôn đới ấm ở châu Âu chỉ có một số ít loài. Ở Việt Nam, chi này có khoảng 10 loài. Trong đó, cỏ lào có lẽ là cây quen thuộc nhất, có nguồn gốc ở đảo Antilles, sau đó phát tán sang nhiều nước nhiệt đới khác, đặc biệt là các nước ở Đông Nam và Nam châu Á.
Ở Việt Nam, cỏ lào thường gặp ở nhiều nơi, bao gồm cả các tỉnh ở vùng đồng bằng, trung du và vùng núi thấp. Cây ưa sáng, chịu được hạn và có thể sống được trên mọi loại đất, mọc tương đối tập trung trên những diện tích lớn ở đồi, nhất là đất nương rẫy đã bỏ hoang. Do đó, có thể coi cỏ lào là loại cây tiên phong số một trong quá trình diễn thế thứ sinh trên đất sau canh tác.
Cỏ lào ra hoa kết quả nhiều hàng năm. Với số lượng hạt giống nhiều, lại phát tán nhờ gió nên cỏ lào có khả năng chiếm lĩnh và mở rộng vùng phân bố cực nhanh. Lá và rễ, thu hái quanh năm, dùng tươi.


2. Thành phần hoá học
Cây cỏ lào – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cỏ lào chứa tinh dầu, tanin, flavonoid, coumarin, alkaloid …
Lá chứa 0,16% tinh dầu bao gồm 2,6% α-pinene; 0,6% sabinene, 2,6% β-pinene; 0,9% myrcene; α-terpinene (vết); p-cymene (vết); 0,5% limonene; 0,5% (Z)-β-ocimene; 0,5% (E)-β-ocimene; 0,1% γ-terpinene; terpinolene (vết), linalool (vết); 0,1% (Z)-sabinene hydrate; camphor (vết); 4,9% geijeren đồng phân, 42,5% geijerene; 0,2% terpinen-4-ol; α- terpineol (vết); 0,5% geijerene đồng phân; 3,5% bornyl acetate; 0,4% δ- elemene; 1,0% α-copaene; 0,2% β-bourbonene; 1,4% β-elemene; 0,4% geijerol; 7,4% β-caryophyllene; 1,9% α-humulen; 12,5% β-cubebene; 1,3% γ-elemene hoặc germecrene B; 0,5% alcol sesquiterpene; 2,1% δ-cadinene, 2,0% elemone; 0,9% α-ionone; caryophyllene oxide; 0,2% viridiflorol; 0,3% epi-globulol; 0,2% δ-cadinol (torreyol); 0,6% α-cadinol, isophytol (dự doán) (vết) (Nguyễn Xuân Dũng và cs, Tạp chí Dược học 1991, 3, 13).
Hoa cỏ lào chứa 4,43% α-pinene; 0,19% sabinene; 1,65% β-pinene; 0,57% β-myrcene; 1,13% p-cymene; 0,45% limonene, 0,31% cis-β-ocimene; 2,20% trans-β- ocimene; 0,41% δ-terpinene; 0,59% sabinene hydrate; camphor (vết); 0,39% đồng phân của geyren; 7,98% geyren; 2,73% đồng phân của geyren; 22,93% bornyl acetate; 0,78% δ-elemene; α-copaene; 0,54% β-elemene; 0,42% geyrol; 9,21% β-caryophyllene; 2,37% α-humulene; 20,10% β-cubebene, 1,03% γ-elemene; 2,99% elemol; 1,24% α-ionone; 0,52% δ-cadinol; 1,08% α-cadinol.
Nguyễn Thị Diễm Trang và cs (1993) đã chứng minh phần trên mặt đất của cỏ lào chứa odoratin-2′,4-dihydroxy-4′,5′,6′-trimethoxychalcone và 4’-hydroxy-5,6,7-trimethoxy flavanone.
Ngoài ra, lá cỏ lào còn có acid anisic; isosakuranetin; odoratin; kaempferol; sakuranetin; tamarixetin; salvigenin; 7-methylisocuranetin; 4′,5-dihydroxy-3′,7-dimethylflavone và epoxylupeol.



3. Tác dụng dược lý
Cây cỏ lào – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cao chiết với cồn của cả cây cỏ lào trừ rễ có tác dụng chống co thắt cơ trơn gây bởi histamin và acetylcholin trên hồi tràng có lập chuột lang. Đã nghiên cứu xác minh tác dụng cầm máu và làm liền sẹo của cỏ lào.
Đã nghiên cứu sử dụng cao lá cỏ lào để điều trị tại chỗ vết thương phần mềm nhiễm khuẩn và vết thương phần mềm lâu liền, với nồng độ thuốc 3,3:1, ở 86 bệnh nhân (trong đó có 82 bệnh nhân đã được phẫu thuật; mở rộng cắt lọc tổ chức dập nát và hoại tử, lấy bỏ dị vật, cắt cụt chi cấp cứu, để hở hoàn toàn vết thương), và đã chứng minh cỏ lào có những tác dụng sau:
– Làm giảm tiết dịch, giảm mùi hôi, hoại tử rụng nhanh hơn hẳn nhóm đối chứng, tuy nhiên khi dùng tại chỗ trong 3 – 5 phút đầu, thuốc gây cảm giác nóng xót tại vết thương ở mức độ chịu đựng được.
– Làm rút ngắn thời gian điều trị vết thương do thúc đẩy nhanh quá trình loại bỏ hoại tử, tái tạo mô hạt và liền sẹo. Sẹo hình thành mềm, mịn, không thấy có sẹo co kéo, sẹo lồi. Màu sắc sẹo hồng hoặc nâu nhạt, không thấy sẹo bạc màu.
– Ức chế sự sinh trưởng in vitro và in vivo của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết thương như tụ cầu khuẩn vàng, Escherichia coli, Proteus, trực khuẩn mủ xanh. Những chủng này được phân lập từ các bệnh phẩm lâm sàng đều nhờn với các loại kháng sinh thông dụng.
– Những nghiên cứu về nồng độ hydroxyproline và về hình ảnh siêu cấu trúc cho thấy tại các vết thương điều trị với cỏ lào, quá trình tổng hợp collagen tiến triển tốt, tốc độ tổng hợp collagen tăng nhanh, đặc biệt tăng cao nhất trong 7 ngày đầu.
Công dụng và liều dùng cỏ lào
Cỏ lào có vị hơi đắng, tính ấm, mùi thơm, có tác dụng sát trùng, cầm máu. Nhân dân ta dùng cỏ lào chữa tiêu chảy, kiết lỵ, đau nhức xương, ghẻ lở, phòng và trị đỉa cắn. Một chế phẩm từ cao lá cỏ lào chữa một số bệnh về răng miệng. Cỏ lào còn được dùng chữa bỏng và vết thương phần mềm.
Nhân dân Campuchia và Haiti uống nước sắc lá cỏ lào chữa ho, cảm lạnh, cúm. Nhân dân Trinidad dùng lá cỏ lào đắp chữa mụn nhọt và vết loét lâu liền. Ở Bờ Biển Ngà và Nepal, lá cỏ lào giã nát hoặc ép lấy dịch đắp trị vết đứt, vết thương chảy máu và làm liền sẹo
Ở Nigeria, nước sắc lá cỏ lào chữa sốt, cúm và cảm lạnh. Cao lá cỏ lào được dùng làm thuốc cầm máu vết thương. Dịch ép lá là một thuốc sát trùng tốt và được dùng băng bó vết thương và trị nhiễm khuẩn. Cao toàn cây là thuốc chống loét.
Bài thuốc có cỏ lào:
Phòng đỉa cắn: Giã lá có lào xoa khắp chân đùi trước khi lội xuống nước.
Chữa đỉa cắn, máu chảy không ngừng: Vò lá cỏ lào xát vào chỗ đỉa cắn, máu sẽ cầm ngay.
Địa chỉ bán cây giống cỏ lào uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống cỏ lào phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tìm kiếm liên quan
- Tác hại của cỏ lào
- Tác dụng của cây cỏ lào
- Hình ảnh cây cỏ lào
- Cỏ lào chữa dạ dày
- Cây Cỏ lào tươi
- Cây cỏ lào chữa viêm xoang
- Xem cây cỏ lào
- Yến mạch cỏ lào








