Độ hoàn thiện nội dung: 60% (✅♥️).
✅: Kiểm tra chính tả lần 1
♥️: Kiểm tra chính tả lần 2
Cây xoan hay xoan ta, xoan nhà, xoan trắng, sầu đông, thầu đâu, tên tiếng Anh là chinaberry, bead tree, persian lilac (đinh hương Ba Tư) hay white cedar (tuyết tùng trắng) (danh pháp khoa học là Melia azedarach L.) là một loài cây thân gỗ lá sớm rụng thuộc họ Xoan Meliaceae, cây có nguồn gốc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Australia.
Quy cách hạt giống xoan ta
Quy cách đóng gói sản phẩm: Gói 200g/500g/1000g.
Túi đựng hạt giống: Túi nilong.
Tỷ lệ nảy nầm: ≥ 80%.
Thời điểm gieo: Quanh năm.
Hình thức vận chuyển: Bưu điện.
Bảo quản hạt giống: Nơi khô ráo và thoáng mát, tránh xa ánh nắng mặt trời.
Cách gieo hạt:
- Ngâm hạt trong nước ấm khoảng 40 – 50oC (2 phần nước sôi + 3 phần nước lạnh) trong 12 – 24 giờ. Sau đó đem hạt đi rửa sạch, ủ trong vải ẩm hoặc khăn giấy ẩm từ 3 – 5 ngày cho đến hạt khi nứt nanh.
- Trộn đất thịt nhẹ với phân bón lót (phân hoai mục) và tro trấu hoặc xơ dừa theo tỉ lệ 2:1:1. Sau đó đặt hạt đã nứt nanh xuống đất trộn ở độ sâu khoảng 1 – 1,5 cm rồi phủ một lớp đất mịn hoặc xơ dừa mỏng lên trên. Lưu ý tránh xa khu vực có ánh nắng gắt, gió mạnh và trời mưa lớn để không gây chết cây con hoặc làm trôi hạt.
- Tưới nước dạng phun sương giữ ẩm hàng ngày cho đến khi cây con lớn dần.


Thông tin thực vật về cây xoan ta
1. Mô tả cây xoan
Cây xoan (Melia azedarach L.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây to, cao 10 – 15 m, có thể hơn. Thân thẳng, vỏ xù sì màu xám, có nhiều khía dọc lồi lõm và chấm trắng. Lá kép lông chim lẻ, 2 – 3 lần, mọc so le, có thể dài đến 60 – 70 cm, lá chét mọc đối dài 7 – 8 cm, rộng 2 – 3 cm, gốc hơi lệch, đầu nhọn, mép khía răng, mặt dưới và cuống lá có lông. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim phân đôi, trước hoặc cùng thời gian với lá non; hoa màu trắng hoặc tím nhạt; đài 5 răng có lông; tràng 5 cánh hẹp, nhị hợp lại thành ống hình trụ màu tím sẫm, bầu nhẵn, 5 ô. Quả hạch, khi chín màu vàng, hạt màu nâu nhạt. Mùa hoa: tháng 3 – 5; mùa quả: tháng 6 – 8.
2. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây xoan (Melia azedarach L.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Melia L. là một chi nhỏ, gồm một số loài là cây gỗ, hiếm khi là cây bụi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á và Australia. Việt Nam có 2 loài là xoan (M. azedarach L.) và xoan đào (M. toosendan Siebold & Zucc.).
Xoan được coi là cây bản địa ở Việt Nam. Cây chủ yếu được trồng ở vùng đồng bằng, trung du và núi thấp (dưới 600m). Quần thể cây mọc tự nhiên hoặc đã trở nên hoang dại hóa có thể thấy ở một số tỉnh miền núi, như Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang, Thanh Hóa … Xoan cũng có ở Ấn Độ, Lào và phía nam Trung Quốc. Cây ưa sáng, có thể chịu được khô hạn và sống được trên nhiều loại đất. Xoan sinh trưởng phát triển tốt ở những vùng có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm hoặc khí hậu á nhiệt đới, độ cao dưới 1000 m. Cây rụng lá hàng năm vào mùa đông, đến giữa mùa xuân, khi bắt đầu có lá non đồng thời cũng là mùa hoa của cây. Hoa xoan thụ phấn nhờ côn trùng và gió, hạt có tỷ lệ nảy mầm cao. Thân cây sau khi bị chặt, phần gốc còn lại tái sinh nhiều chồi nhỏ.
Xoan là loại cây cho gỗ quan trọng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Gỗ xoan ngâm trên 1 năm (bỏ phần giác) được sử dụng để làm nhà cửa, đóng đồ gia dụng. Tuổi thọ của gỗ xoan lên đến 70 – 80 năm không hề bị mục nát. Lá xoan là nguồn phân xanh dồi dào cho cây trồng. Với ưu thế là cây gỗ mọc nhanh, nên nhiều năm nay cây đã được phát triển trồng ở khắp các tỉnh trung du và đồng bằng từ Hà Tĩnh trở ra.
3. Cách trồng
Cây xoan (Melia azedarach L.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Xoan được trồng ở khắp nơi để lấy gỗ; lá, hạt và vỏ cây làm thuốc. Lá cũng là phân xanh và thuốc trừ sâu, chống mọt.
Xoan được trồng bằng hạt. Vào tháng 11 – 12, quả chín hái về, đãi hết phần thịt. Có thể gieo ngay hoặc phơi khô, đến tháng 2 – 3 mới gieo. Ít khi gieo thẳng mà thường gieo trong vườn ươm, với khoảng cách 40 x 40 cm hoặc 40 x 50 cm. Nếu gieo mỗi hốc 2 – 3 hạt thì sau khi mọc, cần tỉa bớt, chỉ để lại mỗi hốc một cây để cây to, mập. Đến tháng 8 – 9, nếu cây con đã đủ lớn (cao 1m trở lên), có thể đem trồng. Tốt nhất là đợi đến tháng 2 – 3 năm sau, thời tiết thuận lợi hơn, cây ra rễ là có thể tiếp tục sinh trưởng được ngay.
Trồng xoan rất đơn giản, chỉ cần đào hố cách nhau 3 – 5m rồi đặt cây, lấp đất, dặn chặt, tưới nước. Cây giống không cần đánh cả bầu, thậm chí đứt hết rễ vẫn mọc. Nên cắm cọc giữ cho cây khỏi bị gió lay. Có nơi trồng mau hơn, cách nhau chỉ 2 – 3m, cây thẳng, ít phân nhánh, nhưng chậm lớn.
Xoan trồng ở đồng bằng (nhất là vùng bãi ven sông) sinh trưởng nhanh, sau 6 – 7 năm có thể khai thác, nhưng chất lượng gỗ không bằng cây trồng ở đồi núi. Cây không cần chăm bón, ít sâu bệnh.
Vỏ rễ, vỏ thân thu hái về được đem đi phơi hay sấy khô. Vỏ rễ là những phiến cuôn lại hoặc phiến không có hình dạng nhất định, dày 1 – 3 mm, mặt ngoài màu nâu tro hay nâu tím. Vỏ thân sau khi bóc thì cạo bỏ lớp vỏ nâu, chỉ dùng vỏ lụa ở giữa. Trước khi dùng, sao vàng cho hết mùi hăng.
4. Thành phần hóa học
Cây xoan (Melia azedarach L.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả và hiệu chỉnh lại tên các hợp chất do các tác giả này việt hóa quá nhiều gây nhầm lẫn cho việc tìm hiểu của người đọc):
Vỏ thân xoan chứa nimbolin A; nimbolin B; fraxinellone; 24-methylenecycloartanone; gedunin (7-deacetoxy-7-oxogedunin); cycloeucalenol (Trung thảo dược học, quyển 2, 1976).
Vỏ thân chứa kulactone; kulolactone; kulinone và methylkulonate (Trung thảo dược học, quyển 2, 1976).
Vỏ thân có các anthraquinone là 1,8-dihydroxy-2-methylanthraquinone-3-O-β-D-galactopyranoside và 1,5-dihydroxy-8-methoxy-2-methylanthraquinone-3-O-α-L-rhamnopyranoside (CA. 104: 17658j).
Vỏ thân còn có flavone glycoside là 4′,5-dihydroxyflavone-7-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→4)β-D-glucopyranoside (CA. 102: 3.211c) và isochuanliansu (isotoosendanin) (CA. 103: 92.693z).
Vỏ rễ có các limonoid là melianolide; nimbolinin B; salannin; deacetylsalannin; nimbolidin B; 12-deacetyltrichilin I; 1-acetyltrichilin H; 3-deacetyltrichilin H; 1-acetyl-3-deacetyltrichilin H; 1-acetyl-2-deacetyltrichilin H; meliatoxin B1; trichilin H; trichilin D; 1,12-deacetyltrichilin B; salannal; meliacarpinin E (3-tigloyl-1-methoxymeliacarpinin); 1-tigloyl-3,20-diacetyl-11-methoxymeliacarpinin; 3-tigloyl-3,20-diacetyl-11-methoxymeliacarpinin; 1-cinnamoyl-3-hydroxy-11-methoxymeliacarpinin; 1-deoxy-3-methacrylyl-11-methoxymeliacarpinin; 1-cinnamoyl-3-acetyl-11-methoxymeliacarpinin (CA. 125: 1378628; CA. 125: 243083h; CA. 125: 270.455m; CA. 125: 30.042g).
Vỏ rễ thứ M. azedarach var. japonica có steroid ester là azedarachol (2α,3α,16β-trihydroxy-5α-pregnane-20R-methacrylate) (CA. 103: 211.108z).
Theo một số tài liệu khác, rễ có 6-acetoxy-7α-hydroxy-3-oxo-14β,15β-epoxymeliace-1,5-diene; 6-acetoxy-3β-hydroxy-7-oxo-14β,15β-epoxymeliac-1,5-diene-3-O-β-D-glucuronopyranoside; các azecin 1, 2, 3, 4 (CA. 103: 3.669f; CA. 125: 270.480s).
Theo Malikova M. Kh. và cs, 1993, vỏ rễ sau khi chiết tách limonoid còn chứa 0,76% polysaccharide tan trong nước; 2,2% chất pectin và 4,4% hemicellulose. Thành phần monosaccharide chính của 3 phân đoạn nói trên là glucose (CA 123: 251311e).
Quả xoan có melianone; melianol; melianodiol; meliantriol; 7-tricosanol; 1-cinnamoylmelianolone; melianoninol; meliandiol; vanillin; acid vanillic; acid dimethylester; một hợp chất tetranortriterpenoid; catechin; lupeol; β-sitosterol; β-sitosteryl-3-O-glucoside; acid cinnamic; 1-cinnamoyl-3,11-dihydroxymeliacarpin; meliatoxin A1; meliatoxin A2; meliatoxin B1; meliatoxin B2 (Trung thảo dược học II, 1976, CA. 97: 88704u; CA. 108: 52.758w; CA. 119: 45222j; CA. 127: 92687w; CA. 110: 132168k; CA. 115. 25960u; CA. 99: 191621с).
Hạt có 1 euphane triterpene là cinnamodiol; 6-acetoxy-11α-hydroxy-7-oxo-14β,15β-eрохуmeliacin-1,5-diene-3-O-α-L-rhamnopyranoside; 6-acetoxy 3β-hydroxy-7-oxo-14β,15β-epoxymeliac-1,5-diene-3-O-β-D-xylopyranoside (CA. 124: 170608a; CA. 110: 228592v).
Lá chứa quercetin-3-O-β-rutinoside; kaempferol-3-O-β-rutinoside; α-tocopherol (CA. 104: 183.316r; СА. 110: 20944k).
5. Tác dụng dược lý
Cây xoan (Melia azedarach L.) – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Vỏ thân, vỏ rễ cây xoan có hoạt chất toosendanin (khổ luyện tố) là thành phần có tác dụng diệt giun đũa. Trước đây, người ta đã chứng minh rằng thí nghiệm trên ống kính cao chiết cồn của vỏ xoan có tác dụng làm liệt giun đũa lợn, đặc biệt đối với phần đầu của giun. Còn sau khi đã chiết tách được toosendanin thì tác dụng diệt giun của hoạt chất mạnh hơn dạng cao cồn nhiều, gần tương đương với santonin. Cao lỏng vỏ xoan (25%), dung dịch toosendanin (0,6%) có tác dụng làm giun nhanh chóng bị tê liệt.
Tác dụng diệt giun của vỏ xoan được giải thích qua 2 cơ chế: một giả thiết cho rằng ở nồng độ cao (1:1000) toosendanin làm tê liệt giun đũa đặc biệt là đối với các nút thần kinh ở đầu giun, còn giả thiết khác cho rằng ở nồng độ thấp (1:5000-9000) toosendanin có tác dụng kích thích giun. Tác dụng kích thích này là do thuốc thấm qua lớp biểu bì của giun, tác động trực tiếp lên hệ cơ của giun, gây co thắt làm cho giun không thể bám vào thành ruột mà bị xổ ra ngoài. Trên lâm sàng, sau khi uống toosendanın thời gian giun bị tẩy ra ngoài xuất hiện chậm (24 – 48 giờ), giun bị tẩy ra ngoài đa số còn có thể hoạt động được. Dịch chiết vỏ xoan (25 – 50%) thí nghiệm trên ống kính cũng có tác dụng diệt giun kim.
Tác dụng kháng nấm: Dịch ngâm nước vỏ xoan (1:4) thí nghiệm trên ống kính có tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh ngoài da.
Tác dụng kháng độc tố botulinum: Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng đã được dùng một liều gây chết độc tố botulinum, toosendanin dùng bằng tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da hoặc uống sau 6 giờ kể từ khi dùng độc tố đều có tác dụng bảo vệ được chuột khỏi tử vong đạt 80%. Thí nghiệm trên khi đã bị ngộ độc bởi độc tố botulinum tuýp A, B, C, toosendanin dùng 24 giờ sau khi ngộ độc có khả năng bảo vệ được 50% súc vật thí nghiệm thoát khỏi tử vong. Điều đó chứng tỏ toosendanin có khả năng kháng nhiều tuýp của độc tố botulinum. Sử dụng kết hợp với huyết thanh kháng độc tố botulinum A, thì toosendanin có tác dụng giảm một cách đáng kể lượng huyết cần cho quá trình giải độc. Thí nghiệm trên tiêu bản dây thần kinh hoành cách cơ hoành (phrenic nerve diaphragm) của chuột nhắt trắng cho thấy toosendanin có tác dụng phong bế sự dẫn truyền ở khớp thần kinh cơ (neuromuscular junction).
Ngoài ra, toosendanin còn có tác dụng kích thích ruột thỏ cô lập và tại chỗ, tăng cường trương lực và biên độ co bóp của ruột, do đó dùng toosendanin tẩy giun thì không cần dùng thuốc xổ.
Sau khi hấp thụ, thuốc được đào thải khỏi cơ thể rất chậm. Sau khi dùng thuốc 24 giờ, lượng thuốc đào thải qua nước tiểu và phân là 51% khi dùng thuốc bằng đường tiêm tĩnh mạch, 27% sau khi tiêm bắp thịt và 47% sau khi cho thuốc qua dạ dày. Sau khi dùng thuốc 11 ngày thì lượng thuốc bài tiết đạt 75 – 80%, chứng tỏ thuốc có độ tích lũy nhất định không nên dùng liên tiếp.
Độc tính: Độc tính của toosendanin thay đổi khá lớn tùy theo loài động vật, độ mẫn cảm thấp tuần tự như sau: Mèo, chó và khỉ, thỏ, chuột cống trắng, chuột nhắt trắng. LD50 của toosendanin thí nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm xoang bụng là 13,8 mg/kg, bằng đường tiêm tĩnh mạch là 14,3 mg/kg và bằng đường uống là 244 mg/kg, còn trên chuột cống trắng LD50 của thuốc bằng đường tiêm xoang bụng là 9,8 mg/kg và trên thỏ bằng đường tiêm tĩnh mạch là 4,2 mg/kg. Thuốc có tác dụng kích thích dạ dày. Thí nghiệm trên chuột cống trắng dùng liều lớn 20 – 40 mg/kg cho thẳng vào dạ dày có tác dụng làm cho niêm mạc phù nề, loét, do đó người có loét dạ dày không nên dùng. Dùng với liều 8 – 10 mg/kg thí nghiệm trên chó có tác dụng gây tổn thương xuất hiện sau khi dùng thuốc 3 – 6 giờ. Trong thí nghiệm độc tính bán cấp trên chó, toosendanin dùng với liều 10 mg/kg/lần, cho thẳng vào dạ dày, dùng 5 lần, cứ 2 ngày dùng một lần cho thấy tế bào gan phù nề, men GOT, GPT tăng, nhưng không có hiện tượng tế bào gan hoại tử nên các tổn thương trên có thể hồi phục. Tuy vậy trên lâm sàng những bệnh nhân có bệnh gan không nên dùng. Uống toosendanın với liều lớn gây ngộ độc cấp tính với biểu hiện suy tuần hoàn cấp do tính thẩm thấu của thành mạch tăng, xuất huyết nội tạng, huyết áp tụt và có thể dẫn tới tử vong nếu không xử lý kịp thời.
Ở Việt Nam, Đỗ Tất Lợi và cộng sự đã nghiên cứu nhiều mặt về xoan để làm thuốc trị giun đũa. Từ năm 1967 các tác giả Đỗ Tất Lợi, Đỗ Văn Thủ đã phối hợp với Trạm vệ sinh phòng dịch tễ y tế Hòa Bình tiến hành tẩy giun bằng vỏ xoan. Đỗ Văn Thủ đã tiến hành các thí nghiệm sau: Chiết vỏ xoan bằng nước đun sôi theo lối sắc thuốc, cô thành cao mềm và chiết cao mềm bằng cồn ethylic, thu hồi cồn được nhựa màu vàng có vị đắng, mùi hăng hăng, có tác dụng làm chết giun lợn trong 30 phút. Thí nghiệm khác chiết vỏ xoan bằng nước sau đó cô thành cao mềm và chiết cao mềm bằng aceton. Bốc hơi aceton, được thử nhựa màu vàng, nhựa này có tác dụng làm giun lợn chết 20 phút sau khi tiếp xúc với thuốc. Tỷ lệ nhựa thu được bằng phương pháp cồn là 0,42%, bằng phương pháp aceton là 0,21%. Năm 1973, Đỗ Tất Lợi và cộng sự đã chiết được hoạt chất của vỏ xoan và chế thành viên 0,10g đặt tên là Melia. Năm 1978, Phó Đức Thuần và cộng sự đã nghiên cứu độc tính hoạt chất Melia và đã đi đến kết luận sau: Liều LD50 của hoạt chất có phản ứng nhựa (đặt tên là Melia 1) trên chuột nhắt trắng sau 24 giờ là 1,356 g/kg và sau 48 giờ là 1,277 g/kg, còn của hoạt chất có alkaloid (đặt tên là Melia 2) là 4,375 g/kg (sau 24 giờ) và 4,077g/kg (sau 48 giờ). Nếu đem so sánh với LD50 của santonin trong cùng điều kiện thí nghiệm là 0,485 g/kg (sau 24 giờ) và 0,444 g/kg (sau 48 giờ) thì cả 2 dạng Melia 1 và Melia 2 đều ít độc hơn santonin và có độ an toàn lớn. Ngoài ra, trên tiêu bản tim ếch cô lập, Melia với nồng độ 1 – 5% làm giảm biên độ co bóp tim nhưng không làm thay đổi nhịp tim, ở nồng độ > 5% thì tim ngừng co bóp. Trên hệ mạch cô lập, Melia 1 từ nồng độ 1% trở lên có tác dụng làm giãn mạch rõ rệt. Đối với huyết áp, Melia với nồng độ 1 – 3% xuất hiện hạ huyết áp nhưng không đáng kể mà biểu hiện rõ rệt nhất là hô hấp giảm dần rồi ngừng thở, với nồng độ 1% thỏ đã xuất hiện khó thở kèm theo những cơn ngừng thở kéo dài, đến nồng độ ≥ 3% thì thỏ ngừng thở rồi chết. Tác dụng kích ứng niêm mạc ruột và tác dụng gây tích lũy ảnh hưởng xấu đến công năng gan cần chú ý để tránh dùng thuốc liên tục kéo dài.
Quả xoan: Theo tài liệu Trung Quốc, quả xoan có độc, đã có báo cáo trẻ em tử vong do ăn quả xoan. Triệu chứng ngộ độc là nôn mửa, tiêu chảy, khó thở, tim đập nhanh. Cho chó ăn quả xoan thì xuất hiện nôn mửa ngay nên ít bị ngộ độc, cho bò ngựa ăn có thể bị ngộ độc, còn lợn thì rất nhạy cảm, ăn khoảng 200g quả xoan, sau nửa giờ xuất hiện triệu chứng ngộ độc, sau 2 – 3 giờ gây tử vong. Triệu chứng chủ yếu dẫn đến tử vong là thần kinh trung ương bị ức chế, hôn mê, giải phẫu bệnh lý cho thấy viêm cấp tính dạ dày – ruột, gan xung huyết, phổi ứ máu. Quả xoan chín độc hơn quả xoan còn non. Thành phần gây độc có thể là một protein.
Về tác dụng kháng khuẩn, quả xoan có tác dụng ức chế sự phát triển của Staphylococcus aureus.
6. Công dụng của xoan ta
Xoan có vị đắng, tính hàn, có độc khi dùng cần hết sức chú ý, có tác dụng thanh nhiệt, táo thấp, sát trùng.
Vỏ xoan và hoạt chất toosendanin đã được một số nước dùng làm thuốc trị giun. Đặc biệt ở Trung Quốc, người ta đã dùng vỏ xoan điều trị cho hơn 20.000 bệnh nhân nhiễm giun đũa, dùng viêm toosendanin điều trị cho trên 5000 bệnh nhân và đã có một số nhận xét sau đây: Vỏ thân và vỏ rễ xoan đều có tác dụng diệt giun. Kết quả lâm sàng cho thấy vỏ rễ có tác dụng mạnh gấp đôi vỏ thân. Vỏ thân ở đoạn gốc cũng có tác dụng tương đương vỏ rễ. Thu hoạch tốt nhất vào mùa đông xuân trước khi cây nảy lộc. Về dạng thuốc thường dùng dạng nước, cũng có thể dùng dạng viên. Thành phần có tác dụng khó tan trong nước nên cần dùng nhỏ lửa sắc lâu. Liều dùng thích hợp cho người lớn 4,5 – 9g vỏ khô. Viên hoạt chất toosendanin, người lớn dùng 6 – 8 viên, trẻ em 2 – 4 tuổi dùng 2 viên, 4 – 8 tuổi dùng 3 – 4 viên (mỗi viên chứa 0,025 g toosendanin). Về hiệu quả tẩy giun, dùng trị giun đũa, sau khi dùng thuốc thời gian giun bị tống ra ngoài xuất hiện chậm, thường sau 24 – 48 giờ nhưng cũng có trường hợp sau vài giờ. Tỷ lệ ra giun không ổn định đạt từ 20 – 100%, tỷ lệ phân sạch trứng giun đạt 5,5 – 92,8%.
Đã có báo cáo cho biết dùng nước sắc và xoan điều trị 50 trường hợp tắc ruột do giun đạt kết quả tốt. Phương pháp như sau: dùng 200 ml nước sắc vỏ xoan 25% thụt trực tràng, sau đó nửa giờ dùng 300 – 500 ml thụt lần thứ 2, sau đó 1 giờ dùng 600 ml thụt lần thứ 3. Nếu sau 24 giờ không thấy giun bị tống ra ngoài thì lặp lại các bước trên một lần nữa. Nếu có tình trạng mất nước nghiêm trọng thì phải bổ sung dịch truyền trước. Ngoài ra người ta còn dùng rễ xoan tươi (120 g) không bỏ vỏ, dưới dạng nước sắc 100% chữa giun chui ống mật đạt kết quả nhất định. Về tác dụng phụ và độc tính, dùng vỏ xoan thường xuất hiện tác dụng phụ sau khi dùng thuốc 1 – 6 giờ, biểu hiện đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng, tỷ lệ xuất hiện tác dụng phụ có khi đạt 100% nhưng cũng có khi rất thấp, thường xuất hiện trong khoảng vài phút đến vài giờ nhưng cũng có khi kéo dài tới 15 – 16 giờ. Nhẹ thì các triệu chứng trên tự nhiên biến mất, không cần xử lý. Còn khi bị ngộ độc nghiêm trọng thì xuất hiện liệt hô hấp, xuất huyết nội tạng, rối loạn thị giác, rối loạn tâm thần, có khi dẫn tới tử vong. Hoạt chất toosendanin có tác dụng kích thích niêm mạc dạ dày, ruột, gây tổn thương gan, có tác dụng tích lũy do đó không nên dùng liên tục. Ngộ độc thường là do dùng quá liều hoặc bệnh nhân mẫn cảm với thuốc. Khi bị ngộ độc có thể dùng nước sắc cam thảo với đường trắng làm thuốc giải độc.
Ngoài ra vỏ xoan còn có tác dụng diệt giun kim và giun tóc.
Ở Việt Nam, vào những năm 60 của thế kỷ 20, Đỗ Tất Lợi đã nghiên cứu dùng vỏ xoan để tẩy giun, thấy trên toàn bộ những người thí nghiệm và trên 117 trường hợp theo dõi cẩn thận, không có ai dùng thuốc có thể hiện phản ứng xấu. Toàn bộ những người dùng thuốc đều ra giun kim, 86% ra giun đũa, có em bé ra tới 105 con giun và có người đã uống nhiều thuốc tẩy giun khác như sirô piperazine, santonin chưa bao giờ ra giun, nay uống vỏ xoan đã ra giun. Tuy vậy khi dùng rộng rãi trong nhân dân do vỏ xoan có độc và liều dùng thường không chính xác nên đã gây nên một số vụ ngộ độc nghiêm trọng, cho nên gần đây hầu như không thấy sử dụng vỏ xoan để trị giun. Mặt khác hiện nay trên thị trường đã có nhiều thuốc trị giun hiệu quả lại an toàn hơn vỏ xoan nhiều.
Dưới đây xin giới thiệu những dạng dùng vỏ xoan có kinh nghiệm ở Việt Nam:
- Dạng bột: Bóc lấy vỏ xoan, cạo bỏ lớp vỏ nâu bên ngoài, chỉ lấy vỏ lụa, sao cho hơi vàng, đỡ mùi hăng rồi tán nhỏ, chia thành từng gói (0,7 – 1,0 g). Liều dùng như sau: trẻ em dưới 1 tuổi ngày uống 0,15 – 0,20g; trẻ 2 tuổi uống 0,2 – 0,25g; 3 tuổi uống 0,25 – 0,35 g; 4 tuổi uống 0,35 – 0,50 g; từ 5 tuổi trở lên uống 0,7 – 1,0g; 10 tuổi trở lên uống 1,50 – 2,0g. Người lớn uống 2,0 – 3,0g bột. Uống liền 3 buổi sáng sớm vào lúc đói.
- Dạng thuốc sắc: Vỏ lấy về cạo bỏ lớp vỏ nâu bên ngoài, thái nhỏ, phơi khô và sao cho bớt mùi hăng. Sắc 4 nước, mỗi lần đun sôi và giữ sôi 1,5 – 2,0 giờ. Cô các nước sắc lại cho có trọng lượng bằng vỏ ban đầu. Sau đó thêm cùng một thể tích sirô đơn. Trộn đều uống liều như sau: Trẻ em 1 – 2 tuổi uống 20 ml tương đương với 10g vỏ khô; 3 – 5 tuổi uống 30 ml tương đương 15g vỏ khô; 6 – 9 tuổi uống 40 ml tương đương 20g vỏ khô; 16 – 19 tuổi uống 65 ml tương đương 32,5g vỏ khô; trên 19 tuổi uống 75 – 80 ml tương đương 37,5 – 40g vỏ khô. Uống vào sáng sớm lúc đói. Nhịn ăn đến trưa ăn uống bình thường. Chỉ dùng 1 buổi sáng.
- Dạng viên Melia: Trẻ em 1 – 4 tuổi uống 1 – 3 viên; 5 – 15 tuổi uống 4 – 6 viên; trên 15 tuổi dùng liều 7 – 10 viên.
Ghi chú: Lá xoan được dùng làm thuốc diệt côn trùng, sâu bọ. Người ta cho lá xoan vào chum đựng các loại hạt như đậu, ngô để tránh mọt, nấm, hoặc dùng nước sắc lá xoan (4 kg lá với 10 lít nước) phun lên những cây bị sâu bọ ăn hại. Các bộ phận của cây xoan đều có độc khi dùng cần hết sức thận trọng.
Địa chỉ mua hạt giống xoan ta uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm hạt giống xoan ta phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.








