Ảnh tham khảo

Ảnh chụp Trichanthera gigantea tại miền trung Colombia. Nguồn: Wikipedia Commons.

Quiebra barrigo (Trichanthera gigantea). Nguồn: Wikipedia Commons.

Ảnh chụp hoa chè đại tại Ecuador, Pichincha, Mindo. Nguồn: Wikipedia Commons.
Bộ sưu tập















Sửa chính tả và điều chỉnh lại nội dung: 27/3/2025;
Chè khổng lồ hay chè đại (danh pháp khoa học là Trichanthera gigantea Humb. & Bonpl. ex Steud.) là một loài thực vật có hoa trong họ Ô rô Acanthaceae, họ phụ Ancanthoideae, bộ Hoa môi Lamiales. Cây tiểu mộc, thân bụi, năng suất lá cao, có khả năng sống trong nhiều điều kiện khí hậu và sinh thái khác nhau. Đặc biệt thích hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, Campuchia, Philippines, … và là nguồn thức ăn dồi dào không thể thiếu cho gia súc ăn cỏ, gia cầm và thuỷ sản.
>>>> Nhân giống chè khổng lồ đơn giản với lọ siêu ra rễ
Mô tả cây chè khổng lồ
Chè khổng lồ là cây thân bụi gỗ sống lâu năm, ngoài tự nhiên còn có thể mọc cao 5m, đường kính gốc vào khoảng 7 – 10 cm, nếu không thu cắt cây có thể mọc cao tới tận 15 m với đường kính gốc 25 cm. Còn nếu trồng thành luống tại vườn ươm cây chỉ đạt chiều cao tối thiểu 25 – 30 cm. Cây mọc thẳng, có tán tròn, phân cành bậc 2, trên thân có nhiều mấu lồi nhỏ phân bố thẳng hàng dọc theo thân cây, tạo nên 2 – 4 đường bên ở 2 phía dọc theo thân. Trên thân cây phân nhiều cành nhánh, các cành mọc ra luôn luôn có chiều hướng thẳng. Khi còn non thân cây mềm mọng nước. Sau gần 6 tháng sinh trưởng thân hóa gỗ cứng ở phía ngoài, màu nâu, phía trong mềm nhưng không hoá bấc. Lá hình cánh quạt dài đến 26 cm và rộng 13 – 14 cm, màu xanh sẫm, thuôn nhọn về đỉnh, cuống dài 1 – 5 cm, mọc đối chéo chữ thập, lá đơn nguyên, giòn, có lông nhỏ mịn và hơi ráp, khi khô lá ngả màu đen.

Mỗi quả của cây chè khổng lồ T. gigantea có trung bình từ 35 – 40 hạt, trung bình có 1123 quả/kg và 4.050.000 hạt/kg (Acero, 1985 ©). Tuy nhiên, hạt cây thường khó hoặc hiếm khi nảy mầm nên tỷ lệ trồng bằng hạt thường chỉ đạt 0 – 2 % (Arango, 1990 ©) nên người ta thường chọn cách nhân giống chủ yếu bằng hom. Theo McDade (1983 ©) nguyên nhân là do cây không tự thụ phấn khi nhụy hoa không có hạt phấn. T. gigantea có khả năng ra rễ từ gốc đến ngọn, ngay cả một mẩu lá nhỏ cũng có khả năng ra rễ, tuy nhiên, lá lại không có khả năng tạo thành cây mới. Rễ là một trong những bộ phận giúp T. gigantea có thể nhân giống, phần thân trưởng thành tại vị trí gần đất sẽ hình thành rễ, các rễ này khi tiếp xúc với đất sẽ hình thành cây mới (Gómez và Murgueitio, 1991 ©).
Chè khổng lồ T. gigantea có khả năng nhân giống vô tính rất nhanh, trong 6 tháng từ một cây con có thể cho ra ít nhất 100 cây mới. Theo tìm hiểu thì khi sử dụng các đoạn hom có đường kính 4 cm, dài 50 cm để nhân giống thì tỷ lệ nảy mầm có thể đạt 95% (Acero, 1985 ©). Khi sử dụng cây có đường kính 2,2 – 2,8 cm; dài 20 cm và có 2 mắt lá thì tỉ lệ nẩy mầm là 92%. Nhưng khi sử dụng các đoạn hom có đường kính lớn hơn (3,2 – 3,8 cm) và chiều dài ngắn hơn (20 – 30 cm) để nhân giống thì tỷ lệ mọc mầm chỉ đạt được 50% (Jaramillo và Rivera, 1991 ©).
Chè khổng lồ có hoa nở theo chu kỳ nhưng chỉ thấy cây ra hoa ở vùng miền Nam Việt Nam còn vùng miền Bắc thì chưa thấy. Cây ưa ẩm, chịu bóng râm vừa, có tốc độ sinh trưởng đều trong năm. Tuy nhiên nếu gặp sương muối cây bị táp lá và sinh trưởng kém. Cây cũng rất nhạy cảm với phân đạm: Khi thiếu đạm lá ngả màu vàng, nhưng cũng chỉ một lượng nhỏ phân đạm cũng làm lá xanh trở lại. Cây được trồng chủ yếu bằng phương pháp giâm cành và cành giâm có thể nảy mầm tốt ở các mùa trong năm. Cây ưa ẩm vừa phải, nếu ở nơi thiếu nước thì năng suất bị hạn chế vì cây có lá mỏng và to bản nên thoát nước rất mạnh. Giống này ít bị sâu bệnh nhưng khi trồng với mật độ cao và đất quá ẩm thì nó thường bị bệnh thối nhũn lá, hầu hết lá chuyển thành màu xám đen và nhũn với tốc độ lây lan rất nhanh. Cách chữa trị hết sức đơn giản, chỉ cần cắt bỏ những cây bị sâu bệnh, sau đó thu hoạch toàn bộ, làm sạch cỏ, bón bổ sung phân lân và vôi.
>>>> Rất nhiều bạn bị nhầm lẫn chè khổng lồ với cây lá đăng (mật gấu)
Thông tin thêm
1. Nguồn gốc của chè khổng lồ
Chè khổng lồ T. gigantea vốn có nguồn gốc ở Colombia và được phát hiện mọc ở chân đồi Andean dọc bờ suối và các khu vực đầm lầy từ Costa Rica đến miền bắc Nam Mỹ (Mc Dade, 1983 ©) và các rừng mưa từ Trung Mỹ đến Peru và lưu vực sông Amazon, cũng thấy phổ biến trên một số đảo ở cửa sông Amazon (Record và Hess, 1972 ©).
2. Đặc điểm sinh thái
Chè khổng lồ thích nghi được với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Cây có phản ứng ánh sáng tán xạ nên có thể phát triển được cả ở những nơi có bóng râm.
Cây sống ở độ cao khoảng từ 0 đến 2000 mét (Murgueitio, 1989 ©); 800 đến 1.600 mét (Acero, 1985 ©) và từ 500 đến 1.800 mét (Jaramillo và Corredor, 1989 ©) so với mực nước biển. Cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm và lượng mưa hàng năm từ 1.000 đến 2.800 mm (Acero, 1985; Jaramillo và Corredor, 1989 ©), nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển được ngay cả khi lượng mưa hằng năm lên đến 5000 đến 8000 mm (Murgueitio, 1989 ©). Đặc biệt, chè khổng lồ phát triển được trong điều kiện đất chua (pH = 4,5), kém màu mỡ nhưng phải thoát nước tốt.
3. Thành phần hóa học và dinh dưỡng
Bài báo nghiên cứu “Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến hoạt tính sinh học của chè đại (Trichanthera gigantea)” của Nguyễn Trọng Hồng phúc cùng cộng sự (2022):
Chè đại (Trichanthera gigantea) là loài có giá trị dinh dưỡng thường được dùng làm thức ăn vật nuôi. Nghiên cứu này khảo sát thành phần hóa học, hiệu quả kháng oxy hóa và kháng khuẩn của chè đại thông qua phương pháp phản ứng so màu, phương pháp trung hòa gốc tự do DPPH và phương pháp khuếch tán giếng thạch. Kết quả cho thấy có 18 hợp chất hóa học trong lá Chè đại gồm amino acid – protein, acid hữu cơ, betalanins, carbohydrate, carotenoid, chất nhầy, coumarin, diterpenes, flavonoid, gum – nhựa, phenol, phlobatannin, phytosterol, polyuronid, saponin, tanin, tinh dầu và xanthoprotein. Chè đại trồng ở điều kiện nắng có hoạt tính kháng oxy hóa cao hơn môi trường ngập nước và môi trường bóng râm, với EC50 tương ứng là 40,92 ± 1,86, 265,73 ± 19,49 và 294,36 ± 19,55 µg/mL. Cao chiết lá Chè đại có khả năng kháng 3 dòng khuẩn là Bacillus cereus, Bacillus subtilis, Escherichia coli nhưng không có hiệu quả với Salmonella sp. và Staphylococcus aureus. Kết quả nghiên cứu cho thấy Chè đại có tiềm năng gia tăng giá trị dinh dưỡng và sức đề kháng của vật nuôi khi bổ sung vào khẩu phần ăn.
Báo cáo “Nghiên cứu sử dụng lá cây chè đại (Trichanthera gigantea) bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn thịt F1 (♂R × ♀ĐP) nuôi tại tỉnh Tuyên Quang” của Trương Hữu Dũng cùng cộng sự (2019):
Nghiên cứu tiến hành trên 60 lợn lai F1 (♂R x ♀ĐP) nuôi thịt, từ 2 tháng tuổi đến 8 tháng tuổi, được chia 4 lô (15 lợn/lô), bổ sung lá cây Chè đại vào khẩu ăn ở các lô với tỷ lệ từ 0 – 25 – 30 – 35%, kết quả cho thấy:
– Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm ở các lô TN1, TN2 và TN3 cao hơn so với lô ĐC từ 2,58 đến 4,56 kg/con (P < 0,05), trong đó ở lô TN2 cho sinh trưởng tốt nhất, cụ thể là: 31,48 – 33,02 – 31,04 kg/con. Giảm tiêu tốn thức ăn tinh từ 8,32 đến 13,84% ở các lô TN so với lô ĐC.
– Tỷ lệ móc hàm của lợn ở lô ĐC và các lô thí nghiệm tương ứng là: 75,11 – 77,52- 77,71 – 77,40% (P < 0,05). Tỷ lệ thịt nạc của các lô thí nghiệm cao hơn từ 0,81 đến 3,89% so với lô ĐC tương ứng là 44,44 – 46,90 – 48,33 – 45,25% (P < 0,05). Giữa các lô thí nghiệm cho thấy tỷ lệ thịt nạc ở lô TN2 là cao nhất so với lô TN1 và TN3 từ 1,43 đến 3,08% (P < 0,05).
– Thành phần hóa học của thịt lợn ở lô ĐC so với các lô TN là tương đương nhau, cụ thể: tỷ lệ vật chất khô và protein lần lượt là: 25,3 – 25,8 – 26,05 – 25,87%; 22,73 – 22,79 – 22,68% (P > 0,05).
Như vậy, việc bổ sung lá Chè đại vào khẩu phần ăn có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng ở lợn, giảm tiêu tốn thức ăn tinh, tăng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt nạc, thành phần hóa học và chất lượng thịt không thay đổi. Với tỷ lệ bổ sung 30% lá Chè đại trong khẩu phần ăn cho lợn thí nghiệm là hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất.

>>>>> Phèn đen giải pháp ngành chăn nuôi sạch

Cây chè khổng lồ có tác dụng gì ?
Chè khổng lồ được coi là nguồn thức ăn xanh giàu protein cho vật nuôi như bò, dê, lợn và gia cầm. Lá cây chứa hàm lượng protein thô từ 20 – 24%, cao hơn nhiều so với các loại cỏ thông thường. Bên cạnh đó, chè khổng lồ còn cung cấp các khoáng chất như canxi, photpho và vitamin cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi. Việc bổ sung chè khổng lồ trong khẩu phần ăn giúp tăng khả năng miễn dịch, cải thiện chất lượng sữa và tốc độ tăng trưởng.
Chưa kể, cây còn có khả năng chịu hạn tốt, sinh trưởng trên nhiều loại đất và phát triển nhanh mà không cần chăm sóc cầu kỳ, thích hợp trồng làm hàng rào hoặc theo luống giúp chống xói mòn đất và giảm tác động của gió mạnh. Lá và thân cây phân hủy nhanh, tạo lớp mùn giúp cải thiện kết cấu đất, tăng khả năng giữ nước và giảm sự phụ thuộc vào phân hóa học. Đây là giải pháp hiệu quả cho các mô hình nông nghiệp hữu cơ và bền vững.
Ngoài vai trò là thức ăn chăn nuôi, chè khổng lồ còn được sử dụng làm phân xanh nhờ khả năng sinh trưởng nhanh. Người nông dân thường cắt tỉa cây làm phân xanh bón cho đất, thúc đẩy quá trình phân hủy tự nhiên và cung cấp chất hữu cơ. Thân cây cũng có thể được dùng làm nhiên liệu sinh khối (biomass) trong những mô hình tiết kiệm năng lượng tại nông thôn.
Khả năng thích ứng của chè khổng lồ
Như đã nhắc ở trên, chè khổng lồ có khả năng tái sinh rất mạnh, kể cả có thu hoạch nhiều lần mà không cần cung cấp thêm phân bón. Năm 1993, cây được Bộ môn Chăn nuôi – khoa NN – trường Đại học Cần Thơ lựa chọn nghiên cứu và đưa ra trồng thử nghiệm tại nhiều hộ chăn nuôi trong Tp. Cần Thơ từ năm 1996, đến nay đều cho thấy kết quả rất tốt. Chè đại giàu chất dinh dưỡng (hàm lượng đạm cao, nhiều vitamin), gà đẻ được cho ăn lòng đỏ đậm hơn, gà con có da, mỏ vàng hơn, rất hợp với đa số thị hiếu người tiêu dùng. Cây cực dễ trồng, kể cả trồng bằng hom thì tỉ lệ sống cao luôn đạt trên 90%, cây phát triển mạnh trong mùa mưa, hay trong điều kiện bóng râm. Ngoài ra cây có thể trồng trên vùng đất thiếu dinh dưỡng, dọc theo mé mương, ngập nước. Càng ngắt đọt, cây càng phát triển đọt non mới nhiều và càng xanh tốt. Cây chống chịu sâu bệnh cao.
Kỹ thuật trồng cây chè khổng lồ
Có thể trồng chè khổng lồ tập trung với mật độ 4 cây/m2 (50 x 50 cm). Cây con được tạo ra từ đoạn ngọn, thân non hay thân già dài 20 cm và ít nhất có 3 cặp lá thật hay đốt để khi trồng 1 đốt sẽ được vùi xuống dưới mặt đất, đốt này sẽ là nơi ra rễ. Còn một đốt nằm trên mặt đất, đốt này sẽ là nơi ra lá mới.


Đất ươm cây giống cần râm mát. Sau khi giâm cành hay ngọn 15 – 20 ngày, mầm non xuất hiện và khi mầm mới có 2 cập lá thật có thể đem trồng trên ruộng. Tuy nhiên có thể trồng sớm hay muộn tùy thuộc vào thời tiết lúc trồng. Tốt nhất ươm cây con vào cuối tháng giêng và trồng ra ruộng vào tháng 3. Cũng có thể ươm cây con vào tháng 8 và trồng vào cuối tháng 9 để có thể thu hoạch lứa đầu vào tháng 12 hay tháng 1, là lúc thiếu thức ăn xanh.
Bình thường sau 120 ngày có thể thu hoạch lứa đầu ở độ cao cách mặt đất 60 cm và 90 – 100 ngày cho cách lứa tái sinh. Khi cắt nên chừa 3 – 4 cm trên đoạn tái sinh. Sau mỗi lần cắt nên làm sạch cỏ và bón 80 – 100 kg ure/ha và nên bón cho cây một lượng hữu cơ vào đầu mùa xuân hàng năm. Chú ý thu hoạch thường xuyên đừng để cây quá cao, lá già, gia súc không thích ăn.
Địa chỉ bán chè khổng lồ tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống chè khổng lồ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Chè khổng lồ (Trichanthera gigantea) – Wikipedia tiếng Việt (trang này hiện tại đã bị xóa).
- Trichanthera gigantea – Wikipedia tiếng Anh.
- Mauricio Rosales. “Trichanthera gigantea (Humboldt & Bonpland.) Nees: A review “. Livestock Research for Rural Development 9(4) 1997 (kèm nguồn tham khảo phụ được đánh dấu bằng ký tự ©).
- Nguyễn Trọng Hồng Phúc cùng cộng sự (2022). “Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến hoạt tính sinh học của chè đại (Trichanthera gigantea)”. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Tập 58, số 2A:124-131.
- Trương Hữu Dũng, Phan Quốc Toản và Phùng Đức Toàn. “Nghiên cứu sử dụng lá cây chè đại (Trichanthera gigantea) bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn thịt F1 (♂R × ♀ĐP) nuôi tại tỉnh Tuyên Quang”. TNU Journal of Science and Technology. 197(04): 211-216.
- Luận văn Thạc sĩ Sinh học “Ảnh hưởng của bột lá cây chè đại (Trichanthera gigantea) đến năng suất, chất lượng thịt, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, hình thái lớp nhung mao ruột ở gà thịt nuôi tại Thái Nguyên” của Nguyễn Quang Huy. Ngành: Sinh học thực nghiệm. Mã số đề tài: 8420114.
Tìm kiếm thông tin
- Cây chè khổng lồ có tác dụng gì
- Cây chè khổng lồ cho thỏ ăn
- Chè khổng lồ ở miền bắc
- Cây chè khổng lồ cho lợn ăn
- Kỹ thuật trồng cây chè khổng lồ
- Mua giống cây chè khổng lồ ở đâu
- Thành phần dinh dưỡng của cây chè đại
- Bán giống cây chè khổng lồ tphcm