Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Sâm khoai hay khoai sâm, cây yacón, địa tàng thiên, sâm đất, tên tiếng Anh là yacón, Peruvian ground apple (danh pháp khoa học là Smallanthus sonchifolius (Poepp.) H.Rob.) là loài thực vật thuộc họ Cúc Asteraceae.
Sâm khoai hay yacón đôi khi bị nhầm lẫn với cây củ đậu hay jícama (Pachyrhizus erosus (L.) Urb.) vốn không có quan hệ họ hàng, thuộc họ Đậu Fabaceae, do tại Ecuador yacón thường được gọi là jícama. Trái lại, yacón lại có quan hệ gần gũi với cây hướng dương (Helianthus annuus L.) và cúc vu hay atisô Giê-ru-xa-lem (Helianthus tuberosus L.). Sâm khoai không mẫn cảm với quang chu kỳ, nhờ đó có thể cho năng suất thương mại cao ở vùng cận nhiệt đới cũng như tại các khu vực miền núi.



Mô tả cây sâm khoai
Cây thảo lâu năm, có thể mọc cao tới 2,5 mét. Thân hình trụ hoặc có cạnh, rỗng khi lớn. Lá mọc đối, hình tam giác, có lông ở mặt trên. Phần nằm dưới mặt đất gồm thân rễ sinh trưởng và khoảng độ 20 thân rễ dự trữ hay rễ củ. Rễ sinh trưởng liên tục phát sinh chồi mang lá, trong khi rễ củ lại là sản phẩm có ý nghĩa kinh tế chính của cây. Rễ củ có thể dài tới 25 cm, rộng 10 cm, nặng từ 0,2 đến 2,0 kg, màu vỏ thay đổi tùy giống, từ trắng hoặc hồng đến nâu. Khi gặp giá lạnh, phần trên mặt đất sẽ lụi đi; cây sẽ tái sinh từ thân rễ khi gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Nhiệt độ sinh trưởng tối ưu là 18 – 25oC (Nicolas Dostert et al.; 2009).
Hoa nhỏ, rất khó nhìn thấy vào cuối mùa sinh trưởng. Thời điểm ra hoa phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường. Nếu thuận lợi, cây sẽ cho hoa sau 6 – 7 tháng kể từ khi trồng và nở rộ khoảng hai tháng sau đó. Cụm hoa hình đầu (pseudanthium) đặc trưng của họ Cúc, màu vàng đến cam, tức một đầu hoa lớn nhưng thực chất gồm nhiều hoa nhỏ. Các hoa lưỡi hay hoa tia (ray floret) màu vàng hoặc cam là hoa cái, dài tới 12 mm, các hoa đĩa (disc floret) màu vàng nâu là hoa đực, dài khoảng 7 mm. Quả bế (achene) có kích thước trung bình 2,2 – 3,7 mm, màu nâu sẫm. Cây ít khi được nhân giống từ hạt do mất quá nhiều thời gian để cây lớn.



Thông tin thêm
1. Canh tác khoai sâm
Sâm khoai có thể dễ dàng được trồng trong vườn ở những nơi chỉ có sương giá nhẹ. Cây sinh trưởng tốt tại Kathmandu (Nepal), miền nam nước Úc (bao gồm Tasmania) và New Zealand, nơi khí hậu ôn hòa và có mùa sinh trưởng kéo dài. Cây cũng được du nhập vào Nhật Bản từ thập niên 1980, sau đó lan rộng sang các quốc gia châu Á khác, đặc biệt là Hàn Quốc, Trung Quốc và Philippines, và dần trở nên phổ biến. Khoai sâm cũng được trồng nhiều tại cao nguyên Atherton ở Queensland. Cây có thể nhân giống bằng hom hoặc bằng các thân rễ màu tím ở gốc thân. Cây không thể tái sinh từ củ; khi không được thu hoạch, củ sẽ thối rữa trong đất, tạo nguồn phân bón tự nhiên cho vụ sau.
Ngoài phạm vi canh tác truyền thống, sâm khoai được trồng trên luống đất tơi xốp vào đầu mùa xuân, gần đợt giá lạnh cuối. Dù cho phần trên mặt đất bị hư hại bởi nhiệt độ thấp làm đóng băng, phần củ sâu trong đất lại không bị ảnh hưởng trừ khi bị đông cứng hoàn toàn. Cây phát triển tốt khi được bón phân đầy đủ.
Sau những đợt giá lạnh đầu vụ, phần thân lá sẽ lụi đi và các rễ củ dự trữ đã sẵn sàng để thu hoạch. Phần thân rễ lâu năm được giữ lại trong đất để nhân giống cho vụ sau, hoặc có thể bảo quản trong tủ lạnh hay chôn tránh sương giá cho đến mùa xuân.
2. Thành phần hoá học (sưu tầm)
Thành phần hóa học của sâm khoai sẽ thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố như địa điểm trồng, phương thức canh tác, mùa sinh trưởng, thời điểm thu hoạch và nhiệt độ sau thu hoạch (Kateřina Valentová et al.; 2006).
Củ sâm khoai (yacón) chủ yếu gồm nước và carbohydrate. Hàm lượng nước chiếm khoảng 70% phần chất tươi, do đó có giá trị năng lượng khá thấp (Nair Massumi Itaya et al.; 2002). Phần chất khô chứa từ 40 – 70% fructooligosaccharide. Inulin, một oligosaccharide β(2→1) có mức độ trùng hợp thấp và là fructooligosaccharide chính trong yacón (Ilkka Ojansivu et al.; 2011). Các oligosaccharide này được biết là không độc, không tiêu hóa được và có vị ngọt. Ngoài ra, có từ 15 – 40% các đường đơn như sucrose, fructose và glucose. Các khoáng chất phong phú nhất trong yacón là canxi và kali. Chưa kể, dịch ép yacón giàu các amino acid thiết yếu dưới dạng tự do (A.M Kapuler; 1993).
Bảng thành phần hóa học của rễ khoai sâm qua các nghiên cứu:
| Thành phần (%) | Janaina Andrea Moscatto et al. (2006) | Alexandre R. Lobo et al. (2007) | Nair Massumi Itaya et al. (2002) |
| Độ ẩm | 7.49 ± 0.17 | Không xác định | 8.09 ± 1.74 |
| Protein | 6.48 ± 0.15 | 2.64 ± 0.07 | 4.50 ± 1.26 |
| Lipid | 0.31 ± 0.01 | 0.61 ± 0.02 | 0.67 ± 0.19 |
| Tro | 3.56 ± 0.02 | 3.85 ± 0.06 | 2.88 ± 0.13 |
| Chất xơ không hòa tan | Không xác định | 7.85 ± 0.17 | 11.79 ± 0.36 |
| Carbohydrate | 82.16 | Không xác định | Không xác định |
| Canxi (mg/g) | Không xác định | 0.83 ± 0.01 | 0.22 ± 0.40 |
| Magiê (mg/g) | Không xác định | 0.62 ± 0.09 | 0.40 ± 0.00 |
Bảng thành phần carbohydrate của rễ khoai sâm qua các nghiên cứu:
| Carbohydrate (%) | Janaina Andrea Moscatto et al. (2006) | Alexandre R. Lobo et al. (2007) | Natalia C. Habib et al. (2011) |
| Fructose | 4.13 | 13.51 | 26.00 |
| Glucose | 1.96 | 8.97 | 10.01 |
| Sucrose | 3.25 | 13.42 | 10.00 |
| Fructooligosaccharide (FOS)/fructan | Không xác định | 55.33 | 52.00 |
| 1-kestose (GF2) | 8.19 | Không xác định | Không xác định |
| Nystose (GF3) | 5.36 | Không xác định | Không xác định |
| Fructofuranosyl-nistose (GF4) | 4.03 | Không xác định | Không xác định |
Các hợp chất chống oxy hóa chính trong sâm khoai là acid chlorogenic và L-tryptophan (Xiaojun Yan et al.; 1999). Ngoài ra, yacón còn chứa nhiều hợp chất phenolic khác, được xác định là acid chlorogenic (acid 3-caffeoylquinic), acid 3,5-dicaffeoylquinic, acid 2,4- hoặc 3,5-dicaffeoylaltraric, acid 2,5-dicaffeoylaltraric và acid 2,3,5- hoặc 2,4,5-tricaffeoylaltraric (Makiko Takenaka et al.; 2003). Các hợp chất phenolic này tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn biểu sinh với đặc tính chuyển hóa đặc thù, đồng thời ức chế sự xâm nhập của mầm bệnh. Polyphenol trong lá và vỏ yacón tạo vị chát và se, hình thành một mùi đặc trưng. Polyphenol cũng là cơ chất cho quá trình hóa nâu enzym ở các mô bị tổn thương của rễ yacón, gây màu xanh lục hoặc đen do phản ứng ngưng tụ giữa polyphenol và amino acid, cùng với quá trình trùng hợp enzym của polyphenol.



Công dụng của sâm khoai
Sâm khoai hiện được trồng ở nhiều quốc gia cho mục đích thực phẩm và y dược. Từ thập niên 1960, phạm vi canh tác đã lan rộng từ Nam Mỹ sang các nước như New Zealand và Nhật Bản. Tại Việt Nam, có thấy cây được trồng tại Đức Trọng (Lâm Đồng), Bát Xát (Lào Cai), chế biến thực phẩm chức năng, phòng trị bệnh tiểu đường.
Củ sâm khoai có thể đem đi ăn sống, luộc, sấy khô, nướng hoặc chế biến thành đồ uống, mứt, siro, giấm, bột và nước ép. Khi ăn tươi, củ có vị ngọt và giòn. Sau thu hoạch, những củ được phơi dưới nắng sẽ cứng sẽ có hương vị ngon hơn so với việc ăn ngay lập tức. Củ thu hoạch có thể bảo quản trong vài tháng, tuy nhiên hàm lượng fructooligosaccharide sẽ giảm dần theo thời gian. Nếu nhiệt độ bảo quản duy trì ở mức 1oC, quá trình chuyển hóa từ fructooligosaccharide sang glucose, fructose và sucrose sẽ chậm lại.
Sâm khoai được cho là có tác dụng tăng cường sức khỏe. Củ chứa phytoalexin, hợp chất phenolic và hàm lượng fructan cao, được xem là các hợp chất có hoạt tính sinh học có lợi. Lá cây được chứng minh có hoạt tính bắt gốc tự do, bảo vệ tế bào và hạ đường huyết (K. Valentová et al.; 2004). Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào ứng dụng khoai sâm cho mục đích y học nhờ tác dụng chống đái tháo đường hiệu quả. Trong y học dân gian Andes, cây được dùng để chữa các bệnh về gan và thận.
Địa chỉ bán cây rau sâm khoai tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống khoai sâm phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Yacón – Wikipedia tiếng Anh.
- Khoai sâm đất (sâm khoai – Smallanthus sonchifolius (Poepp.) H.Rob.) – Trung tâm cây thuốc.
- Nicolas Dostert, José Roque, Asunción Cano, María I. La Torre y Maximilian Weigend (2009). Factsheet – Botanical Data: Yacón – Smallanthus sonchifolius.
- Kateřina Valentová, Aleš Lebeda, Ivana Doležalová, David Jirovský, Breda Simonovska, Irena Vovk, Pavel Kosina, Nikol Gasmanová, Marta Dziechciarková, Jitka Ulrichová (2006). “The biological and chemical variability of yacon”. Journal of Agricultural and Food Chemistry. 54(4): 1347 – 1352.
- Nair Massumi Itaya, Maria Angela Machado de Carvalho, Rita De Cássia Leone Figueiredo-Ribeiro (2002). “Fructosyl transferase and hydrolase activities in rhizophores and tuberous roots upon growth of Polymnia sonchifolia (Asteraceae)”. Physiologia Plantarum. 116(4): 451 – 459.
- Ilkka Ojansivu, Celia Lucia Ferreira, Seppo Salminen (2011). “Yacon, a new source of prebiotic oligosaccharides with a history of safe use”. Trends in Food Science & Technology. 22(1): 40 – 46.
- A.M Kapuler & Sarangamat Gurusiddiah (1993). “The twenty protein amino acids free in the juices of our common vegetables and herbs”. Journal of Home & Consumer Horticulture. 1(1): 3 – 18.
- Janaina Andrea Moscatto, Dionisio Borsato, Evandro Bona, Antonio Sérgio de Oliveira, Maria Celia de Oliveira Hauly (2006). “The optimization of the formulation for a chocolate cake containing inulin and yacon meal”. International Journal of Food Science & Technology. 41(2): 181 – 188.
- Alexandre R. Lobo, Célia Colli, Eliana P. Alvares, Tullia M. C. C. Filisetti (2007). “Effects of fructans-containing yacon (Smallanthus sonchifolius Poepp & Endl.) flour on caecum mucosal morphometry, calcium and magnesium balance, and bone calcium retention in growing rats”. British Journal of Nutrition. 97(4): 776 – 785.
- Natalia C. Habib, Stella Maris Honoré, Susana B. Genta, Sara S. Sánchez (2011). “Hypolipidemic effect of Smallanthus sonchifolius (yacon) roots on diabetic rats: Biochemical approach”. Chemico-Biological Interactions. 194(1): 31 – 39.
- Xiaojun Yan, Masahiro Suzuki, Mayumi Ohnishi-Kameyama, Yasutoshi Sada, Tateo Nakanishi, Tadahiro Nagata (1999). “Extraction and Identification of Antioxidants in the Roots of Yacon (Smallanthus sonchifolius)”. Journal of Agricultural and Food Chemistry. 47(11): 4711 – 4713.
- Makiko Takenaka, Xiaojun Yan, Hiroshi Ono, Mitsuru Yoshida, Tadahiro Nagata, Tateo Nakanishi (2003). “Caffeic Acid Derivatives in the Roots of Yacon (Smallanthus sonchifolius)”. Journal of Agricultural and Food Chemistry. 51(3): 793 – 796.
- K. Valentová, A. Moncion, I. de Waziers & J. Ulrichová (2004). “The effect of Smallanthus sonchifolius leaf extracts on rat hepatic metabolism”. Cell Biology and Toxicology. 20(2): 109 – 120.








