Độ hoàn thiện nội dung: 50% (✅♥️).
✅: Kiểm tra chính tả lần 1
♥️: Kiểm tra chính tả lần 2
Nhân sâm hay viên sâm, dã nhân sâm, tên tiếng Anh là ginseng, Asian ginseng, Chinese ginseng, Korean ginseng (danh pháp khoa học là Panax ginseng C.A.Mey.), là một loài thực vật có hoa thuộc họ Cuồng Araliaceae.
Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Tên nhân sâm do vị thuốc giống hình người. Tên Panax do chữ Hy Lạp pan là tất cả, acos là chữa được, có ý nói vị thuốc chữa được mọi bệnh, ginseng và schinseng là phiên âm chữ nhân sâm.
Mặc dầu vị nhân sâm hiện nay ta vẫn còn phải nhập nhưng công dụng quá phổ biến, nhiều người lầm với một số cây ta có. Liên Xô cũ, Trung Quốc, Triều Tiên đều đã giúp ta hạt giống và mầm để thí nghiệm trồng thử cho nên chúng tôi giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn và để cố gắng đặt vấn đề di thực được nhân sâm.
Nhân sâm (Radix ginseng hay Radix ginseng sylvestris) là rễ chế biến rồi phơi hay sấy khô của cây nhân sâm trồng hoặc mọc hoang. Có tác giả xác định hai loại nhân sâm như sau:
– Nhân sâm mọc hoang: Panax ginseng f. sylvestre Chao et Shih.
– Nhân sâm trồng: Panax ginseng f. sativum Chao et Shih.


Mô tả nhân sâm
Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây nhân sâm là một cây sống lâu năm, cao chừng 0,6m. Rễ mầm thành củ to. Lá mọc vòng, có cuống dài, lá kép gồm nhiều lá chét mọc thành hình chân vịt. Nếu cây mới được một năm (nghĩa là sau khi gieo được 2 năm) thì cây chỉ có 1 lá với 3 lá chét, nếu cây nhân sâm được 2 năm cũng chỉ có 1 lá với 5 lá chét. Cây nhân sâm 3 năm có 2 lá kép, cây nhân sâm 4 năm có 3 lá kép, cây nhân sâm 5 năm trở lên có 4 đến 5 lá kép, tất cả đều có 5 lá chét (đặc biệt có thể có 6 lá chét) hình trứng, mép lá chét có răng cưa sâu.
Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi, cây nhân sâm mới cho hoa, kết quả. Hoa xuất hiện vào mùa hạ. Cụm hoa hình tán mọc ở đầu cành, hoa màu xanh nhạt, 5 cánh hoa, 5 nhị, bầu hạ 2 núm. Quả mọng hơi dẹt to bằng hạt đậu xanh, khi chín có màu đỏ, trong chứa 2 hạt. Hạt cây sâm năm thứ 3 chưa tốt. Thường người ta bấm bỏ đi đợi cây được 4 – 5 năm mới để ra quả và lấy hạt làm giống.
Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống nhiều năm. Rễ phình thành củ thuôn dài, phân nhánh ở quãng giữa trông như hình người. Thân mảnh, mọc đứng, không phân nhánh. Lá kép chân vịt, mọc vòng, gồm 5 lá chét, 3 lá tận cùng lớn hơn các lá bên, hình elip hoặc bầu dục, dài 4 – 15cm, rộng 2 – 6,5cm, gốc hình nêm, đầu hơi nhọn, mép lồi lõm hoặc hơi khía răng. Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán hình bán cầu; hoa tạp tính, màu hồng, có cuống mảnh; đài khía 5 răng không rõ; tràng 5 cánh mỏng; nhị 5. Quả mọng, nhỏ, khi chín màu đỏ. Mùa hoa: tháng 3 – 5; mùa quả: tháng 6 – 8.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây nhân sâm mọc hoang và được trồng ở Trung Quốc, Triều Tiên, vùng Viễn Đông của Liên Xô cũ, còn được trồng ở Nhật Bản, Mỹ, nhưng nổi tiếng vẫn là sâm Triều Tiên và Trung Quốc. Riêng hai tỉnh Liêu Ninh và Cát Lâm (miền Đông Bắc Trung Quốc) sản lượng hàng năm lên tới 750.000kg. Tại Triều Tiên, Khai Thành là nơi trồng nhiều nhân sâm nhất, đã có trên 200 năm kinh nghiệm, Việt Nam tuy đã có thí nghiệm trồng bằng hạt và mầm do các nước bạn Triều Tiên, Liên Xô cũ và Trung Quốc giúp nhưng chưa thành công.
Sau đây chúng tôi giới thiệu sơ lược cách trồng và chế biến nhân sâm của Khai Thành (Triều Tiên).
Chọn hạt giống: Chọn ở những cây sâm mọc khoẻ, tốt đã mọc được 4 hoặc 5 năm (vùng Đông Bắc Trung Quốc chọn những cây đã được 5 – 6 năm) vì cây 3 năm chưa đủ khỏe cây, 6 năm vỏ hạt cứng quá khó nảy mầm.
Gieo hạt: Hạt thu hoạch tháng 8, cuối tháng 10 – 11 gieo hạt, tưới nước và để nằm dưới đất qua mùa đông có tuyết. Cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm sau, hạt nảy mầm. Tỷ lệ nảy mầm đạt tới 47%. Trong thời gian cây lớn cần tưới đều giữ ẩm thích hợp.
Đánh cây con đi trồng: Có thể đánh vào mùa thu (cuối tháng 10 đến trung tuần tháng 11) hoặc vào mùa xuân (đầu tháng 3 đến đầu tháng 4) ngay trong năm đầu sau khi cây nảy mầm. Đánh đi trồng vào mùa xuân thì tốt hơn. Trong thời gian trồng cần che nắng cho nhân sâm, nên cho ánh nắng buổi sáng chiếu vào nhiều tránh nắng trưa và chiều. Phân bón dùng phân xanh và khô dầu, không bón thúc bằng phân bắc và nước tiểu.
Thu hoạch: Sau 6 năm, vào trung tuần tháng 9 và thượng tuần tháng 10 đào củ, chú ý tránh làm rễ bị đứt, không phơi gió, phơi nắng để giữ nguyên độ ẩm trong sâm. Sau đó chia loại sâm tốt để chế hồng sâm, loại kém để chế bạch sâm.
Chế biến nhân sâm: Trên thị trường có nhiều loại sâm do chế biến khác nhau. Ở đây chỉ giới thiệu cách chế biến hai loại hồng sâm và bạch sâm của Triều Tiên:
– Hồng sâm: Chọn những củ sâm to nhất, nặng ít nhất 37g, rửa sạch đất từng củ một bằng bàn chải nhỏ, rửa ở dưới nước, để nguyên cả rễ, kể cả rễ nhỏ, rửa như vậy sẽ được củ sâm trắng ngà. Cho vào nồi hấp ở áp lực hơi nước cao 2 atm từ 1 giờ 20 phút đến 1 giờ 30 phút. Nhiệt độ hấp 80 – 90oC. Sau đó sấy khô ở nhiệt độ 60 – 70oC (6 – 7 giờ) hoặc ở 50 – 66oC (8 – 10 giờ) nên sấy khô hết sức mau. Sau khi sấy khô, dùng tay rút các rễ con để riêng gọi là tu sâm, củ sâm còn lại giống như hình người (nếu không giống thì sửa cho giống) phơi ra nắng từ 7 đến 15 ngày (tùy theo sâm to hay nhỏ) là được. Sau đó chia hồng sâm thành hai cấp. Cấp trời (màu đẹp, dáng đều đặn, giống người), còn lại cấp đất. Cuối cùng đóng gói từng cân ta (600g) một. Loại tốt nhất 15 củ nặng 600g loại kém nhất 60 củ = 600g.
– Bạch sâm: Vì sâm này khô và trắng. Những củ sâm không đủ tiêu chuẩn chế hồng sâm thì đem chế bạch sâm. Trước hết cắt bỏ rễ con, dùng dao tre cạo sạch vỏ mỏng, sau đó phơi nắng cho hơi khô, đem vào sửa thành hình người rồi lại phơi nắng cho khô hẳn. Thời gian phơi cả trước lẫn sau hết chừng 7 đến 15 ngày. Sau đó đóng gói như hồng sâm. Thường hồng sâm được đóng vào hòm gỗ, bạch sâm đóng vào hòm giấy.
Gần đây, tại nhiều nước, nhân sâm đã được phát triển bằng nuôi cấy mô để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về nhân sâm.
Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Panax L. có khoảng hơn 10 loài trên thế giới, phân bố ở vùng ôn đới Bắc bán cầu. Trong đó, nhân sâm là loài cây thuốc nổi tiếng trong nền y học dân tộc Phương Đông từ thời thượng cổ đến nay.
Nhân sâm có vùng phân bố tự nhiên chủ yếu ở vùng núi thuộc Viễn Đông Liên bang Nga, phía bắc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Trung Quốc. Cây đã được trồng từ lâu đời ở bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và Liên bang Nga. Những năm gần đây, cây còn được nhập trồng ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và cả ở Việt Nam. Tuy nhiên qua nhiều lần trồng thử nghiệm, cho đến nay đều chưa thành công ở Việt Nam.
Nhân sâm là cây của vùng ôn đới. Cây ưa khí hậu ẩm mát về mùa xuân hè và chịu đựng tốt trong điều kiện nhiệt độ thấp, với 3 – 4 tháng có băng tuyết của mùa đông. Mặc dù vậy, lượng mưa ở những vùng có nhân sâm mọc tự nhiên cũng như vùng trồng thường thấp hơn nhiều (chỉ bằng 50%) so với ở vùng nhiệt đới. Nhân sâm là cây đặc biệt ưa bóng. Trong tự nhiên, cây mọc dưới tán rừng kín, lẫn trong tầng cỏ quyết. Chính vì vậy, người ta phải trồng nhân sâm trong điều kiện vườn có mái che tới trên 80%. Để thích nghi với thời kỳ có nhiệt độ thấp trong năm, toàn bộ phần trên mặt đất của cây bị tàn lụi qua mùa đông. Chồi ngủ ở đầu rễ củ hình thành ngay từ giữa mùa hè, trong suốt mùa thu đông tồn tại trong trạng thái “ngủ” và chỉ mọc lên khỏi mặt đất vào đầu mùa xuân năm sau. Cây nhân sâm trưởng thành (khoảng 3 – 4 tuổi) ra hoa quả hàng năm. Quả chín rơi xuống tầng thảm mục sẽ tồn tại qua đông và nảy mầm vào mùa xuân năm sau. Hạt nhân sâm khô nhìn chung có khả năng nảy mầm tương đối thấp. Do đó, người ta thường phải gieo hạt lúc còn tươi.
Thu hoạch rễ cây nhân sâm vào mùa xuân và mùa thu. Người ta cho rằng loại mọc hoang tốt hơn loại trồng.
Chế biến: Trong y học cổ truyền người ta phân biệt hai loại chính là hồng sâm và bạch sâm.
Hồng sâm: Chọn củ mầm to, nặng trên 37g, rửa sạch đất cát, cho vào nồi chưng chín trong khoảng 2 giờ, sau đó sấy hoặc phơi khô. Sau khi chế biến thì tinh bột có trong rễ đã chín, khi khô có thể chất trong suốt nửa như sừng, có màu hồng mùi thơm, vị ngọt hơi đắng. “Thân” sâm hình thoi hoặc gần như hình trụ, phần trên và phần dưới thót lại. Phần “đầu” tức là cổ rễ đôi khi nom có vết sẹo của thân, rễ đôi khi phân nhánh nom như cánh tay, phần dưới có 2 hoặc 3 nhánh nom như chân. Toàn bộ củ sâm nom giống hình người nên gọi là nhân sâm, do chữ nhân tiếng Trung Quốc nghĩa là người.
Bạch sâm (hoặc đường sâm): Loại củ sâm không đủ tiêu chuẩn để chế biến thành hồng sâm thì chế bạch sâm. Sau khi rửa sạch đất cát nhúng vào nước sôi vài phút. Sau đó tẩm đường vài ngày rồi phơi hoặc sấy ở nhiệt độ không quá 60oC. Dược liệu đã chế biến thì có mặt ngoài màu trắng ngà, mềm, thường có tinh thể đường bám ngoài mặt, bẻ ra có màu trắng ngà, xốp, mùi thơm, vị ngọt. Ngoài hai loại trên ta còn có các loại khác nhau như:
Sinh sát sâm là loại sâm để nguyên vỏ, sau khi loại đất cát, phơi khô.
Đại lực sâm là loại sâm khi chế biến có nhúng vào nước sôi vài phút rồi lấy ra phơi khô.
Tu sâm là rễ con của củ sâm.
Để làm tăng “tính ấm” của sâm người ta chế thêm gừng (nhân sâm 1kg, gừng tươi 0,1kg). Đem gừng rửa sạch, cạo lớp vỏ ngoài, giã nát vắt lấy nước cốt, tẩm vào nhân sâm phiến, ủ 30 phút cho ngấm hết nước gừng, sao nhỏ lửa cho đến khô.
Hiện nay, trên thị trường còn có loại chè sâm là dịch chiết sâm bốc hơi và bào chế dưới dạng bột hòa tan đựng trong túi giấy bạc.


2. Thành phần hóa học
Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Nhân sâm được nhiều người nghiên cứu từ lâu. Nhưng kết quả còn chưa đáp ứng được đòi hỏi của các nhà khoa học. Sau đây là một số kết quả:
– Trong nhân sâm có loại saponin sterolic. Hỗn hợp saponin có tên là panaxoside trước đây gọi là panaquilon (??) hay panakilon (??).
– Chất glucoside hoặc hỗn hợp glucoside mang tên là panaxin (??) cũng chưa được nghiên cứu sâu. Trước đây gọi là gensenin (??) cũng là một loại saponin chưa tinh khiết lắm.
– Ngoài ra còn có một tí tinh dầu 0,055 – 0,250 làm cho nhân sâm có mùi đặc biệt, trong đó chủ yếu là chất panaxen C15H24.
– Các vitamin B1 và B2, các men diastase.
– Tro chừng 3 – 7% trong đó có chừng 53% axit photphoric.
– Các tạp chất khác gồm nhựa và chất béo tổng số chừng 1,5%. Các axit béo gồm hỗn hợp axit palmitic, stearic và linoleic. Hỗn hợp này mang tên axit panaxic.
– Các chất khác gồm có phytosterin 0,029%, tinh bột chừng 20%, chất pectin 16 – 23% và đường 4% …
– Mới đây người ta lại thấy trong nhân sâm có hàm lượng germanium cao.
Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Thành phần chủ yếu trong rễ sâm là các saponin triterpene. Khi thủy phân các saponin này ta thu được 3 loại sapogenin là acid oleanolic; (20S)-protopanaxadiol và 20(S)-protopanaxatriol, hai loại sau có cấu trúc dammarane. Các saponin có trong nhân sâm gọi là ginsenoside được phân loại dựa vào cấu trúc của 3 sapogenin trên.
Các ginsenoside thuộc loại protopanaxadiol: Ginsenoside Ra1, ginsenoside Ra2, ginsenoside Ra3, ginsenoside Rb1, ginsenoside Rb2, ginsenoside Rb3, ginsenoside Rc, ginsenoside Rd, ginsenoside Rg3, noto-ginsenoside R4, ginsenoside Rh2, ginsenoside Rs1, ginsenoside Rs2, quinquenoside R1, malonyl-ginsenoside Rb1, malonyl-ginsenoside Rb2, malonyl-ginsenoside Rc, malonyl-ginsenoside Rd.
Các ginsenoside thuộc loại protopanaxatriol: Ginsenoside Re, ginsenoside Rf, 20-gluco-ginsenoside Rf, ginsenoside Rg1, ginsenoside Rg2, (20R)-ginsenoside Rg2, ginsenoside Rh1, (20R)-ginsenoside Rh1, noto-ginsenoside R1.
Các ginsenoside thuộc loại acid oleanolic: Trong rễ nhân sâm chỉ có 1 loại được đặt tên là ginsenoside Ro có cấu trúc hóa học là (3β)-28-(β-D-
glucopyrano syloxy)-28- oxoolean-12- en-3-yl 2-O-β-D-gluco pyranosyl-β- D-glucopyrano siduronic acid với hàm lượng 0,02 – 0,04%. Các chất ginsenoside Rc, Rg1 và Ro là những chất đại diện cho các saponin thuộc các nhóm protopanaxadiol, protopanaxatriol và acid oleanolic, chúng được dùng làm chất đối chiếu để định lượng saponin trong rễ nhân sâm (trong Dược điển Trung Quốc).
Các thành phần saponin ở các bộ phận trên mặt đất của cây nhân sâm bao gồm cành, lá, hoa búp và quả cũng được nhiều tác giả nghiên cứu, bên cạnh các ginsenoside Rb1, Rb2, Rc, Rd, Re, Rg1, Rg2, Rg3 và 20-gluco-ginsenoside Rf còn có các ginsenoside F1, F2, F3 được chiết xuất từ lá, trong đó ginsenoside F2 thuộc nhóm protopanaxadiol còn ginsenosid F1, F3 thuộc nhóm protopanaxatriol.
Hàm lượng saponin trong các bộ phận của cây được xếp theo thứ tự sau: nụ hoa > quả, cành > lá > rễ > hạt. Lá được xem là nguồn nguyên liệu tốt để chiết xuất saponin của nhân sâm. Sau khi loại các chất béo bằng ether dầu, lá được chiết với ethanol 90%, phần dịch chiết ethanol được làm khô dưới áp suất giảm thu được saponin. Các phương pháp chế biến cũng ảnh hưởng đến hàm lượng saponin của nhân sâm, hàm lượng ginsenoside toàn phần cao nhất ở loại rễ nhân sâm được làm khô theo phương pháp lạnh, tiếp theo là loại làm khô dưới ánh nắng mặt trời và các rễ đồ bằng hơi nước. Hàm lượng saponin cao nhất là rễ sợi (fibrous root) rồi đến rễ ngang (lateral root) rồi đến rễ chính (main root) theo lần lượt 9,7%; 6,4% và 3,3%. Hàm lượng ginsenoside trong cây mọc hoang cao hơn trong cây trồng.
Ngoài saponin, rễ nhân sâm còn chứa những thành phần khác như:
Các thành phần bay hơi gồm các nhóm sesquiterpene như eremophilene, β-gurjunene, trans- và cis-caryophyllene,ε-muurolene, γ-patchoulene, β-eudesmol, β-farnesene, β-bisabolene, aromadendrene, allo-aromadendrene, β-guaiene, γ-elemene, mayurone, pentadecane; 2,5-dimethyltridecane và acid palmitic. Từ phần cao (extract) bay hơi của rễ nhân sâm người ta còn xác định và phân lập được các dẫn chất của pyrazine như 3-sec-butyl-methoxy-5-methylpyrazine và 3-iso-propyl-2-methoxy-5-methylpyrazine.
Từ phân đoạn có độ sôi cao của tinh dầu của rễ nhân sâm người ta đã phân lập được một số dẫn chất như: acetylenic panaxydol, panaxynol (một dẫn chất polyacetylenic epoxy), panaxytriol và heptadeca-1-en-4,6-diyne-3,9-diol.
Các đường: Nhân sâm chứa khoảng 5% đường, gồm hai monosaccharide D-glucose và D-rhamnose. Hai disaccharide: sucrose và maltose, ba trisaccharide: maltosyl-β-D-fructofuranose; O-α-D-glucopyranosyl-(1→2)-O-β-D-fructofuranosyl-(1→2)-β-D-fructofuranose và O-α-D-glucopyranosyl-(1→6)-O-α-D-glucopyranosyl-(1→4)-α-D-glucopyranose.
Các glycan: Panaxan A, B, C, D, F, G, H, I, J, K, L, Q, R, S, T, U đã được phân lập từ rễ nhân sâm. Panaxan A có trọng lượng phân tử 14.000 Da, chủ yếu gồm các đơn vị α-1→6 gắn với D-glycopyranose. Panaxan B là một peptide có trọng lượng phân tử 1.180.000 Da.
Một sản phẩm polysaccharide chiết từ nhân sâm bằng nước nóng với hiệu suất 8 – 10% chứa 89% đường và 5% protein, phần polysaccharide chứa 80% tinh bột và 20% pectin. Bằng phương pháp phân tích sắc ký trên Sephadex 4B, pectin nhân sâm cho 2 loại polysaccharide có tính acid, một chất chứa galactose, arabinose và rhamnose với tỷ lệ phân từ 4,7:2,6:1 và sau khi thủy phân từng phần với acid thu được α-1→4 gắn với D-galacturonan, phần protein có 15 acid amin gồm acid aspartic, threonine, serine, acid glutamic, glycine, alanine, valine, methionine, isoleucine, tyrosine, phenylalanine, lysine, histidine và arginine.
Các dẫn chất pyran-4-on: 3-hydroxyl-2-methylpyran-4-on và các glucoside của nó, một glucoside của hydroxyacetone và một D-glucopyranoside của hydroxypyran-3-on cũng được tìm thấy trong hồng sâm. Tuy nhiên người ta cho rằng đấy là những chất nhân tạo hình thành trong quá trình xử lý bằng hơi nước.
Các flavonoid: Kaempferol, trifolin và panasenoside được phân lập từ lá và cành nhân sâm.
3. Tác dụng dược lý
Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Được nhiều người nghiên cứu và có rất nhiều tài liệu nói đến. Sau đây chúng tôi chỉ tóm tắt một số kết quả:
Tác dụng trên hệ thần kinh: Từ xưa, tại Trung Quốc người ta đã biết thí nghiệm tác dụng làm giảm mệt của nhân sâm. Ví dụ trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (thế kỷ thứ 16), có ghi cách thử nhân sâm như sau: “Cho 2 người cùng chạy, một người có ngậm miếng nhân sâm, một người không ngậm, sau khi chạy độ 3 đến 5 dặm người không ngậm nhân sâm sẽ thở mạnh còn người có ngậm nhân sâm vẫn thở như thường”.
Trong các năm 1949 – 1951 tại Liên Xô cũ, Abramôva có thí nghiệm theo phương pháp cho chuột nhắt lội nước thì thấy nhân sâm có tác dụng làm chuột đỡ mệt.
Năm 1947, Lazarev đã nghiên cứu và kết luận rằng nhân sâm có tác dụng hưng phấn thần kinh trung ương, dùng với liều điều trị có thể làm đỡ mệt, tăng hiệu suất công tác, so với thuốc phenamin thì tốt hơn.
Năm 1955, Drake theo phương pháp của Zakuxov đã chứng minh liều điều trị của nhân sâm có khả năng rút ngắn thời kỳ phản xạ tiềm phục của thần kinh và làm mau sự chuyển động của thần kinh. Nhưng liều cao quá có thể gây hiện tượng quá trấn tĩnh (Chu Nhan – Chu Kim Hoàng, Trung Hoa y học tạp chí, 12 – 1956).
Tác dụng trên huyết áp và tim: Các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ là Burkrat và Xakxopov (1947) và Kixelev (1948 – 1959) đã nghiên cứu nước sắc và cồn nhân sâm, kết luận rằng tác dụng của dung dịch nước và dung dịch rượu nhân sâm như sau: Kixelev dùng dung dịch 5%, 10% và 20% nhân sâm tiêm vào tĩnh mạch thỏ và mèo thấy tác dụng hạ huyết áp, nồng độ càng cao tác dụng ức chế trên tim càng mạnh, nhưng nếu nồng độ thấp thì lại co bóp tim mạch và số lần bóp cũng tăng, do đó ông đã kết luận rằng nhân sâm có hai hướng tác dụng trên thần kinh thực vật. Liều nhỏ có tác dụng như thần kinh giao cảm, liều lớn có tác dụng như thần kinh phế vị (vagus nerve).
Tác dụng trên hô hấp: Năm 1947 Burkrat và Xakxopov đã báo cáo dùng 0,3 – 0,5ml dung dịch nhân sâm 20% tiêm vào tĩnh mạch mèo thấy nhân sâm hưng phấn hô hấp.
Một số nhà nghiên cứu Nhật Bản và Trung Quốc trước đó đã tiêm vào tĩnh mạch thỏ chất ginsenin thấy liều nhỏ làm tăng hô hấp, liều cao có tác dụng ngược lại, nếu tiêm axit panaxic hay chất panaxen cũng thấy tác dụng như vậy.
Tuy nhiên ở trên mới chỉ thấy tác dụng khi tiêm còn chưa thấy tài liệu nghiên cứu tác dụng của việc uống nhân sâm đối với hô hấp.
Tác dụng đối với chuyển hóa cơ bản: Năm 1922 hai tác giả Nhật Bản là Hà Bộ Thắng Mã và Nội Đàng Hệ Bình đã nghiên cứu tác dụng của bột nhân sâm và chất tan trong cồn của nhân sâm (uống và tiêm) đối với bệnh huyết đường quá cao nhân tạo trên thỏ, đều thấy có tác dụng rõ rệt làm hạ mức huyết đường xuống.
Năm 1954 và 1956 một số tác giả Trung Quốc cũng xác nhận trong Trung Hoa nội khoa tạp chí và Trung Hoa y học tạp chí tác dụng hạ huyết đường của nhân sâm.
Trên lâm sàng người ta đã thấy (Khâu Thần Ba, 1955) rằng nếu dùng nhân sâm chung với insulin thì có thể giảm bớt lượng insulin, thời gian hạ huyết đường được kéo dài hơn và chữa được bệnh tiểu đường.
Tác dụng đối với sự sinh trưởng và phát dục của động vật (máu lạnh hoặc máu nóng, côn trùng): Cho uống hoặc tiêm thuốc chế bằng nhân sâm hoặc các chất lấy từ nhân sâm trên một số động vật so sánh với động vật không dùng nhân sâm, thấy trọng lượng con vật tăng lên, thời gian giao cấu của con vật kéo dài, hiện tượng tình dục xuất hiện rõ rệt.
Tác dụng đối với sức chống đỡ bệnh tật: Những thí nghiệm của Daugoinikov (1950 – 1952), Brekhman và Phruentov (1954 – 1957) và Abramov (1953) cho biết nhân sâm có tác dụng tăng sức đề kháng của động vật đối với tật bệnh.
Độc tính của nhân sâm: Kixêlev đã tiêm vào dưới da chuột nhắt 1ml dung dịch nhân sâm 20% thấy sau 10 – 12 giờ chuột chết với trạng thái “mất sắc”. Nhưng cho uống thì độc tính rất ít.
Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đối với hệ thần kinh trung ương: Nhân sâm có tác dụng đặc biệt đối với hệ thần kinh trung ương. Căn cứ vào quan sát trên điện não đồ và dùng phương pháp nghiên cứu phản xạ có điều kiện thấy nhân sâm chủ yếu tăng cường quá trình hưng phấn của vỏ đại não, đồng thời có thể tăng cường quá trình ức chế, cải thiện tính linh hoạt của hoạt động thần kinh, hồi phục bình thường khi có sự rối loạn giữa hai quá trình trên. Lấy hoạt động phản xạ có điều kiện làm chỉ tiêu theo dõi thì thấy tác dụng gây hưng phấn vỏ đại não của nhân sâm mạnh hơn caffeine và kém hơn ngũ vị tử bắc. Cũng có báo cáo cho rằng tác dụng gây hưng phấn vỏ đại não của nhân sâm kém caffeine và có liên quan mật thiết với loại hình thần kinh của súc vật thí nghiệm. Nhân sâm đối kháng với tác dụng ức chế phản xạ có điều kiện của morphine và ethanol. Trong thí nghiệm về phản xạ có điều kiện, dùng phản ứng lẩn tránh thu động (passive avoidance response) trên chuột cống trắng, thấy cao nhân sâm và các ginsenoside Rb1 và Rg2 bằng đường uống làm tăng khả năng học tập (learning ability) và khả năng lưu giữ cách cư xử đã học được. Trên người, nhân sâm cũng có tác dụng tăng cường quá trình hưng phấn của vỏ đại não, đồng thời cũng tăng cường quá trình ức chế nhưng tác dụng tăng cường ức chế không mạnh bằng bromide. Nhân sâm còn nâng cao khả năng làm việc bằng thể lực và trí lực của người. Trên động vật thí nghiệm, tác dụng kháng mỏi mệt (kéo dài thời gian bơi) của nhân sâm rất rõ rệt. Đối với người, tác dụng kháng mỏi một cũng đã được chứng minh từ xưa. Lý Thời Trân (Trung Quốc) trong sách “Bản thảo cương mục” có ghi: cho 2 người chạy, một người ngậm nhân sâm, một người không, sau khi chạy độ 3 – 5 dặm, người không ngậm nhân sâm thở mạnh, hổn hển còn người ngậm nhân sâm thở bình thường.
Nhân sâm dùng với liều tương đối lớn có tác dụng gây trấn tĩnh, làm giảm hoạt động tự nhiên của động vật thí nghiệm. Trái với những báo cáo trước đây, nhân sâm đối kháng đối với tác dụng gây co giật của các thuốc kích thích thần kinh trung ương, đối với hiệu lực gây ngủ của nembutal, nhân sâm có tác dụng hiệp đồng, còn trên thí nghiệm mãn tính, nhân sâm không thể hiện tác dụng gây trấn tĩnh hoặc gây hưng phấn. Về cơ chế tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương, có thể là nhân sâm làm tăng quá trình sinh tổng hợp và giải phóng acetylcholine, đồng thời làm giảm lượng serotonin trong não chuột thí nghiệm. Nhưng cũng có báo cáo cho rằng hàm lượng serotonin không bị ảnh hưởng rõ rệt. Đối với người, nhân sâm có tác dụng cải thiện giấc ngủ rõ rệt, liều lớn làm xuất hiện tác dụng gây trấn tĩnh.
Đối với chức năng phản ứng của cơ thể: Cũng như các vị ngũ vị tử, ngũ gia bì, nhân sâm có tác dụng sinh thích nghi (adaptogen) nghĩa là có khả năng tăng sức đề kháng không đặc hiệu của cơ thể đối với những yếu tố gây độc hại. Trên tế bào nuôi cấy của các loài động vật có vú, cơ quan cô lập hoặc động vật hoàn chỉnh xử lý với nhân sâm trước và trong khi cho tiếp xúc với các stress lý học, hóa học hoặc sinh học, đều có khả
năng tăng cường sức chống đỡ của động vật hoặc của cơ quan tương ứng với tác dụng gây tổn hại của các tác nhân gây stress. Những kết quả này cũng được chứng minh trong trường hợp nhiễm độc do chiếu xạ, lây nhiễm virus, cấy ghép ung thư, nhiễm độc rượu, carbon tetrachloride, thiếu oxy, áp lực giảm, stress tinh thần, sốc điện hoặc cử động gò bó. Trên chó gây mất máu với lượng lớn hoặc bị ngạt thở, tiêm ngay lập tức
dịch nhân sâm làm cho huyết áp đã bị hạ thấp dần dần tăng cao đến mức ổn định và giúp động vật hồi phục sức khoẻ bình thường. Do có tác dụng làm thay đổi tính phản ứng của cơ thể, nên dùng nhân sâm có thể cứu gà khỏi tử vong sau khi đã tiêm ký sinh trùng sốt rét. Nhân sâm dùng dài ngày còn có khả năng phòng ngừa được phản ứng gây sốt do tiêm vaccin gây nên, giảm độc tính một số chất độc (benzene) đối với cơ thể, có tác dụng phòng ngừa sốc quá mẫn và những triệu chứng do thiếu vitamin B1, B2 gây nên. Nhưng nhân sâm không có tác dụng đối kháng với adrenaline và histamine. Cơ chế tác dụng có thể là thông qua trục hạ đối – tuyến yên – tuyến thượng thận (hypothalamic-pituitary-adrenal axis). Trên chuột cống trắng tiêm xoang bụng các ginsenoside Rb1, Rb2, Rc, Rd và Re làm tăng cao hàm lượng adrenocorticotropic hormone (ACTH) và corticosteron. Trước lúc dùng nhân sâm, xử lý động vật với dexamethasone để ức chế chức năng của hạ đồi và tuyến yên sẽ ngăn cản được sự giải phóng ACTH và corticosteron và đã chứng minh sự tăng hàm lượng corticosteron trong huyết thanh là do gián tiếp thông qua sự giải phóng ACTH từ tuyến yên.♦ Đối với hệ nội tiết:
Với trục tuyến yên – vỏ thượng thận: Nhân sâm không có tác dụng kiểu corticoid, nhưng đối với trục tuyến yên – vỏ thượng thận có ảnh hưởng nhất định. Các ginsenoide đều có tác dụng kháng kích ứng, ức chế rõ rệt những thay đổi về trọng lượng của tuyến thượng thận, tuyến ức, lách và tuyến giáp trạng trong quá trình phản ứng kích ứng; đối với hàm lượng vitamin C và cholesterol trong tuyến thượng thận cũng có ảnh hưởng rõ rệt.
Với tuyến sinh dục, nhân sâm không có tác dụng kiểu nội tiết sinh dục, nhưng có tác dụng kích thích tuyến yên phân tiết các hormone hướng sinh dục (gonadotropin), tăng nhanh quá trình trưởng thành giới tính của súc vật thí nghiệm, kéo dài thời kỳ động dục của chuột cái đã trưởng thành, nếu đem thiến buồng trứng thì tác dung trên sẽ mất đi. Cao nhân sâm tiêm dưới da cho chuột cống trắng có tác dụng tăng cường khả năng giao phối của chuột đực. Thuốc còn có tác dụng kích thích sự sinh tinh ở chuột cống và thỏ; tăng cường khả năng hoạt động và thời gian sống của tinh trùng ở ngoài cơ thể.
Với các tuyến nội tiết khác, nhân sâm dùng liều lớn trong thời gian ngắn tăng cường hoạt động tuyến giáp trạng thỏ, còn nếu dùng dài ngày lại có tác dụng ức chế hoạt động tuyến giáp trạng trên chuột cống trắng. Rễ, thân và lá nhân sâm có tác dụng kháng lợi niệu, tác dụng này có liên quan đến tác dụng thúc đẩy tuyến thượng thận tiết hormone corticosteron. Thành phần có tác dụng kháng lợi niệu là panaxoside.
♦ Đối với chuyển hóa chất:
Với chuyển hóa đường: Đối với thỏ đường huyết tăng do tiêm adrenaline hoặc dung dịch glucose ưu trương, nhân sâm có tác dụng làm hạ đường huyết. Trên chó bị bệnh tiểu đường thực nghiệm, trên cơ sở dùng insulin, dùng thêm nhân sâm có tác dụng cải thiện các triệu chứng chung và gây hạ đường huyết nhưng không thể thay thế insulin giải quyết được rối loạn chuyển hóa của đường. Trên chuột cống trắng đực bị bệnh tiểu đường do alloxan gây nên, nhân sâm có tác dụng khống chế được phần nào lượng đường huyết nhưng không ngăn ngừa được bệnh phát sinh và gây tử vong. Tác dụng của nhân sâm đối với chuyển hoá đường về cơ chế chưa được làm rõ hoàn toàn. Có báo cáo cho rằng nhân sâm tăng cường hô hấp tế bào, thúc đẩy quá trình phân hủy đường, tăng cường chuyển hóa năng lượng. Trên chuột cống trắng đã cắt bỏ tuyến giáp trạng và tinh hoàn, nhân sâm có tác dụng tăng cường chuyển hóa cơ bản.
Với các chuyển hóa khác: Dạng chiết từ nhân sâm thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp acid ribonucleic. Với liều thích hợp, nhân sâm làm tăng thể trọng chuột và tăng tỷ lệ albumin/globulin trong huyết tương. Trên thỏ bình thường, ginsenoside không có tác dụng với cholesterol huyết, nhưng trên thỏ có cholesterol – huyết tăng cao thì nhân sâm và panaxoside có tác dụng hạ thấp. Adenosine chiết được từ cao nước nhân sâm có tác dụng tăng cường quá trình hình thành lipid và tích luỹ AMP vòng ở các tế bào mỡ, một vài ginsenoside có tác dụng ức chế quá trình phân huỷ lipid do ACTH gây nên và xoá bỏ quá trình hình thành lipid do insulin gây nên.
♦ Đối với tuần hoàn:
Với tim: Các chế phẩm từ nhân sâm đối với tim ếch cô lập và tim tại chỗ của thỏ, mèo đều có tác dụng tăng cường sức co bóp. Sau khi xử lý với atropin, tác dụng cường tim của nhân sâm vẫn còn, nhịp tim không tăng nhanh. Nhân sâm còn có tác dụng làm giảm hoặc làm mất rối loạn nhịp tim do chloroform và adrenaline gây nên. Đối với rung thất trên mèo và thỏ thí nghiệm, nhân sâm có tác dụng cải thiện nhất định.
Với huyết áp: Trên động vật gây mê, nhân sâm với liều nhỏ gây tăng huyết áp nhẹ, còn với liều lớn có tác dụng hạ huyết áp. Hiện tượng hạ áp có liên quan đến tác dụng làm giãn huyết quản của nhân sâm, atropin có tác dụng ức chế hiện tượng này. Đối với động mạch vành, mạch não và đáy mắt, nhân sâm đều có tác dụng gây giãn mạch. Có báo cáo cho rằng trong nhân sâm có thành phần choline có liên quan đến tác dụng hạ áp. Các ginsenoside phong bế tác dụng gây co mạch của norepinephrine (NE) trên tiêu bàn giải động mạch chủ của thỏ và ức chế sự thu nạp Ca2+ trong màng cơ tim; tác dụng ức chế sự thu nạp Ca2+ trong màng sợi cơ có thể cũng tham gia vào cơ chế gây giãn mạch.
Các tác dụng khác: Dịch chiết nhân sâm đối với tế bào hồng cầu chỉ làm biến màu không làm tan máu. Đối với số lượng hồng bạch cầu ngoại vi, hiện tượng đông máu, nhân sâm không có ảnh hưởng rõ rệt. Dùng nhân sâm dài ngày với liều nhỏ tăng cường hoạt động hệ thống lưới nội bì, nhưng với liều lớn lại ức chế. Tiêm dung dịch nhân sâm có tác dụng làm tăng hàm lượng erythropoietin trong tuỷ sống. Nhân sâm có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp acid nucleic, protein trong tế bào gan, tinh hoàn, tủy xương và tổng hợp albumin huyết thanh.
Có báo cáo cho rằng đối với loét dạ dày thực nghiệm trên chuột cống trắng, nhân sâm có tác dụng điều trị và phòng ngừa nhất định, nhưng cũng có báo cáo cho rằng nhân sâm có tác dụng xấu đối với loét dạ dày thực nghiệm do thắt môn vị trên chuột cống trắng nên người ta khuyến cáo rằng đối với bệnh nhân viêm loét dạ dày, nên cẩn thận khi dùng nhân sâm. Thành phần tan trong nước của nhân sâm đối với ruột cô lập chuột lang có tác dụng kích thích co bóp. Ngoài ra, saponin toàn phần và polysaccharide của nhân sâm có tác dụng điều trị và phòng ngừa bệnh nhiễm xạ, đối với u báng Ehrlich trên chuột nhắt trắng có tác dụng ức chế nhẹ. Dịch chiết bằng ether từ nhân sâm có tác dụng ức chế sarcoma 180 và adenocarcinoma 755 trên chuột nhắt trắng, nhưng đối với bệnh bạch cầu L1210 thì không có tác dụng. Đối với một số vi khuẩn như trực khuẩn lao và đơn bào, nhân sâm có tác dụng ức chế nhất định.
4. Dược lý lâm sàng
Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của nhân sâm trên người bình thường cũng như trên bệnh nhân. Những kết quả nghiên cứu dược lý lâm sàng nhằm đánh giá tác dụng tăng thể lực và chống mệt mỏi của nhân sâm thường không thống nhất. Một công trình nghiên cứu trên 50 người có tuổi đời từ 21 đến 47 trong thời gian luyện tập căng thẳng về ảnh hưởng của nhân sâm đối với hệ tuần hoàn, hô hấp, chuyển hóa cơ bản bằng phương pháp ngẫu nhiên, mù kép và tiến hành chéo. Kết quả cho thấy sức chịu tải (workload) ở lô dùng thuốc cao hơn nhiều so với lô dùng placebo. Với một chịu tải bằng nhau, ở lô dùng nhân sâm các chỉ số về lượng tiêu thụ oxygen, lượng lactate trong huyết tương, lượng thông khí, lượng carbon dioxide, nhịp đập tim đều thấp hơn so với lô đối chứng. Điều đó cho thấy nhân sâm có tác dụng tăng cường khả năng công tác của người dùng thuốc bằng cách cải thiện sự tiêu hao oxygen. Nhân sâm với liều dùng 1200mg cho y tá trực đêm cũng như y tá trực ngày đều có tác dụng chống mỏi mệt rõ rệt. Nhưng lại có nghiên cứu cho kết quả ngược lại, như nghiên cứu trên một số thủy thủ tình nguyện dùng nhân sâm trong những ngày luyện tập căng thẳng, qua theo dõi về sức chịu đựng, chuyển hóa cơ bản trong cơ thể, sự phân tiết các hócmôn, thấy rằng không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa lô dùng nhân sâm so với lô đối chứng. Có sự khác nhau trên có thể là do phương pháp không thống nhất và chế phẩm sử dụng chưa được tiêu chuẩn hóa.
Ngoài ra, dạng chiết nước và cao nhân sâm đã được nghiên cứu về tác dụng điều hòa miễn dịch. Trên 60 người khỏe mạnh tình nguyện, chia làm 3 nhóm đều nhau, nhóm đầu dùng placebo, nhóm thứ hai dùng 100mg dạng chiết nước, nhóm thứ ba dùng 100mg cao đã được tiêu chuẩn hóa, ngày dùng thuốc 2 lần, dùng liên tiếp trong 8 tuần lễ. Qua xét nghiệm các tiêu bản máu, thấy những lô dùng nhân sâm sau 4 tuần và 8 tuần thì có hiện tượng tăng bạch cầu đa nhân, chỉ số thực bào, tổng số tế bào lympho T3 và T4. Nhóm dùng cao nhân sâm còn làm tăng tỷ lệ T4:T8 và tăng hoạt độ tế bào diệt tự nhiên (natural killer cells). Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân sâm có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch của người và dạng cao đã tiêu chuẩn hóa có tác dụng mạnh hơn dạng chiết nước. Trên người, cao nhân sâm tăng cường quá trình sinh tinh trùng ở đàn ông.
Độc tính: Nhân sâm có độc tính rất thấp. Dạng chiết hoặc saponin từ nhân sâm thí nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng đường uống, súc vật không chết. Bằng đường tiêm xoang bụng LD50 ở khoảng 300 – 700mg/kg; LD50 của các saponin: Rb1 là 1110mg/kg; Rb2 là 305; Rc là 410; Rd là 324; Re là 405; Rf là 1340; Rg là 1250mg/kg. Saponin từ thân và lá nhân sâm tiêm xoang bụng cho chuột cống trắng với liều hàng ngày 80mg/kg hoặc cho chó uống với liều 200mg/kg dùng trong 21 ngày không thấy có biểu hiện ngộ độc. Tuy nhiên uống nhân sâm dài ngày (2 năm) hoặc dùng nhân sâm với liều lớn có thể gây tăng huyết áp, thần kinh quá mẫn, mất ngủ, nổi ban ở da và tiêu chảy mà người ta thường gọi là hội chứng lạm dụng nhân sâm (ginseng abuse syndrome). Đã có trường hợp dùng nhân sâm với liều lớn (9,0g) gây giãn đồng tử, rối loạn điều tiết thị giác và chóng mặt. Ở những phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh, dùng nhân sâm, có thể thấy xuất hiện tác dụng phụ kiểu oestrogen gây đau vú, chảy máu âm đạo, nhưng rất hiếm.


Công dụng và liều dùng nhân sâm
Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Nhân sâm là một vị thuốc cổ truyền trong đông y. Các sách cổ thường ghi nhân sâm bổ năm tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận), bổ tinh thần, định hồn phách, làm khỏi sợ hãi, trừ tà khí, sáng mắt, uống lâu nhẹ mình, tăng tuổi thọ, chữa các chứng đau ruột, dạ dày, nôn mửa.
Cách dùng trong nhân dân như sau:
– Sâm thái mỏng, cho vào miệng ngậm và nhấm từng ít một, nuốt nước và cả bã.
– Thái mỏng, cho vào ấm hay chén sứ. Thêm một tí nước đậy nắp. Đun cách thủy, uống nước. Sau đó lại thêm nước và đun cách thủy tiếp tục uống, làm như vậy cho đến khi hết mùi vị mới thôi. Ngày dùng 2 – 6g.
Theo tài liệu cổ, nhân sâm vị ngọt, hơi đắng, tính ôn (lá có vị đắng, hơi ngọt), vào 2 kinh tỳ và phế. Có tác dụng đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, định thần, ích trí. Dùng chữa phế hư sinh ho suyễn, tỳ hư sinh tiết tả, vị hư sinh nôn mửa, bệnh lâu ngày khí hư, sợ hãi, tiêu khát. Những người bệnh có thực tà không dùng được.
Sau đó do các công trình nghiên cứu về nhân sâm đặc biệt của Liên Xô cũ, Trung Quốc, nhân sâm được tây y công nhận và sử dụng coi như thuốc tây.
Dược thư Liên Xô xuất bản lần thứ 9 năm 1961 công nhận nhân sâm là vị thuốc chính thức trong y học Liên Xô.
Có thể dùng dưới dạng thuốc sắc 5 hay 10% với liều 15 – 30ml một lần, ngày dùng 3 lần, hoặc dưới dạng cồn nhân sâm với liều 15 giọt một lần, ngày uống 3 lần.
Vài đơn thuốc có nhân sâm trong đông y:
Độc sâm thang (đơn thuốc có một vị nhân sâm) chữa cơ thể quá suy nhược sau khi mất máu nhiều, thần kinh suy nhược: Nhân sâm 40g. Nước 400ml (2 bát) sắc còn 200ml (1 bát), cho uống từng ít một, không kể thời gian. Uống xong cần nằm yên.
Sâm phụ thang chữa những trường hợp mạch suy, kiệt, mồ hôi ra nhiều, chân tay lạnh: Nhân sâm 40g (có thể 20g), chế phụ tử 20g (có thể dùng 10g), sinh khương 3 nhát, táo đen 3 quả, nước 3 bát (600ml) sắc còn 200ml (1 bát) chia làm nhiều lần uống trong ngày.
Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Nhân sâm có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào các kinh: tỳ, phế, tâm, có tác dụng đại bổ nguyên khí, phục mạch cố thoát, sinh tân, an thần, bổ tỳ ích phế. Sách “Bản kinh” (Trung Quốc) còn ghi nhân sâm chủ bổ ngũ tạng, an thần kinh, chỉ kinh quý, trừ tà khí, minh mục, khai tâm ích trí.
Nhân sâm là một vị thuốc bổ quý hiếm trong y học cổ truyền, làm tăng thể lực và trí lực, dùng trong trường hợp cơ thể suy yếu, kiệt sức, mệt mỏi, và trong thời gian dưỡng bệnh. Ngoài ra, dược điển một số nước có ghi nhân sâm dùng chữa bệnh tim mạch, tiểu đường, thần kinh suy nhược, dương uỷ. Theo y lý cổ truyền, nhân sâm chủ trị: đoản khí suyễn xúc (thở khó ho hen), tâm quý kiến vong (tim đập hồi hộp, gây quên), tân thương khẩu khát (tân dịch tổn thương, miệng khát), tiêu khát (đái đường), suy nhược cơ thể, mất máu, dương uỷ, lạnh cung, tỳ hư tiết tả.
Liều dùng: Ngoài những chỉ định đặc biệt (như dùng cho cấp cứu), liều thường dùng hàng ngày là 2,0 – 4,0g. Dùng dưới dạng lát cắt ngậm, nước sắc, rượu thuốc, cao hoặc hoàn tán. Nhân sâm dùng phối hợp với phụ tử chữa vong dương hư thoát, khó thở, chóng mặt, ra mồ hôi nhiều; với đương quy chữa mất máu nhiều và đột ngột khí đoản mạch vi, với long cốt chữa di tinh, với tỳ bà chữa ợ chua; với hoàng kỳ chữa âm hư triều nhiệt, ho, nôn ra máu; với ngũ vị tử chữa nguyên khí bất túc, với tam thất chữa hư lao, chảy máu, hãn huyết dục thoát, với thục địa chữa nhiệt bệnh, khí thương, tân quy; với thạch cao chữa tiểu đường.
Những điều chú ý khi dùng nhân sâm:
– Trường hợp thực chứng, nhiệt chứng, phàm tỳ vị nhiệt thực, phế thọ hoả tà, ho nhiều đờm, táo bón, nấc, đau tức ngực, bụng có trùng tích đều không dùng nhân sâm.
– Tương kỵ: Nhân sâm phản lê lô, ố tạo giác, hắc đậu, nên không được dùng chung. Không dùng dụng cụ bằng sắt khi chế nhân sâm.
Một số kết quả thực nghiệm lâm sàng trong y học hiện đại:
Trong cấp cứu: Nhân sâm dùng với liều lớn (9 – 20g) sắc nước uống hoặc dùng dung dịch tiêm nhân sâm (mỗi ml có 0,57g dược liệu) 2 – 4ml tiêm bắp thịt hoặc tiêm tĩnh mạch, dùng cấp cứu các trường hợp sốc (shock) tim nguy kịch.
Điều trị các bệnh tim mạch: Đối với bệnh cao huyết áp, loạn dưỡng cơ tim, xơ vữa động mạch vành, đau thắt ngực, nhân sâm có tác dụng điều trị nhất định, làm giảm nhẹ triệu chứng. Đối với huyết áp không bình thường, nhân sâm có tác dụng điều chỉnh, dùng liều nhỏ, nhân sâm có tác dụng làm tăng huyết áp, nhưng với liều cao lại có tác dụng hạ áp.
Trong điều trị bệnh tiểu đường: Nhân sâm có tác dụng cải thiện trạng thái chung của bệnh nhân tiểu đường, nhưng không thay đổi được tình trạng đường huyết quá cao. Đối với bệnh tiểu đường thể nhẹ, nhân sâm có khả năng làm giảm đường niệu, đường huyết. Sau khi ngừng thuốc, tác dụng có thể duy trì trong vòng 2 tuần lễ. Đối với bệnh tiểu đường thể vừa, sau khi dùng nhân sâm tuy lượng đường huyết không giảm rõ rệt nhưng đa số bệnh nhân tình trạng toàn thân đều được cải thiện như cảm giác mệt mỏi, miệng khát đều giảm hoặc biến mất. Ở một số bệnh nhân dùng nhân sâm có thể giảm liều dùng insulin.
Điều trị thần kinh suy nhược: Đối với hệ thần kinh trung ương, nhân sâm có tác dụng gây hưng phấn rõ rệt, tăng cường năng lực hoạt động của cơ thể, giảm mỏi mệt, đối với suy nhược thần kinh có tác dụng điều trị tốt, làm cho bệnh nhân tăng cân, giảm mệt mỏi, giảm đau đầu và ngủ được.
Chữa dương uỷ: Trong trung dược, nhân sâm thuộc loại thuốc cường tráng thân thể, bổ dưỡng nguyên khí. Đối với dương uỷ thể liệt dương và thể xuất tinh sớm, nhân sâm có tác dụng, còn đối với dương uỷ có nguyên nhân tâm thần thì không có tác dụng.
Điều trị chứng bệnh suy thương thận mãn (Addison): Theo Vương Bản Tường (Trung Quốc) đã nghiên cứu trên 18 bệnh nhân Addison, cho uống cồn chiết từ thân lá nhân sâm (20%) với liều 20 – 30ml/ngày và tăng dần đến 150 – 300ml/ngày. Đợt điều trị kéo dài 121 ngày Sau khi dùng thuốc, bệnh nhân tăng cân, huyết áp được nâng lên, lực nắm bàn tay mạnh hơn, đường huyết hồi phục, giảm lắng đọng sắc tố ở da; đối với bệnh nhân phát hiện sớm ở giai đoạn bù trừ, kết quả điều trị khả quan, có thể phục hồi khả năng lao động. Đối với bệnh nhân phát hiện muộn không còn khả năng bù trừ, cần dùng kết hợp với corticoid có giảm liều.
Điều trị chứng giảm bạch cầu: Saponin chiết từ thân, rễ và lá nhân sâm dùng với liều 50 – 100mg/lần, ngày uống 2 – 3 lần, điều trị cho 38 trường hợp giảm bạch cầu do hoá trị, kết quả điều trị đạt 87%.
Điều trị viêm gan cấp: Theo báo cáo của các tác giả Liên Xô trước đây, uống cao lỏng nhân sâm có khả năng làm cho chức năng gan hồi phục nhanh chóng và làm giảm khả năng bệnh chuyển thành mạn tính. Nhân sâm phối hợp với các vị thuốc khác dùng chữa nhiều bệnh.
Bài thuốc có nhân sâm trong y học cổ truyền:
Chữa cơ thể quá suy nhược sau khi mất máu nhiều (Độc sâm thang): Nhân sâm 40g, nước 400ml, sắc còn 200ml, cho uống từng ít một, không kể thời gian. Uống xong cần nằm yên nghỉ.
Chữa trụy mạch, chân tay lạnh, ra mồ hôi nhiều (Sâm phụ thang): Nhân sâm 3 – 6g, phụ tử 4 – 6g. Sắc nước uống làm 6 lần.
Chữa tỳ vị khí hư, mặt nhợt nhạt, chân tay đau mỏi, không muốn ăn, nôn mửa (tứ quân tử thang): Nhân sâm 10g, bạch truật 9g, phục linh 9g, cam thảo (chích) 6g. Tất cả tán thành bột. Mỗi lần dùng 6g sắc với 200ml nước, còn 150ml, uống không kể thời gian.
Chữa bệnh tiểu đường (Ngọc hồ hoàn): Nhân sâm, rễ qua lâu, 2 vị lượng bằng nhau. Nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm thành hoàn to bằng hạt đậu, mỗi lần uống 20 hoàn với thang mạch môn đông.
Chữa ợ chua, nôn ra nước trong, đau bụng, biếng ăn, ở phụ nữ có mang (Tiểu địa hoàng hoàn cục phương): Nhân sâm (bỏ cuống), can khương, 2 vị lượng bằng nhau. Nghiền thành bột, dùng nước ép sinh địa tươi nhào bột, làm thành viên hoàn to bằng hạt đậu. Mỗi lần uống 30 – 50 hoàn với nước cháo gạo trước bữa ăn.
Chữa ngoại cảm phong hàn, phát sốt sợ rét, đau đầu ngạt mũi, ho nhiều đờm (Sâm tô ẩm): Nhân sâm, tô diệp, cát căn, tiền hồ, bán hạ, phục linh mỗi vị 22,5g, trần bì, cam thảo, cát cánh, chỉ xác, mộc hương mỗi vị 15g tán nhỏ trộn đều. Mỗi lần dùng 12g, nước 150ml, gừng 7 lát, táo 1 quả. Sắc uống lúc còn nóng.
Chữa tâm khí bất định, ngũ tạng bất túc, hoảng hốt, ngủ hay mơ, hay nổi nóng, phát khùng: Nhân sâm, bạch phục linh mỗi vị 90g, viễn chí (bỏ tâm), xương bồ mỗi vị 60g. Nghiền thành bột, luyện với mật ong, làm thành hoàn to bằng hạt đậu, dùng chu sa làm vỏ bao. Mỗi lần dùng 7 hoàn, ăn với cơm nóng, xong nằm nghỉ. Ngày dùng 3 lần.


Địa chỉ bán cây giống nhân sâm uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống nhân sâm phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Nhân sâm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây nhân sâm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.








