Sửa chính tả và điều chỉnh lại nội dung: 26/3/2025;
Sói rừng hay sói láng, sói nhẵn, thảo san hô (cao shan hu, 草珊瑚), tên tiếng Anh là herba sarcandrae, glabrous sarcandra herb, nine-knotted flower, bone-knitted lotus (danh pháp khoa học là Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai; đồng nghĩa: Chloranthus glaber (Thunb.) Makino) là một loại thực vật có hoa thuộc họ Hoa sói Chloranthaceae.



Mô tả cây sói rừng
Cây nhỏ, cao khoảng 1 – 2 mét. Nhánh tròn, không lông, phân cành đối xứng. Lá mọc đối, dạng xoan bầu dục, dài 7 – 18cm, rộng 2 – 7cm, đầu nhọn, mép lá có răng nhọn, gân bên có 5 cặp; cuống ngắn 5 – 8mm. Hoa màu trắng, nhỏ, nở thành từng bông kép ít nhánh, không cuống; mỗi bông chỉ có một nhị. Quả nhỏ, màu đỏ gạch, gần tròn, kích thước 6 x 4mm, trong chứa nhiều nước.
Thông tin thêm
1. Phân bố của sói rừng
Cây bụi thường xanh, có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, phân bố ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam và Malaysia, tại Việt Nam cây có thể tìm thấy ở Lạng Sơn, Bắc Thái, Hòa Bình, Hà Nội đến Kon Tum, Lâm Đồng, mọc hoang ở những vùng núi đất, bìa rừng và ven đồi ẩm.
Cây được trồng để lấy hoa ướp trà, có thể dùng tươi hoặc phơi khô trong râm. Thu hái vào mùa thu, có thể hái phơi khô và bảo quản, gói kín để sử dụng cả năm. Rễ cây thu hoạch quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô trong râm.
2. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Báo cáo khoa học “Nghiên cứu thành phần hóa học cao chiết n-hexan của cây sói rừng (Sacandra glabra) ở Thái Nguyên” của Lành Thị Ngọc, Lê Quang Ưng (2023):
Bằng các phương pháp sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng, từ cặn chiết n-hexan, etyl axetat của cây Sói rừng (Sacandra glabra) đã phân lập được 3 hợp chất sạch. Sử dụng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) đã xác định được cấu trúc hóa học của 3 hợp chất: trong đó 01 hợp chất Stigmast-5,22-dien-3-β-ol (1) và 2′,6′-dihydroxy-3′,4′-dimetoxychalcon (2) và 5-hydroxy-6,7-dimetoxyflavanon (3).
Báo cáo khoa học “The traditional uses, phytochemistry and pharmacology of Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai, a Chinese herb with potential for development: Review” của Yuanlian Zeng cùng cộng sự (2021):
Từ những năm 1970, các thành phần hóa học của S. glabra đã thu hút sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước. Cho đến nay, hơn 200 hợp chất đã được phân lập và xác định từ S. glabra, bao gồm các sesquiterpen, flavonoid, phenolic acid, coumarin, lignan, anthraquinone, tinh dầu, một lượng nhỏ amino acid, nguyên tố vi lượng, polysaccharide và proteoglycan. Trong số đó, flavonoid được coi là thành phần hoạt động chính trong S. glabra. Các thành phần hóa học được liệt kê ở dưới và giữ nguyên số thứ tự được ghi trong báo cáo:
- Sesquiterpen: Chloranthalactone (A, B, E, F, G) (1, 2, 3, 5, 6); Chloranthalactone E 8-O-β-D-glucopyranoside (4); chloranoside (A, B) (7, 8); sarcandralactone (A → E) (10 → 14); 8β, 9α-dihydroxylindan-4(5),7(11)-dien-8α,12-olide (15); sarcaglaboside (A → H) (25 → 32); 3-eudesmene-1β,7,11-triol (39); sarglabolide (A → K) (73 → 83); …
- Diterpene: 15-hydroxy-12-oxolabda-8-(17),13E-dien-19-oicacid (98); sarcandroside (A, B) (102, 103); lupeol (104); ursolic acid (107); oleanolic acid (108); …
- Flavonoid: Kaempferol (109); quercetin (111); rutin (116); hyperoside (117); epimedin C (118); isoastilbin (121); pinostrobin (123); 2′,6′-dihydroxy-4′-methoxydihydrochalcone (135); …
- Acid hữu cơ: Rosmarinic acid (149); methyl rosmarinate (151); caffeic acid (153); chlorogenic acid (157); protocatechuic acid (164); dibutyl phthalate (172); N-heptadecanoic acid (182); …
- Coumarin: Esculetin (183); isoscopoletin (184); scopletin (185); fraxetin (186); fraxidin (189); scopolin (190); eleutheroside B1 (193); …
- Anthraquinone: Chrysophanol (206); emodin (207); citreorosein (208); physcion (209); emodin-8-O-β-d-glucopyranoside (210).
- Steroid: β-sitosterol (211); daucosterol (212).

Công dụng của sói rừng trong Đông y
Theo Đông y, sói rừng có vị đắng cay, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khư phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực. Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương. Theo Perrot và Hurrier (1906), toàn bộ cây sói rừng cũng được dùng để chữa bệnh động kinh. Ở Trung Quốc, cây được dùng trị ung thư tuỵ, dạ dày, trực tràng, gan, cuống họng, viêm não B truyền nhiễm, lỵ trực trùng, viêm ruột thừa cấp, bệnh nhọt, ngã tổn thương, gãy xương, thấp khớp tạng khớp, đau lưng. Liều dùng 15 – 30 gram, sắc uống hoặc tán thành bột pha với rượu uống.
Mua cây giống sói rừng ở đâu uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống sói rừng phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Sói rừng (Sarcandra glabra) – Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy.
- Sói rừng (thực vật) – Wikipedia tiếng Việt.
- Lành Thị Ngọc, Lê Quang Ưng (2023). “Nghiên cứu thành phần hóa học cao chiết n-hexan của cây sói rừng (Sacandra glabra) ở Thái Nguyên”. Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào. 9(4); ISSN: 2354 – 1431.
- Yuanlian Zeng et al. (2021). “The traditional uses, phytochemistry and pharmacology of Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai, a Chinese herb with potential for development: Review”. Front Pharmacol. 12:652926.








