Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Dâm dương hoắc chuyên chữa yếu sinh lý chuẩn hàng sẵn sàng trao tay khách. Nhanh tay liên hệ 0966.446.329 để được tư vấn miễn phí cách đặt hàng.
Được biết yếu sinh lý là cụm từ chỉ sự rối loạn chức năng tình dục của một cá nhân (thuộc cả hai giới nam và nữ) hay của một cặp nam nữ. Đây là một cụm từ có ý nghĩa rộng, bao hàm sự rối loạn của bất kỳ yếu tố nào trong hoạt động tình dục (gồm yếu tố thể chất và yếu tố tinh thần), bao gồm:
- Khoái cảm về thể xác.
- Ham muốn tình dục.
- Sở thích, xu hướng về tính dục.
- Sự kích thích hoặc cực khoái.
Một cá nhân được xem là yếu sinh lý nếu như những rối loạn tình dục có ảnh hưởng đến tinh thần, thể chất kéo dài từ 6 tháng trở lên. Gây ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ vợ chồng. Vậy có cách nào có thể giúp họ thoát khỏi nỗi ác mộng “ra không đúng lúc” này không. Chắc chắn là có, câu trả lời sẽ đến ngay sau đây.
Dược liệu dâm dương hoắc
Dâm dương hoắc hay cương tiền, tiên linh tỳ, tam chi cửu diệp thảo, phỏng trượng thảo, khí trượng thảo, thiên lưỡng kim, can kê cân, hoàng liên tổ là toàn cây phơi hay sấy khô của nhiều loài cây thuốc chi Epimedium như dâm dương hoắc lá mác (Epimedium sagittatum (Siebold & Zucc.) Maxim.), dâm dương hoắc lá hình tim (Epimedium brevicornu Maxim.) và dâm dương hoắc lá to (Epimedium leptorrhizum Stearn) đều thuộc họ Hoàng liên gai Berberidaceae.
Gọi là dâm dương hoắc vì đây là cây cho lá, dê hay ăn mà lại có tính chất tăng ham muốn tình dục.
Cây dâm dương hoắc thuộc dạng cây thảo, cao khoảng 0,5 – 0,8m có hoa màu trắng, có cuống dài. Cây này có nhiều loài khác nhau nhưng đều được ứng dụng làm thuốc.
+ Dâm dương hoắc lá to: Cây dài khoảng 40cm, thân nhỏ, trong rỗng, lá mọc trên ngọn cây. Phần nhiều mỗi cây có 3 cành, mỗi cành mọc 3 lá. Lá dạng hình tim, dạng trứng, dài 12cm, rộng 10cm, đầu nhọn, gốc lá hình tim, mép lá có răng cưa nhỏ nhọn như gai, mặt lá màu xanh vàng nhẵn, mặt dưới mầu xanh xám, gân chính và cả gân nhỏ đều nổi hằn lên. Lá mỏng như giấy mà có tính co gĩan. Có mùi tanh, vị đắng.




+ Dâm dương hoắc lá hình tim: Lá hình tim tròn, dài khoảng 5cm, rộng 6cm, đầu hơi nhọn. Phần còn lại giống như loại lá to.

+ Dâm dương hoắc lá mác: Lá hình trứng dai, dạng mũi tên, dài khoảng 14cm, và chỉ rộng 5cm, đầu lá hơi nhọn như gai, gốc lá hình tên. Phần còn lại mô tả giống như loại lá to.



Dâm dương hoắc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm, cao 30 – 40 cm. Thân rễ cứng, có nhiều rễ con. Lá kép, 1 – 3 cái, mọc từ gốc, gồm 3 lá chét hình mác dạng trứng, dài 4 – 9 cm, gốc hình tim có hai tai lệch nhau, đầu thuôn nhọn sắc, mép có lông nhỏ; cuống lá mảnh, dài khoảng 15 cm. Cụm hoa mọc ở ngọn thân trên một cuống dài 7,5cm, thành dạng ngù hay chùy tròn; hoa có 8 lá đài xếp thành hai vòng, lá đài ở vòng ngoài nhỏ, mặt ngoài có đốm tím, lá đài ở vòng trong màu trắng, giống như cánh hoa; cánh hoa màu trắng; nhị 4. Quả hạch, hình trứng, có nhiều hạt.
Những loài khác cũng được sử dụng như Epimedium macranthum C.Morren & Decne (dâm dương hoắc hoa to), E. brevicornu Maxim. (dâm dương hoắc lá nhỏ hoặc dâm dương hoắc lá hình tim), E. pubescens Maxim., E. wushanense T.S.Ying và E. koreanum Nakai.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây dâm dương hoắc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Cả ba cây dâm dương hoắc hiện chưa thấy có ở nước ta, toàn bộ vị dâm dương hoắc hiện còn phải nhập của Trung Quốc. Tuy nhiên căn cứ vào sự phân bố của cây này tại một số tỉnh miền nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc.Kiến (dâm dương hoắc lá to), Vân Nam (dâm dương hoắc lá mác), Quảng Tây (dâm dương hoắc lá hình tim) chúng ta có thể đặt vấn để phát hiện những cây này ở một số tỉnh biên giới phía bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Vào mùa hạ và thu, hái lấy toàn bộ cây, cắt bỏ rễ, mang về rửa sạch, phơi hay sấy khô. Không phải chế biến gì đặc biệt.
Dâm dương hoắc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Epimedium L. gồm một số ít loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm và cận nhiệt đới Đông Á. Ở Trung Quốc, có 3 loài thường được khai thác sử dụng là E. brevicornu Maxim., E. koreanum Nakai và E. sagittatum Maxim.. Ở Việt Nam có 2 loài đã được thu hái, có thể là E. macranthum C.Morren & Decne và E. sagittatum Maxim.. Chúng mọc ở vùng núi cao trên 1500 m như Sa Pa, Bát Xát, Bắc Hà (Lào Cai); Sìn Hồ (Lai Châu); Đồng Văn, Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc (Hà Giang).
Dâm dương hoắc là cây ưa ẩm, chịu bóng; thường mọc lẫn với các loại cỏ, cây bụi thấp ở sườn núi, ven rừng, nhất là những nơi gần nguồn nước. Cây mọc rải rác từng khóm riêng rẽ, đôi khi thành đám nhỏ, ra hoa vào cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu; đến mùa đông, phần trên mặt đất có thể tàn lụi. Hàng năm, từ tháng 2 đến tháng 4 có thể thấy cây non mọc từ hạt. Một số cây trồng thử trong vườn có mái che ở Trại thuốc Sa Pa, dường như không bị tàn lụi trong mùa đông. Dâm dương hoắc là cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, cần chú ý bảo tồn.
Phần trên mặt đất của một số loài dâm dương hoắc thu hái vào mùa hè – thu lúc cây mọc xanh tốt. Loại bỏ tạp chất, phơi nắng hoặc phơi trong râm (Dược điển Trung Quốc 1997, bản tiếng Anh).
Dâm dương hoắc thường được chế biến như sau: Đun nhẹ lửa mỡ dê (20g) đã được tinh chế đến khi chảy lỏng, gạn bỏ tóp mỡ, cho dâm dương hoắc (100g) đã thái nhỏ vào đảo cho thấm hết mỡ dê, sau đó sao khô.
2. Thành phần hóa học
Cây dâm dương hoắc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả và bỏ nội dung ko chính xác):
Trong thân và lá có flavonoside gọi là icariin C33H40O15. Khi thủy phân sẽ cho icaritin C21H20O6.
Trong thân rễ chứa desoxymetylivariin và magnoflorine C20H24NO4+.
Dâm dương hoắc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thành phần chủ yếu trong các loài dâm dương hoắc là prenyl flavonoid glycoside. Loài E. brevicornu chứa khoảng 4,5% flavonoid glycoside, icariin, icariside I.
– E. koreanum: Epimedoside A, epimedin A, epimedin B, epimedin C, sagittatoside A, sagittatoside B, anhydroicaritin-3-O-rhamnoside.
– E. sagittatum: Icariside I, anhydroicaritin-3-O-α-L-rhamnopyranoside, sagittatoside A, sagittatoside B, sagittatoside C, icaritin-3-rhamnoside, sagittatin A, sagittatin B, epimedin A, epimedin B, epimedin C.
– E. wushanense: Icariin, wushanicariin.
3. Tác dụng dược lý
Cây dâm dương hoắc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Liều thấp và liều cao dâm dương hoắc lá to đều có tác dụng hạ huyết áp, với liều nhỏ có tác dụng xúc tiến bài tiết nước tiểu nhưng với liều lớn lại có tác dụng ức chế.
Dâm dương hoắc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Tác dụng với hệ tim mạch: Nước sắc dâm dương hoắc (20%) trên tiêu bản cô lập tim mạch vành chuột lang dùng với liều 0.5 ml cho thẳng vào dịch truyền có tác dụng làm tăng lưu lượng mạch vành 132.1% so với thời điểm trước lúc dùng thuốc.
Trên chó gây mê mở lồng ngực, nước sắc dâm dương hoắc tiêm tĩnh mạch với liều 1g dược liệu/kg thân trọng, làm lưu lượng mạch vành tăng 112.2% và kéo dài trong vòng 20 – 60 phút, đồng thời trở kháng mạch vành giảm.
Dạng chiết dâm dương hoắc trên mô hình cơ tim thiếu máu ở chuột cống do chế phẩm thủy sau tuyến yên gây nên thể hiện tác dụng bảo vệ tim rõ rệt.
Ảnh hưởng đối với hệ miễn dịch: Flavonoid toàn phần chiết từ dâm dương hoắc, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng tiêm dưới da với liều 25mg và 50 mg/kg dùng liên tục trong 7 ngày, có tác dụng gia tăng lượng kháng thể hemolysin huyết thanh, tăng số lượng tế bào hình thành kháng thể ở lách, thúc đẩy sự chuyển dạng tế bào lympho và tăng cường tác dụng thực bào của các đại thực bào.
Ảnh hưởng đối với tế bào tuỷ chuột nhắt: Trên môi trường nuôi cấy tế bào tuỷ ngoài cơ thể, chất polysaccharide từ dâm dương hoắc với các liều 10, 25, 50 và 100 µg, có tác dụng thúc đẩy sự tăng trưởng của tế bào tuỷ.
Tác dụng nội tiết sinh dục: Dâm dương hoắc dùng sống và dâm dương hoắc đã qua bào chế đối với chức năng sinh dục có tác dụng không giống nhau. Dâm dương hoắc qua bào chế thí nghiệm trên chuột nhắt trắng đực cho thuốc vào dạ dày với liều 15g/kg, dùng liên tục trong 10 ngày có tác dụng làm tăng lượng testosterone trong máu và tăng trọng lượng cơ nâng hậu môn, còn dâm dương hoắc dùng sống không có tác dụng nâng cao khả năng sinh dục, trái lại làm giảm lượng testosterone và trọng lượng cơ năng hậu môn.
Trong một nghiên cứu trên lâm sàng, nước sắc của lá dâm dương hoắc dùng điều trị cho 14 bệnh nhân giảm bạch cầu có 3 người khỏi bệnh và 9 người có tiến bộ rõ rệt, lượng bạch cầu tăng từ 2440 ± 992/mm3 lên 4060 ± 966/mm3.
Công dụng của dâm dương hoắc
Dâm dương hoắc có vị ngọt, tính ôn, vào các kinh can, thận, có tác dụng bổ thận, tráng dương, khu phong, trừ thấp, cường gân cốt.
Dâm dương hoắc được dùng làm thuốc bổ thận, mạnh gân cốt, chữa liệt dương, hao tiết, bán thân bất toại, phong thấp tỳ thống, bệnh mạch vành, cao huyết áp, thiếu máu, giảm tiểu cầu, viêm thận. Ngày dùng 10 – 12g, dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu.
Bài thuốc có dâm dương hoắc:
Chữa liệt dương: Dâm dương hoắc, tiên mao, ngũ gia bì, mỗi vị 125g, nhân (bỏ hạt) 100 quả. Ngâm rượu trắng (1500 – 2000ml), trong 20 ngày, ngày 2 lần, mỗi lần uống 20 – 30 ml.
Hoặc dâm dương hoắc 8g, sinh khương 2g, cam thảo 1g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa xuất tinh sớm, lưng gối mỏi đau, chân tay mỏi, đái dắt: Dâm dương hoắc, phá cố chỉ, thục địa, hoài sơn, ngưu tất, hồ lô ba, thỏ ty tử, ba kích thiên, ích trí nhân, phục linh, sơn thù nhục, mỗi vị 50g, trầm hương 60g, nhục thung dung 2500g, lộc hươu 500g. Tất cả nghiền nhỏ, trộn với mật làm thành viên bằng hạt đậu, mỗi lần uống 10g. Ngày 2 lần.
Chữa cao huyết áp trong thời kỳ mãn kinh ở nữ giới: Dâm dương hoắc, tiên mao, ba kích, tri mẫu, hoàng bá, mỗi vị 9g. Sắc nước uống, ngày 1 thang.
Thuốc bổ thận cho người cao tuổi: Dâm dương hoắc, tiên mao, tang thầm, tử hà xa, hoài sơn, thỏ ty tử, hoàng tinh, thục địa, mỗi vị 15g, sơn thù nhục 12g, thận dê: 2 quả. Nấu nhừ, ăn cả cái lẫn nước làm 2 – 3 lần trong ngày.
Chữa thận dương suy yếu, liệt dương di tinh, lưng gối đau mỏi, phong thấp tỳ thống: Dâm dương hoắc 100g, rượu trắng 500 ml, dược liệu chặt nhỏ, bỏ rượu vào gạc, ngâm rượu trong 2 tuần. Mỗi lần uống 10 ml, ngày 2 lần.
Vậy mua cây dâm dương hoắc ở đâu uy tín?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây dâm dương hoắc giống phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.









