Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Bạc hà hay bạc hà Á, bạc hà nam, bạc hà Nhật Bản, húng cây, húng bạc hà, tên tiếng Anh là corn mint, field mint, wild mint (danh pháp khoa học là Mentha arvensis L.), là một loài thực vật có hoa trong họ Hoa môi Lamiaceae. Cây có nguồn gốc từ các vùng ôn đới của châu Âu, Tây và Trung Á, từ dãy Himalaya cho đến miền đông Siberia và Bắc Mỹ.


Bạc hà là một vị thuốc rất phổ thông ở nước ta. Nó được dùng trong cả đông y và tây y. Cây bạc hà cho những vị thuốc chủ yếu sau đây:
- Bạc hà (Mentha hay Herba Menthae) là toàn bộ phận trên mặt đất, tươi hay phơi hoặc sấy khô của cây bạc hà.
- Bạc hà diệp (Folium Menthae) là lá bạc hà tươi hay phơi hoặc sấy khô.
- Tinh dầu bạc hà (Oleum Menthae) là dầu cất từ cây bạc hà.
- Menthol hay bạc hà não là chất đặc, trắng chiết từ tinh dầu bạc hà ra.
Với tinh dầu bạc hà và menthol, người ta còn chế nhiều đạng thuốc rất phổ thông khác như dầu cù là nước hoặc cao (dấu con hổ), kẹo ngậm ho bạc hà, rượu bạc hà, thuốc đánh răng bạc hà, …
Mô tả cây bạc hà
Cây bạc hà – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm. Thân mềm, hình vuông. Loại thân ngầm mang rễ mọc bò lan, loại thân đứng mang lá, cao 30 – 40cm, có khi hơn, màu xanh lục hoặc tím tía, đôi khi phân nhánh. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, cuống ngắn, mép lá khía răng đều.
Hoa nhỏ màu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiều hoa; lá bắc nhỏ, hình dùi; đài hình chuông có 5 răng đều; tràng có ống ngắn, phiến tràng chia làm bốn phần gần bằng nhau, có một vòng lông ở phía trong; 4 nhị bằng nhau, chỉ nhị ngắn. Quả bế, có 4 hạt (ít gặp). Các bộ phận trên mặt đất có lông gồm lông che chở và lông bài tiết tinh dầu. Mùa hoa quả vào tháng 7 – 10.
Chủng BH. 974 (cùng loài Mentha arvensis) được phát triển mạnh. Chủng này có hiệu suất cây trồng và tinh dầu cao hơn, chất lượng tinh dầu cũng tốt hơn.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Bạc hà – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây bạc hà mọc hoang và được trồng tại nhiều vùng ở nước ta, mọc hoang cả ở miền đông bằng và cả ở miền núi. Chúng tôi đã phát hiện mọc hoang nhiều ở Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Bắc Kạn, Sơn La.
Sau 25 năm nghiên cứu của chúng tôi (1955 – 1980) cây bạc hà trước đây chỉ mới được trồng trên quy mô tương đối lớn ở các làng Nghĩa trai (Hưng Yên), Đại Yên (Hà Nội) và rải rác ở nhiều tỉnh khác để lấy lá và cây làm thuốc. Đã bắt đầu được trồng để cất tinh dầu. Năm 1958 tại huyện Gia Lâm, Hà nội, vườn trồng bạc hà thí điểm của trường Đại học Dược Hà Nội đã được trang bị nồi cất tinh dầu. Năm 1972, cả nước ta lần đầu tiên đã tự sản xuất được 60 tấn tinh dầu bạc hà và sản xuất được một tấn menthol tinh thể.
Tại các nước khác, loài bạc hà này còn được thấy khai thác ở Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Van Nam …), Nhật Bản (nổi tiếng vì tinh dầu chứa nhiều menthol nhất, 80 – 90%). Từ năm 1974, ở nước ta đã có chủng loại bạc hà Nhật Bản Mentha arvensis var. piperascens Malinv. ex Holmes.
Muốn trồng bạc hà tốt nhất cần chọn nơi đất sét có nhiều mùn, sau đến loại đất cát. Đất cần làm cỏ bón phân kỹ trước, làm luống rộng, trên mỗi luống trồng 2 – 3 hàng. Có hai mùa trồng bạc hà vào mùa xuân và thu. Mùa xuân vào các tháng 2 – 3, mùa thu vào tháng 8 – 9. Tốt nhất là trồng vào mùa xuân cho năng suất cao nhất, Trồng bằng hạt hay bằng mẫu thân, hoặc thân ngầm. Có thể trồng bằng hạt nhưng rất ít áp dụng. Sau 3 – 4 tháng có thể thu hoạch đợt đầu, thường một năm có thể cắt cây 3 hay 4 lần, lần thứ nhất vào tháng 6 – 7, sau đó cần xới và bón phân, sau 2 tháng (vào cuối tháng 8 hay tháng 9) lại hái lần nữa vào lúc cây đang ra hoa nhiều. Nếu hái 4 lần thì có thể hái lứa đầu vào tháng 6 – 7, lứa thứ hai vào tháng 8 – 9, lứa thứ ba vào tháng 10 – 11, lứa thứ 4 vào tháng 2 – 3. Hái về, cần bỏ lại từng bó, phơi chỗ mát cho khô hoặc nếu cất tinh dầu thì cần cất ngay hay để hơi héo mà cất.
Hiệu suất trung bình là 25 đến 40 tấn cây tươi mỗi năm, mỗi hecta, cất được từ 50 đến 100 lít tinh dầu. Theo tài liệu của các nước thì hiệu suất 1 hecta trung bình hằng năm cũng là 10 – 12 tấn cây tươi, có những năm hoặc những nơi chăm sóc tốt có thể tới 20 đến 35 – 40 tấn, đặc biệt có nơi hiệu suất đạt tới 70 tấn 1 hecta, được từ 20 – 150 lít tinh dầu.
Cây bạc hà – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Mentha L. là một chi nhỏ, bao gồm các loài cây thảo có chứa tinh dầu; phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm châu Âu, vài loài ở vùng cận nhiệt đới châu Á. Đáng chú ý là một số loài của chi này đã được đưa vào thuần hóa, lai ghép trồng để lấy tinh dầu hoặc làm rau gia vị (các loại húng).
Ở Việt Nam, chi này cũng có 3 – 4 loài. Riêng về bạc hà có đại diện ở hai quần thể; bao gồm bạc hà dại (M. arvensis L) mọc tự nhiên ở vùng núi cao 1300 – 1600m, có khí hậu ẩm mát như Sa Pa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Mù Cang Chải (Yên Bái) và Mường Lống (Nghệ An). Quần thể bạc hà trồng bao gồm một số giống lai từ các loài M. arvensis L., M. aquatica L., M. spicata L. và M. piperita L.. Những giống này được nhập từ Liên Xô trước đây, Cộng hòa Dân Chủ Đức trước đây, Pháp và Trung Quốc từ năm 1955 – 1974 và gần đây. Qua thử nghiệm, một vài giống bạc hà (nhất là giống BH. 974) đã được trồng lớn ở nhiều địa phương.
Bạc hà là loại cây đặc biệt ưa ẩm và ưa sáng, mọc hoang dại thường tập trung thành những đám nhỏ gần bờ suối bay trong thung lũng. Đất nơi bạc hà mọc thường có màu nâu đen, tơi xốp và giàu chất mùn. Cây ra hoa hàng năm, nhưng hình thức tái sinh chủ yếu vẫn bằng cách mọc chồi, đẻ nhánh bò lan trên mặt đất.

2. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Bạc hà – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Hoạt chất chủ yếu trong bạc hà là tinh dầu bạc hà. Tỷ lệ tinh dầu trong bạc hà thường từ 0,5 đến 1%, có khi có thể lên tới 1,3 – 1,5%. Bằng phương pháp lựa chọn giống, Liên Xô cũ đã có những loại bạc hà đạt tới 5,2 đến 5,6% tinh dầu (tính trên cây, đã trừ độ ẩm). Ngoài tinh dầu, trong cây bạc hà còn có các flavonoside.
Thành phần chủ yếu trong tinh dầu bao gồm những chất sau đây:
Menthol (Việt hóa: Mentola) C10H20O có trong tinh dầu với tỷ lệ 40 – 50%, loài của Trung Quốc và Nhật Bản có thể lên tới 70 – 90%. Mentola ở trong tinh dầu chủ yếu ở trạng thái tự do nhưng một phần ở dạng kết hợp với axit axetic.
Menthone (Việt hóa: Mentol) C10H18O chừng 10 đến 20% trong tinh dầu bạc hà Trung Quốc.
Cây bạc hà – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Ở Việt Nam, bạc hà có nhiều chủng loại mọc hoang dại ở một số vùng cao, lạnh. Có dạng thân xanh lục, dạng thân tím. Các chủng loại này chưa được khai thác sử dụng. Nhiều chủng giàu menthol (80 – 90%) được di thực vào Việt Nam và được gọi bằng các ký hiệu BH. 974, 975, 976, Đài Loan … Chúng đã được trồng từ nhiều năm nay ở quy mô đại trà để phục vụ cho nhu cầu trong nước chủ yếu là chủng BH. 974.
Bạc hà tím Việt Nam trồng ở Mondovì cho hàm lượng tinh dầu là 1,82% (1980), 3% (1981 – 1982) bao gồm 32 thành phần trong đó đã xác định: α-pinene 0,41%; β-pinene 0,72%; myrcene 0,47%; limonene 4,5%; p-cymol 0,09%; octanol 3 – 3,2%; menthol 5,8%; (-)-menthol 10,1%; menthyl acetate 1,6%; (-)-pulegone 24,9%; piperitone 4%; piperitone oxide 16%; piperitenone oxide 21,5%.
Tinh dầu Mentha arvensis di thực vào Việt Nam (NV. 74) chứa sabinene, myrcene, α-pinese, limonene, cineol, methylheptenone, menthol, isomenthol, menthyl acetate, neomenthol, menthone, isomenthone, pulegone.
Từ năm 1990, Viên Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo ra được một số chủng loại bạc hà mới có hàm lượng menthol cao. Trong số những chủng loại mới được tạo ra, 2 chủng loài TN – 8 và TN – 26 có nhiều ưu điểm và ổn định trong suốt quá trình nghiên cứu (1990 – 1994). TN – 8 được tạo ra từ chủng loại NV – 74, còn TN – 26 được tạo ra từ một loài Mentha arvensis nhập từ Ấn Độ năm 1989. Hai chủng loại này đều được nghiên cứu có so sánh với NV – 74.
Hàm lượng tinh dầu của 3 chủng loại nói trên là:
NV – 74: 0,52 – 0,60%
TN – 8: 0,68 – 0,72%
TN – 26: 0,70 – 0,72%
Năng suất tinh dầu là:
NV – 74: 98,80 – 108,00kg/ha
TN – 8: 127,80 – 136,80kg/ha
TN – 26: 126,80 – 161,00kg/ha
Hàm lượng menthol tự do trong tinh dầu là:
NV – 74: 65,20 – 63,80%
TN -8: 71,50 – 81,90%
TN – 26: 77,20 – 84,10%
Tinh dầu là hoạt chất chính với hàm lượng 0,5% (Dược điển Việt Nam II, tập 3), là 0,8% (Dược điển Nhật Bản X) và 1% (Dược điển Liên xô X, Dược điển Pháp IX). Chất lỏng không màu hay màu vàng nhạt, có mùi bạc hà đặc biệt, vị cay, sau mát.
Với tinh dầu bạc hà giàu menthol (trên 70%), có thể chiết xuất một phần menthol, tinh dầu còn lại vẫn đạt tiêu chuẩn dược điển. Nguyên tắc chiết xuất là làm lạnh tinh dầu từ từ ở nhiệt độ 14oC, rồi đến 10o, 5o. Nên để tinh dầu ở mỗi mức độ lạnh thấp dần (14o, 10o, 5o) 1 – 2 lần, mỗi lần 1 – 2 ngày. Khi thấy menthol không kết tinh thêm, mới đưa xuống nhiệt độ lạnh hơn. Loc menthol phải được tiến hành ở nhiệt độ thấp. Menthol thu được đem rửa nhiều lần bằng nước lạnh để loại hết tinh dầu còn dính lại. Cần tập trung nước rửa này để thu hồi tinh dầu. Hong khô menthol tự nhiên trên khay ở nhiệt độ 25 – 26oC. Menthol thu được đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam 11.

3. Tác dụng dược lý
Bạc hà – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Tại chỗ, tinh dầu bạc hà và menthol bốc hơi rất nhanh, gây cảm giác mát và tê tại chỗ, dùng trong một số trường hợp đau dây thần kinh, còn có tác dụng sát trùng mạnh thường dùng trong một số trường hợp ngứa của một số bệnh ngoài da, bệnh về tai mũi họng. Tuy nhiên cần biết rằng tinh dầu bạc hà và menthol bôi mũi hay bôi trong cổ họng có thể gây hiện tượng ức chế có thể tới ngừng thở và tim ngừng đập hoàn toàn, Hiện tượng này hay xảy ra nhất là đối với trẻ con ít tuổi. Người ta đã nhận xét thấy một số trường hợp chết do nhỏ mũi 1 giọt dầu menthol 1% hoặc bôi vào niêm mạc mũi một ít thuốc mở có menthol. Do đó chúng ta cần hết sức thận trọng khi dùng tinh dầu bạc hà hay dầu củ là cho trẻ con ít tuổi, nhất là trẻ con mới đẻ.
Bạc hà, tinh dầu bạc hà hay menthol uống với liều rất nhỏ có thể gây hưng phấn, xúc tiến sự bài tiết của tuyến mồ hôi, làm cho nhiệt độ cơ thể hạ thấp. Liều lớn, có tác dụng kích thích tuỷ sống, gây tê liệt phản xạ và ngăn sự lên men.
Cây bạc hà – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Bạc hà có tác dụng kháng vi khuẩn trong thí nghiệm in vitro đối với các chủng vi khuẩn tả Vibrio cholerae El Tor, Vibrio cholerae Inaba, Vibrio cholerae Ogawa. Tinh dầu bạc hà có tác dụng ức chế thần kinh trung ương có thể gây tê liệt thần kinh do tác dụng chủ yếu của menthol.
Tinh dầu bạc hà làm giảm sự vận động và chống sự co thắt của ruột non. Các chất menthol và menthone ức chế sự vận động của đường tiêu hóa từ ruột trở xuống và có tác dụng làm giãn mao mạch.

Công dụng và liều dùng cây bạc hà
Bạc hà có vị cay thơm, tính ấm, có tác dụng phát tán phong nhiệt, hóa đàm hạ tích, tiêu sưng chỉ ngứa.
Bạc hà trị ngoại cảm phong nhiệt, phát sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, ngạt mũi, ho, viêm họng sưng đau, mắt đỏ, ngứa nổi mề đay, bụng đau, đầy trướng, tiêu hóa kém, nôn mửa. Thường dùng phối hợp với nhiều thuốc khác.
Bạc hà dùng làm cho thuốc thơm dễ uống và chữa đau bụng đi ngoài.
Tinh dầu bạc hà và menthol có tác dụng sát khuẩn, xoa bóp nơi sưng đau như khớp xương, thái dương khi nhức đầu.
Cây khô bạc hà được dùng làm thuốc chống co thắt, gây trung tiện, tống hơi trong ruột ra, làm dễ tiêu, làm lạnh, gây tác dụng kích thích, điều kinh, lợi tiểu.
Nước hãm lá bạc hà dùng điều trị bệnh thấp khớp và chứng ăn không tiêu. Tinh dầu bạc hà đã loại menthol được dùng làm thơm nước súc miệng, kem đánh răng và các dược phẩm.
Liều dùng:
- Lá và toàn cây bạc hà: Ngày uống từ 4 – 8g dưới dạng thuốc hãm.
- Tinh dầu và menthol: Một lần 0,02 – 0,20ml, một ngày 0,06 – 0,60ml.
Còn dùng dưới hình thức cồn (lá bạc hà 50g, tinh dầu bạc hà 50g, cồn vừa đủ 1 lít), ngày dùng nhiều lần, mỗi lần từ 5 – 15 giọt, cho vào nước nóng uống.
Kiêng kỵ: Người gầy yếu, suy nhược toàn thân, táo bón, huyết áp cao, trẻ em dưới một tuổi không nên dùng.
Bài thuốc có bạc hà:
Thuốc chữa nôn, thông mật, giúp tiêu hóa: Lá hay toàn cây bạc hà bỏ rễ (5g), pha vào 200ml nước sôi, cách 3 giờ uống một lần. Có thể dùng cồn bạc hà theo công thức kể trên để uống thay, mỗi lần uống 5 – 10 giọt hay hơn.
Chè cảm mạo chữa nhức đầu: Lá bạc hà (6g), kinh giới (6g), phòng phong (5g), bạch chỉ (4g), hành hoa (6g). Đổ nước sôi vào, hãm 20 phút, uống lúc đang nóng.

Cách trồng bạc hà
Cây bạc hà – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Bạc hà có thể trồng được ở đồng bằng, trung du và miền núi, nhưng sinh trưởng tốt hơn ở nhiệt độ 20 – 25oC và ở nơi có đầy đủ ánh sáng. Đất thích hợp để trồng bạc hà là đất tơi xốp, giữ được ẩm, màu mỡ. Năng suất và chất lượng tinh dầu của cây trên đất pha cát cao hơn so với cây trồng trên đất thịt nặng, úng nước.
Bạc hà thường được nhân giống bằng thân ngầm hoặc bằng thân cành. Vào mùa đông, phần thân lá bị lụi đi, người ta giữ nguyên ruộng bạc hà, thỉnh thoảng có thể tưới ẩm nếu thời tiết quả khô hạn, đến mùa xuân thì đào chọn lấy thân ngầm khỏe mạnh để làm giống. Mỗi hecta cần khoảng 600 – 700kg mầm giống. Ngoài ra, còn có thể tách lấy thân cành sao cho có một ít rễ ở phần gốc để trồng. Trồng bằng thân cành thường phải trồng muộn hơn, năng suất lứa đầu cùng không cao so với trồng bằng thân ngầm.
Thời vụ trồng bạc hà ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ là tháng 2 – 3, ở miền núi là tháng 3 – 4, ở các tỉnh khu 4 cũ là tháng 1 – 2. Ở các tỉnh phía nam có thể trồng vào đầu mùa mưa.
Ruộng trồng bạc hà cần bố trí trên đất thoát nước, tiện tưới tiêu, không bị che khuất. Sau khi làm đất tơi nhỏ, lên luống cao 17 – 20cm, rộng 70 – 80cm, rạch thành hàng ngang hoặc dọc, cách nhau khoảng 20 – 25cm. Nếu thân ngầm quá dài, có thể cắt thành từng đoạn dài 7 – 10cm và đặt hơi nghiêng xuống rạch, cách nhau 10cm. Nếu trồng bằng thân cành thì đặt sao cho phần ngọn nhô lên mặt đất 5 – 7cm. Sau đó dùng phân chuồng ủ mục (10 tấn phân chuồng + 50kg supe lân + 50kg kali/ha) phủ lên hom giống rồi lấp đất dày 3 – 5cm. Cần tưới và giữ ẩm ngay sau khi trồng cùng như trong suốt thời gian sinh trưởng. Bạc hà rất kỵ úng nên cần thoát nước tốt trong mùa mưa. Chú ý làm sạch cỏ thường xuyên.
Bệnh hại bạc hà nguy hiểm nhất là bệnh gỉ sắt hại lá do nấm Puccinia menthae gây nên. Có thể dùng Benlate (1kg pha trong 800 – 1000 lít nước/ha) để phun phòng trừ. Ngoài ra còn có các loại sâu, nhện và rệp hại lá. Có thể chữa trị hằng Basudin và Sherpa.
Bạc hà trồng 2 – 3 tháng có thể thu hoạch. Tùy thời vụ trồng sớm muộn và khả năng chăm sóc mà mỗi năm có thể thu hoạch 2 – 3 lứa. Khi cây ra hoa khoảng 70% là đúng lúc thu hoạch. Dùng liềm cắt sát gốc lấy toàn bộ chân lá để cất tinh dầu. Nếu chưa kịp cất tinh dầu ngay thì cần rãi mỏng ở nơi râm mát, tránh để thành đống. Sau mỗi lứa cất, chú ý làm vệ sinh đồng ruộng, bón bổ sung 5 – 7 tấn/ha phân chuồng ủ mục với lân và kali. Phân được rắc đều lên mặt luống, phủ đất và tưới ẩm. Trung bình, lứa thứ nhất có thể thu được 8 – 10 tấn, lứa thứ hai: 5 – 7 tấn, lứa thứ ba: 3 – 5 tấn thân lá tươi/ha. Năng suất tinh dầu thường đạt 70 – 75kg/ha.
Lá (thu hái vào thời kỳ ra hoa) và các bộ phận trên mặt đất. Tinh dầu cất từ lá và các bộ phận trên mặt đất đã được tinh chế.




Địa chỉ bán cây bạc hà uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống bạc hà phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








