Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Hạt khiếm thực hay hạt cáo, hạt hồ ly, tên tiếng Anh là fox nut, gorgon nut, là hạt thu được từ cây khiếm thực hay kê đầu (danh pháp khoa học là Euryale ferox Salisb.), một loài thực vật có hoa thuộc họ Súng Nymphaeaceae.

Mô tả cây khiếm thực
Xem sản phẩm cây khiếm thực.
Thông tin thêm
1. Thành phần hóa học của hạt khiếm thực
Hạt kiềm thực Euryale ferox thô chứa khoảng 61% carbohydrate; 12,1% độ ẩm; 15,6% protein; 1,35% chất béo; 7,6% chất xơ; 1,8% khoáng chất và 100g hạt thô cung cấp khoảng 362 kcal (Surbhi Kapoor et al.; 2022).
Báo cáo của Jiahui Jiang cùng cộng sự (2022) đã tổng hợp các thành phần hóa học có trong hạt và vỏ hạt khiếm thực Euryale ferox như sau:
- Polysaccharide: EPJ (1) chủ yếu bao gồm glucose và rhamnose với tỷ lệ mol 5,46:1, trọng lượng phân tử được xác định là 15,367 kDa; EFSP-1 (2) chủ yếu bao gồm (1→4)-α-D-Glcp với các nhánh được thay thế tại O-6 và kết thúc bằng T-α-D-Glcp.
- Polyphenol và flavonoid: Các polyphenol được tìm thấy là acid gallic (3); pyrogallol (4); acid chlorogenic (5); resveratrol (6); acid 4-O-methyl gallic (7); acid protocatechuic (8); các flavonoid là naringenin (9); dihydrotricetin (10); pectolinarigenin (11); rutin (12).
- Peptid dạng vòng (cyclic peptide): Cyclo(Pro-Ser) (13); cyclo(Ile-Ala) (14); cyclo(Leu-Ala) (15); cyclo(Phe-Ser) (16); cyclo(Ala-Pro) (17); cyclo(Phe-Ala) (18).
- Cerebroside (các hợp chất trung tính bao gồm một monosaccharide và ceramide liên kết với C1 của esfingol bằng liên kết β-glycosidic): N-α-hydroxy-cis-octadecaenoyl-l-O–β-glucopyranosylsphingosine (19); peracetylated cerebroside (20); (2S,3R,4E,8E,2′R)-1-O-(β-glucopyranosyl)-N-(2′-hydroxydocosanoyl)-4,8-sphingadienine (21); (2S,3R,4E,8E,2′R)-1-O-(β-glucopyranosyl)-N-(2′-hydroxytetracosanoyl)-4,8-sphingadienine (22).
- Steroid và pentacyclic triterpene: β-sitosterol (23); daucosterol (24); fucosterol (25); 24-methylcholest-5-enyl-3β–O-pyranoglucoside (26); 24-ethylcholest-5-enyl-3β–O-pyranoglucoside (27); 24-ethylcholesta-5,22E-dienyl-3β–O-pyranoglucoside (28); 2β-hydroxybetulinic acid 3β-caprylate (29); 2β-hydroxybetulinic acid 3β-oleiate (30).
- Tocopherol: α-tocopherol (31); β-tocopherol (32); δ-tocopherol (33); ferotocotrimer C/E (34); ferotocotrimer D (35); tocopherol trimer IVa (36); tocopherol trimer IVb (37); ferotocodimer A (38).
- Lignan: Euryalins A – C (39 – 41); rel-(2α,3β)-7-O-methylcedrusin (42); syringylglycerol-8-O-4-(sinapyl alcohol) ether (43); (1R,2R,5R,6S)2-(3,4-dimethoxyphenyl)-6-(3,4-dihydroxyphenyl)-3,7-dioxabicyclo [3.3.0]octane (44); (+)-syringaresinol (45); buddlenol E (46); (+)-Isolariciresinol 9′-O-glucoside (47); 3-(4-hydroxy-3-methoxybenzyl)-4-[(7′R),5′-dihydroxy-3′-methoxybenzyl]tetrahydrofuran (48).
- … cùng một số thành phần khác.
2. Sử dụng hạt khiếm thực
Hạt và cuống lá của khiếm thực ăn được. Tại Ấn Độ, hơn 96.000 hecta đất ở bang Bihar đã được dành riêng để trồng loại cây này trong các năm 1990 và 1991, cả giống và hạt của nó đều được gọi với cái tên là Mithila Makhana (Boriss Lariushin; 2012). Ấn Độ là quốc gia sản xuất Makhana (hạt cáo) lớn nhất trên thế giới, với hơn 90% diện tích trồng tập trung ở vùng đồng bằng ngập nước của Bihar, đặc biệt là ở các quận như Darbhanga, Madhubani và Purnia.
Makhana hiện được coi là một mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao và có chứng nhận chỉ dẫn địa lý (geographical indication) rõ ràng (Team Mera Kisan; 2024). Tại các vùng phía Bắc và Tây Ấn Độ, hạt khiếm thực thường được nướng hay rang, làm cho nó nổ tung ra như bỏng ngô, hoặc được dùng làm nguyên liệu phục vụ các món ăn truyền thống khác.
Bằng chứng khảo cổ thực vật học cho thấy khiếm thực từng là nguồn thực phẩm hoang dại phổ biến trong thời kỳ đồ đá mới ở khu vực sông Dương Tử (Trung Quốc), với nhiều phát hiện tại các di chỉ như Kuahuqiao (跨湖桥), Hemudu (河姆渡) và Tianluoshan (田螺山) (Dorian Q Fuller et al.; 2009). Việc sử dụng loài này được ghi nhận sớm nhất là tại Gesher Benot Ya’aqov (Israel), trong các hiện vật còn sót lại thuộc nền văn hóa Acheulean, cách đây khoảng 750.000 – 790.000 năm (Naama Goren-Inbar et al.; 2014).
Theo truyền thống, người ta thu hoạch hạt khiếm thực bằng cách lặn xuống ao nước ngọt sâu khoảng 2,4 mét mà không dùng thiết bị thở, một công việc rất vất vả, dễ gây tổn thương da do bùn và gai của cây. Trong thế kỷ 21, Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia về Makhana đặt tại Darbhanga, bang Bihar, Ấn Độ đã tiên phong trồng khiếm thực trong ruộng ngập nước nông khoảng 30 cm, từ đó giúp giảm đáng kể công sức lao động, đồng thời nâng cao hiệu quả canh tác và thu hoạch. Đến năm 2022, diện tích trồng Makhana đã tăng lên 35.000 hecta (tương đương 86.000 mẫu Anh). Trung tâm cũng đã phát triển giống khiếm thực cho năng suất cao hơn, giúp tăng thu nhập cho nông dân, và cũng đang trong quá trình thiết kế máy thu hoạch chuyên dụng, hứa hẹn sẽ cách mạng hóa quy trình sản xuất Makhana trong tương lai gần.
Trong y học Trung Hoa, loài này được gọi là 芡实, 芡實, bính âm: qiàn shí (khiếm thực). Các hạt ăn được của nó được sử dụng trong y học dân gian Trung Hoa, với nó thường được nấu thành canh (súp) với các thành phần khác, và người ta tin rằng nó tăng cường khả năng cương dương của đàn ông và làm chậm quá trình lão hóa.
Địa chỉ bán cây giống bả dột uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống bả dột phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Khiếm thực (Euryale ferox) – Wikipedia tiếng Anh.
- Euryale ferox – Wikipedia tiếng Anh.
- Surbhi Kapoor, Amarjeet Kaur, Ramandeep Kaur, Vikas Kumar, Monika Choudhary (2022). “Euryale ferox, a prominent superfood: Nutritional, pharmaceutical, and its economical importance”. Journal of Food Biochemistry. 46:e14435.
- Jiahui Jiang, Haiyan Ou, Ruiye Chen, Huiyun Lu, Longjian Zhou, Zhiyou Yang (2022). “The ethnopharmacological, phytochemical, and pharmacological review of Euryale ferox Salisb.: A Chinese medicine food homology”. Molecules. 28(11):4399.
- Boriss Lariushin (2012). Solanaceae family. p. 17.
- Blog “Makhana in India: The ultimate guide to cultivation, nutrition, Grading & global demand”. Merakisan.com. 2024. By Team Mera Kisan.
- Dorian Q Fuller, Ling Qin, Yunfei Zheng, Zhijun Zhao, Xugao Chen, Leo Aoi Hosoya & Guo-Ping Sun (2009). “The domestication process and domestication rate in rice: Spikelet bases from the Lower Yangtze”. Science. 323(5921):1607 – 1610.
- Naama Goren-Inbar, Yoel Melamed, Irit Zohar, Kumar Akhilesh & Shanti Pappu (2014). “Beneath still waters – multistage aquatic exploitation of Euryale ferox (Salisb.) during the Acheulian”. Internet Archaeology (37).








