Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Mãng cầu Xiêm hay mãng cầu gai, na Xiêm, na gai, tên tiếng Anh là soursop, graviola, guyabano (danh pháp khoa học là Annona muricata L.) là một loại cây trồng thuộc họ Na Annonaceae.




Cây mãng cầu Xiêm sống ở những khu vực có độ ẩm cao và có mùa Đông không lạnh lắm, nhiệt độ dưới 5oC sẽ làm lá và các nhánh nhỏ hỏng và nhiệt độ dưới 3oC thì cây có thể chết. Cây mãng cầu xiêm được trồng làm cây ăn quả. Quả mãng cầu Xiêm lớn hơn mãng cầu ta rất nhiều, có khi đến có thể nặng tới 6,8 kg, có lẽ về độ lớn nó chỉ thua quả na rừng, vỏ ngoài nhẵn chỉ phân biệt múi nọ với múi kia nhờ mỗi múi có một cái gai cong, mềm vì vậy còn có tên là mãng cầu gai.
Mô tả mãng cầu Xiêm
Cây mãng cầu Xiêm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỡ, cao 4 – 6m, cành có nhiều mấu, nhẵn, màu xám nâu. Lá mọc so le, hình mũi mác – trái xoan hoặc trứng ngược, dài 10 – 12cm, rộng 3 – 5cm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn có gân nổi rõ, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt; cuống lá mập, gấp khúc và nhẵn.
Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, màu lục vàng; lá đài hình tam giác ngắn, có lông ở hai mặt; cánh hoa rộng và dày, gốc thắt hình tim, có lông; nhị nhiều, trung đới hình vuông, có lông; bầu thượng. Quả hình cầu hoặc hình tim, hơi dẹt, vỏ ngoài có những nốt sần nhọn ứng với những múi ở trong, thịt màu trắng, vị ngọt chua; hạt màu đen. Mùa quả: tháng 3 – 5.
Thông tin thêm về mãng cầu gai
1. Phân bố, sinh thái
Cây mãng cầu Xiêm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Annona L. có 125 loài, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới châu Mỹ và châu Phi. Ở Việt Nam, có 4 loài, trong đó 3 loài là cây trồng gồm na (Annona squamosa L.), mãng cầu xiêm (A. muricata L.), bình bát (A. reticulata L.) (Nguyễn Tiến Bân, 2000; Thực vật chí Việt Nam, T. I – Annonaceae, NXB KH & KT, Hà Nội, 316 – 321).
Mãng cầu xiêm có nguồn gốc ở châu Mỹ, chỉ được nhập sang các nước nhiệt đới khác sau khi Colombo phát hiện ra châu Mỹ. Đó là cây ăn quả được trồng nhiều ở các nước vùng Nam Á, Đông – Nam Á, Trung và Nam Mỹ. Ở châu Á, mãng cầu xiêm có nhiều nhất ở Philippines, mỗi năm cho sản lượng khoảng 8500 tấn. Ở Việt Nam, mãng cầu xiêm được trồng nhiều ở các tỉnh phía nam.
Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, được trồng đến vĩ độ 25o Nam bán cầu ở độ cao đến 1000m. Ở các tỉnh thuộc vùng núi cao trên 1000m của Việt Nam không thấy trồng. Cây rụng lá vào mùa đông, không chịu được sương muối và ngập úng dài ngày, ra hoa quả hàng năm. Sau 4 – 5 năm trồng cây bắt đầu có quả với số lượng cũng như sản lượng tùy thuộc vào giống mãng cầu. Ở vùng Trung Mỹ và Hawaii cây trồng 35 năm vẫn thu được quả.
2. Thành phần hóa học
Từ quả, hạt và lá của mãng cầu xiêm phân lập được annonacin (J. Le Ven et al.; 2011). Lá chứa annonamine, một alkaloid có nhân là aporphin và chứa một nhóm amoni bậc bốn (Ayano Matsushige et al.; 2012). Ngoài ra cây này cũng chứa lihexanthone (Lauve Rachel Tchokouaha Yamthe et al.; 2015).
Cây mãng cầu Xiêm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Lá mãng cầu xiêm chứa ít tinh dầu. Vỏ quả chứa 0,05% alkaloid, có 2 alkaloid kết tinh được là muricin và muricinine, đều thuộc nhóm aporphine.
Một số alkaloid khác có tác dụng sinh học cũng được tìm thấy trong một số cây họ Na như diazafluoranthene, azaoxoaporphine, azafluorene, azaanthracene (CA. 117, 178152y). Những năm gần đây nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu các hợp chất acetogenin trong họ Na do hợp chất này có nhiều hoạt tính quan trọng như tác dụng chữa ung thư, chữa sốt rét, diệt ký sinh trùng, kháng khuẩn và suy giảm miễn dịch kể từ khi J. R. Cole và cộng sự phát hiện ra loại hợp chất này đến nay đã chiết xuất và phân lập tên 100 hợp chất acetogenin chủ yếu là trong các cây họ Na. Cấu trúc của acetogenin là những dẫn xuất của axit béo mạch dài có chứa vòng tetrahydrofuran với nhiều nhóm chức khác như -OH, acetonyl, ceton dọc theo chuỗi hydrocarbon (Rupprecht J. Kent; Shue Yu; CA. 119, 203444t) (Phytochemistry 1996, 42(2):253.271; Phytochemistry 1993, 34(1):281 – 5) có tác giả coi acetogenin là ngôi sao của thuốc chữa ung thư trong tương lai. Một số acetogenin có trong mãng cầu xiêm như: Neoisoannonacin-10-on (1); isoneoannonacin-10-on (2); muricatetrocin A (3); muricatetrocin (4); giganterrocin B (5); gigantetrocin A (6).
Ngoài ra còn annonacin; isoannonacin; annonacin-10-on; isoannonacin-10-on; goniothalamicin; gigantetrocin; diepomuricanin; epomuricenin A; epomuricenin B; muricatacin; corossolone; howiicin A, B; dexyhowiicin B; neoannonacin-10-on; howicin F, G; annomuricin; annomurin; muricin; muricinine (Trung dược Từ Hải II 712; Phytochemistry 1993, 34(1):281 – 5) (J nat. prod. 1999 (62) 504. 540).
Thành phần chất béo có trong dầu hạt mãng cầu xiêm gồm 79 – 98,3% các triglyceride và một lượng nhỏ các acid béo. Cả các acid béo và glyceride đều gồm các acid palmitic, oleic, và linoleic (Budiman Catur; Putra Hasri; CA. 118, 56214v). Trong lá còn chúa 1 lượng khá cao clorua kali và tanin.
3. Tác dụng dược lý
Cây mãng cầu Xiêm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Đã nghiên cứu thấy 2 acetogenin là corossolone và corossoline phân lập từ hạt mãng cầu xiêm có tác dụng độc hại tế bào trong nuôi cấy tế bào với tôm nước lợ Artemia salina có triển vọng là thuốc trị ung thư.






Công dụng và liều dùng mãng cầu gai
Lá mãng cầu xiêm được dùng chữa sốt rét. Lấy 50g lá tươi rửa sạch, giá nát, thèm nước, gạn uống với ít đường. Lá còn có tác dụng chữa ho.
Quả mãng cầu xiêm còn xanh, thái mỏng, phơi khô, tán bột, uống mỗi lần 4 – 8g chữa kiết lỵ, ngày 2 lần.
Ở Ấn Độ và Indonesia, thịt quả hoặc quả mãng cầu xiêm còn non có tác dụng chữa bệnh scorbut. Hạt giã nhỏ để duốc cá và hòa với nước để trừ sâu. Ở Haiti, nhân dân địa phương dùng lá mãng cầu xiêm sắc uống trị cúm, ho, và suy nhược (có thể dùng dịch ép quả). Ở Peru, hạt hoặc lá giã nát trị ký sinh trùng, nước sắc lá uống trị lỵ.
Bài thuốc có mãng cầu xiêm:
Chữa sốt rét:
- Lá mãng cầu xiêm khô 20g, vỏ rộp cây ổi 10g. Sao vàng, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
- Lá mãng cầu xiêm, lá na, lá trầu không, rau má, đọt ớt, đọt tre, mỗi vị 7 lá hoặc đọt đối với nam, 9 đối với nữ, cỏ mần trầu một bụi sấy khô; gừng một miếng gọt vỏ nướng chín; trà ngon một ấm; đường thẻ một miếng; ổ tò vò 4 – 5 ổ; phèn chua phi đổ vào vi sắt nướng đỏ, rồi đổ vào các vị thuốc, sắc uống.
Chữa ho: Lá mãng cầu xiêm, lá sả, mỗi vị 20g. Sắc uống.
Cách trồng mãng cầu gai
Cây mãng cầu Xiêm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Mãng cầu xiêm ưa khí hậu nóng ẩm, được trồng chủ yếu ở miền Nam, từ Nha Trang trở vào.
Cây được nhân giống bằng hạt và bằng cành ghép. Hạt giữ được sức sống trong nhiều năm, có thể gieo ươm trên luống hoặc trong bầu. Dù không xử lý, hạt cũng nảy mầm sau 20 – 30 ngày. Khi cây con cao 30 – 40cm, đánh đi trồng. Cây con dù đứt rễ trồng vẫn sống. Ghép cành hoặc ghép mắt, tốt nhất lên chính gốc mãng cầu xiêm hoặc gốc bình bát. Ghép lên bình bát còn có lợi là có thể trồng trên đất sình lầy, đất thấp hay bị úng ngập.
Đất trồng mãng cầu xiêm tốt nhất là loại đất phù sa nhiều thịt, giữ độ ẩm và thoát nước, độ pH 6 – 7,5. Khi trồng, đào hố 40 x 40 x 40cm với khoảng cách 3 x 4m, mỗi hố bón lót 5 – 7kg phân chuồng. Không cần chăm sóc nhiều, nhưng để có năng suất cao, chú ý bón phân bổ sung hàng năm vào trước và sau khi thu hoạch quả. Cây có thể ra hoa quả quanh năm, nếu độ ẩm đất ổn định. Quả tuy to, nhưng tỷ lệ đậu quả ít do thu phấn tự nhiên kém hiệu quả. Vì vậy, cần tiến hành thụ phấn nhân tạo cho hoa. Lấy phấn của hoa đầu cành, cành nhỏ, cành trên ngọn, để thụ cho hoa trên cành to hoặc phía gần thân. Hoa lấy phấn là những hoa sắp nở, ngắt vào cuối buổi chiều, để đến sáng hôm sau rũ lấy phấn, dùng bút lông phết lên nhụy vào lúc 8 – 9 giờ sáng .
Mãng cầu xiêm có bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides) hại ngọn, hoa và quả. Có thể phun thuốc Aliette 80 BTN, Benlat C, Kasuran BIN hoặc Zincopper ngay khi bệnh mới xuất hiện.
Ngoài ra, còn có rệp sáp, rệp dính hại lá, quả, trị bằng Bi 58ND, BAM 50ND, Appland …
Quả mãng cầu xiêm chín hầu như quanh năm. Khi thấy vỏ quả từ màu xanh sẫm chuyển sang màu vàng, các gai tách thưa ra, thì thu hoạch.
Vậy mua cây mãng cầu gai ở đâu uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, Long Biên. Đối diện với Tổng công ty may 10, Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây mãng cầu gai phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây mãng cầu Xiêm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- J. Le Ven, I. Schmitz-Afonso, D. Touboul, D. Buisson, B. Akagah, T. Cresteil, G. Lewin, P. Champy (2011). “Annonaceae fruits and parkinsonism risk: Metabolisation study of annonacin, a model neurotoxin; evaluation of human exposure”. Toxicology Letters. 205: S50 – S51.
- Ayano Matsushige, Yaichiro Kotake, Katsuyoshi Matsunami, Hideaki Otsuka, Shigeru Ohta, Yoshio Takeda (2012). “Annonamine, a new aporphine alkaloid from the leaves of Annona muricata“. Chem Pharm Bull. 60(2): 257 – 9.
- Lauve Rachel Tchokouaha Yamthe, Patrick Valere Tsouh Fokou, Cedric Derick Jiatsa Mbouna, Rodrigue Keumoe, Bruno Lenta Ndjakou, Paul Toukam Djouonzo, Alvine Ngoutane Mfopa, Jennifer Legac, Nole Tsabang, Jiri Gut, Philip J Rosenthal, Fabrice Fekam Boyom (2015). “Extracts from Annona muricata L. and Annona reticulata L. (Annonaceae) potently and selectively inhibit Plasmodium falciparum“. Medicines. 2(2): 55 – 66.









