Đông trùng hạ thảo hay trùng thảo, hạ thảo đông trùng, là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm Ophiocordyceps sinensis, tên tiếng Anh là caterpillar fungus (danh pháp khoa học đầy đủ là Ophiocordyceps sinensis (Berk.) G.H.Sung, J.M.Sung, Hywel-Jones & Spatafora; 2007; đồng nghĩa: Cordyceps sinensis) thuộc họ Ophiocordycipitaceae trên pha sâu non của một vài loài bướm đêm trong họ Hepialidae, hình thành quả thể (cách gọi quen thuộc là thân nấm) có nhiều công dụng trong y học, nhất là trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng. Loài này chủ yếu được tìm thấy ở các vùng đồng cỏ trên cao nguyên Tây Tạng, ở độ cao trên 3.500 mét (tức khoảng 11.500 feet), thuộc khu vực Tây Tạng và dãy Himalaya của Bhutan, Ấn Độ và Nepal.
Tên gọi đông trùng hạ thảo vì vị thuốc này vào mùa đông là con sâu, mùa hạ lại thành cây cỏ. Sách cổ coi đông trùng hạ thảo bổ ngang nhân sâm.
Mô tả đông trùng hạ thảo
Đông trùng hạ thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Đông trùng hạ thảo của Trung Quốc (Cordyceps) là một giống nấm mọc ký sinh trên sâu non của một loại sâu thuộc bộ Cánh vẩy Lepidoptera. Nấm và sâu hợp sinh với nhau. Vào mùa đông, con sâu non nằm ở dưới đất, nấm phát triển vào toàn thân con sâu để hút chất trong con sâu làm cho con sâu chết. Đến mùa hạ, nấm sinh cơ chất (stroma) mọc chui khỏi mặt đất, nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu, đào lấy tất cả xác sâu và nấm mà dùng.
Vị thuốc bao gồm cả nấm và sâu, hái vào tháng 6 – 7. Rửa sạch, phơi khô, phun rượu vào rồi phơi khô hẳn. Bó thành từng bó 10 – 15 con một. Ngang chỗ nấm, người ta buộc sợi chỉ đỏ trông rất đẹp.
Vị thuốc như vậy gồm có phần sâu non dài 2,5 – 3cm, đường kính 3 – 5mm, màu vàng nâu hay xám nâu. Từ đầu con sâu mọc ra một thân nấm hình trụ đặc biệt. Thân nấm thường dài 3 – 6cm, đặc biệt có thể dài 11cm. Phía dưới thân nấm có đường kính 1,5 – 4mm, phía trên to phình ra, cuối cùng lại thon nhọn, cả phần này dài 10 – 45mm, đường kính 2,5 – 6mm. Nếu còn non thì đặc, nếu già thì thân rỗng. Dùng kính hiển vi, ta sẽ thấy phần phình to này có vỏ sần sùi, có những hạt nhỏ tức là từ nang xác nổi lên. Phần đầu thon nhọn không mang tử nang xác và dài từ 0,5 – 3,5mm.
Từ nang xác hình trứng hay hơi tròn, dài 380 – 550μ. Đường kính 140 – 240μ (1μ = 1/1.000mm). Trong tử nang xác có chứa các nang hình sợi có cuống ngắn dài 240 – 485μ, đường kính 12 – 15μ. Trong nang có nhiều nang bào tử có nhiều vách riêng biệt dài 17 – 47μ, đường kính từ 5 – 5,5 hoặc 6μ.
Tại Trung Quốc, đông trùng hạ thảo thường gặp ở những rừng ẩm ướt các tỉnh Tứ Xuyên, Văn Nam, Tây Khang, Tây Tạng, nhiều nhất ở Tứ Xuyên và Tây Khang.
Qua sự phân bố ở Trung Quốc, chúng ta chú ý phát hiện tại một số rừng ẩm ướt ở các tỉnh biên giới.
Để cụ thể hơn thì:
Nấm Ophiocordyceps sinensis gồm hai phần: Phần hạch nấm bên trong cơ thể con sâu (thuật ngữ sinh học trong tiếng Anh là endosclerotium, tạm dịch là xác sâu), phần thân nấm mọc ra bên ngoài cơ thể sâu (stroma). Thân nấm thường có màu nâu đậm hoặc đen, khi còn non có thể có màu vàng và dài hơn cả con sâu, thường từ 4 – 10 cm, chui ra từ đầu con sâu, có hình chùy hoặc bầu dục thon dài, khác biệt rõ rệt so với phần cuống nấm (stipe) thường thấy.
Phần sinh sản của thân nấm (stroma) chính là phần đầu. Phần đầu có bề mặt dạng hạt do có các lỗ mở (ostioles) của các thể quả chai (perithecium) nằm bên trong. Thể quả chai có hình trứng và được sắp xếp theo thứ tự. Bên trong chúng là các túi bào tử / nang bào tử (ascus) có hình trụ hoặc hơi thon ở cả hai đầu, có thể thẳng hoặc cong nhẹ, đầu hình nửa cầu hoặc hình đầu tròn, chứa từ 2 đến 4 bào tử. Các bào tử túi / bào tử nang (ascospore) có màu trong suốt, hình sợi chỉ, thuôn ở hai đầu, trong có nhiều vách ngăn, dài khoảng 5 – 12µm.
Thông tin thêm
1. Tên gọi của đông trùng hạ thảo
Ở Tây Tạng, đông trùng hạ thảo được gọi là yartsa gunbu (tiếng Tạng: དབྱར་རྩྭ་དགུན་འབུ་), có nghĩa là “mùa hè là cỏ, mùa đông là sâu”. Tên gọi này được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ 15 bởi vị lương y Tây Tạng Zurkhar Namnyi Dorje. Trong đời sống thường ngày, người Tạng thường gọi ngắn gọn là “bu” hoặc “yartsa“. Tên gọi này cũng được phiên âm sang tiếng Nepal là यार्चागुन्बू, यार्चागुन्बा, hoặc yarshagumba, yarchagumba, yarsagumba.
Trong tiếng Trung, đông trùng hạ thảo được gọi là dōng chóng xià cǎo (冬蟲夏草), mang nghĩa là “sâu mùa đông, cỏ mùa hè”, dịch sát nghĩa từ tên gốc tiếng Tạng. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, tên gọi này thường được rút gọn thành chóng cǎo (蟲草), tức là “con sâu hóa cây”, và cũng được dùng để chỉ các loài Cordyceps khác, chẳng hạn như Cordyceps militaris. Ở Nhật Bản, nó được gọi theo cách đọc Hán tự là tōchūkasō (冬虫夏草). Tại Hàn Quốc và Việt Nam, tên gọi là phiên âm từ tiếng Trung, cụ thể là dongchunghacho (동충하초) trong tiếng Hàn và đông trùng hạ thảo trong tiếng Việt.
2. Vòng đời và sinh thái của nấm ký sinh
Nấm O. sinensis dễ dàng lây nhiễm trên những con sâu non sống ở độ sâu 15 cm dưới lòng đất, trong các vùng cỏ và cây bụi ở độ cao từ 3.000 đến 5.000 mét, thuộc cao nguyên Tây Tạng và dãy Himalaya. Cũng thấy nấm được ghi nhận xuất hiện ở vùng phía bắc Nepal, Bhutan, các bang phía bắc của Ấn Độ, ngoại trừ phía bắc Vân Nam, phía đông Thanh Hải, phía đông Tây Tạng, phía tây Tứ Xuyên và tây nam Cam Túc của Trung Quốc. Có tổng cộng 57 loài thuộc nhiều chi khác nhau được xác định là vật chủ tiềm năng của O. sinensis, bao gồm: 37 loài thuộc chi Thitarodes, 1 loài Bipectilus, 1 loài Endoclita, 1 loài Gazoryctra, 3 loài Pharmacis Và 14 loài khác chưa xác định rõ thuộc chi nào.
Vào đầu mùa xuân, phần quả thể của nấm (giống như cây nấm nhỏ, màu nâu sẫm đến đen) mọc ra từ đầu của con sâu đã chết và nhô lên khỏi mặt đất ở các vùng đồng cỏ núi cao. Đến cuối mùa hè, quả thể này phát tán các bào tử nấm ra môi trường. Những con sâu sống dưới đất, ăn rễ cây, dễ bị nhiễm nấm nhất sau khi chúng lột xác — thường xảy ra vào cuối mùa hè. Vào cuối mùa thu, các chất hóa học trên da của sâu tương tác với bào tử nấm, kích hoạt sự phát triển của sợi nấm (mycelia). Sợi nấm này sau đó xâm nhập và gây nhiễm cho con sâu.
Sau khi bị nhiễm nấm, ấu trùng thường nằm dưới đất theo chiều thẳng đứng, đầu hướng lên phía mặt đất. Nấm xâm nhập vào cơ thể ấu trùng, lan rộng khắp bên trong và cuối cùng khiến ấu trùng chết. Dần dần, cơ thể ấu trùng trở nên cứng lại do nấm tạo ra các cấu trúc gọi là sclerotia — đây là những khối sợi nấm đặc biệt có thể “ngủ đông” trong thời gian dài và sau đó nảy mầm để tạo ra bào tử. Sau khi trải qua mùa đông, nấm phá vỡ cơ thể của ấu trùng đã chết, mọc lên phần quả thể (giống như cây nấm) từ đầu của ấu trùng. Phần này gọi là perithecial stroma, là cấu trúc sinh sản của nấm. Quả thể này nối liền với phần sclerotia nằm dưới đất, phát triển lên trên mặt đất để hoàn tất vòng đời của nấm.
Nấm Ophiocordyceps sinensis phát triển rất chậm và chỉ sống được ở nhiệt độ khá thấp — dưới 21°C. Nhiệt độ phù hợp và tốc độ phát triển chậm chính là những yếu tố quan trọng giúp phân biệt O. sinensis với các loại nấm tương tự khác. Biến đổi khí hậu được cho là đang ảnh hưởng tiêu cực đến loài nấm này trong môi trường núi cao.
3. Đông trùng hạ thảo của Việt Nam
Đông trùng hạ thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Hằng năm tại Thất Khê (Lạng Sơn) hay Hòa Bình, nhân dân có bán với tên đông trùng hạ thảo một loại sâu khác, sống trong thân cây thuộc họ Hoa thảo Poaceae.
Sâu này có tên khoa học là Brihaspa atrostigmella thuộc bộ Cánh vẩy Lepidoptera. Nó sống trong thân cây chít (một loại lau) vẫn cho lá để gói bánh tro. Tên khoa học của cây chít là Thysanolaena maxima (Roxb.) Kuntze, thuộc họ Hòa thảo Poaceae. Người ta còn gọi là cây đót, cây le, cây công.
Cây chít cao như cây bông lau, tháng 3 – 4 có bông vọt lên, cứng dài hơn bông lau, người ta thường cắt về làm chổi quét bụi bàn ghế hay chổi quét vôi. Vào các tháng 11 – 12 vào rừng thấy những cây chít nào cụt, không có búp thường có sâu ẩn trong thân. Cắt ngang thân từ chỗ cành đến ngọn dài 50 – 60cm. Đem về xé đôi thân sẽ thấy con sâu ở trong. Thực ra đó chỉ mới là nhộng của con sâu Brihaspa atrostigmella. Sau này đẻ trứng ở vỏ cây, nhộng nở ra chui vào và sống trong thân cây qua mùa đông.
Nhộng màu trắng vàng, dài khoảng 35mm. Thả vào chậu nước muối để rửa cho sạch. Sau đó rang hay sấy cho khô. Tẩm mật ong rồi lại sấy khô. Cuối cùng ngâm sâu này vào rượu sẽ thấy các chất béo nổi lên như mỡ trong nước luộc gà.
4. Thành phần hóa học
Đông trùng hạ thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Đông trùng hạ thảo Việt Nam chưa được nghiên cứu.
Trong đông trùng hạ thảo nhập ở Trung Quốc người ta đã lấy được chừng 7% một loại axit đặc biệt gọi là axit cordycepic (??), có cấu tạo tương tự như axit quinic. Nhưng các chất khác và hoạt chất chưa được biết.
Đông trùng hạ thảo chứa 25 – 32% protid. Khi thủy phân cho axit glutamic, prolin, histidin, valin và oxyvalin (??), arginin và alanin. Ngoài ra còn có 8,4% chất béo trong đó axit béo no chiếm 13%, axit không no chiếm 82,2% (axit linoleic 31,69%, axit linolenic 68,31%) (theo Lưu Thọ Sơn và cộng sự – Trung dược nghiên cứu đề yếu, 1963, 126).
Ngoài ra người ta còn chiết được axit cordycepic chứng minh là D-mannitol (theo Sprecher M. và cộng sự – J. Org. Chem. 1963, 28, 2490).
Từ Cordyceps militaris (L.) Fr. nuôi dưỡng trong môi trường người ta chiết được cordycepin hay 3′ deoxyadenosin C10H13N5O3.
5. Tác dụng dược lý
Đông trùng hạ thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Đông trùng hạ thảo đã được Brewster và Aisberg nghiên cứu từ năm 1917 (J. Pharmacolog. 10, 1917). Theo tác giả này thì tiêm mạch máu hoặc dưới da thuốc đông trùng hạ thảo vào thỏ hoặc chuột nhắt trắng thì thấy hiện tượng ức chế, liều lớn tăng hô hấp và mạch đập nhanh hơn rồi con vật quằn quại mà chết. Thuốc chế bằng rượu không có tác dụng gì đối với thỏ.
Năm 1952, Trịnh Phi Vũ (Trung hoa y học tạp chí) và Trịnh Táo Kiệt (Thú ý tạp chí) nghiên cứu thấy đông trùng hạ thảo có tác dụng ức chế đối với một số vi trùng.
Năm 1958 hai tác giả Trung Quốc Trương Sỹ Thiện và Trương Bá Thạch có nghiên cứu kỹ tác dụng của đông trùng hạ thảo và đã đi đến một số kết luận sau đây (Dược học thông báo 5/1958):
– Nước sắc 1/10 đông trùng hạ thảo có tác dụng ức chế đối với tim cô lập và tại chỗ của ếch, cũng như đối với tim cô lập của thỏ. Tim đập chậm lại, nhưng sức bóp không tăng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trịnh Táo Kiệt, nhưng ông này cho rằng nếu lượng chất dầu béo trong đông trùng hạ thảo cao thì gây ức chế, ngược lại, nếu tỷ lệ dầu béo thấp thì lúc đầu có hiện tượng ức chế một thời gian rất ngắn rồi mới đến hiện tượng hưng phấn. Đối với tim cô lập của thỏ, thuốc đông trùng hạ thảo làm tăng rõ rệt lượng huyết của tim. Các kết quả trên phù hợp với kinh nghiệm cổ truyền của nhân dân nói rằng đông trùng hạ thảo chữa khỏi bệnh đau tim.
– Đối với huyết áp: Kết quả thí nghiệm trên chó gây mê cho thấy nếu tiêm tĩnh mạch với liều 0,1 – 0,5 ml hoặc 1ml/kg thể trọng đều thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt, 10 phút sau huyết áp trở lại bình thường. Tuy nhiên cho uống hoặc tiêm vào bụng với liều 2ml/kg thể trọng thì không thấy ảnh hưởng đối với huyết áp. Do đó tác dụng đối với huyết áp chưa thể kết luận được.
– Đối với khí quản (ống phổi): Thí nghiệm trên phổi và khí quản của chuột bạch, thấy thuốc đông trùng hạ thảo làm dãn khí quản nếu phối hợp với hoạt chất của thượng thận thì tác dụng của hoạt chất thượng thận lại tăng lên rõ rệt. Kết quả thí nghiệm này phù hợp tới công dụng chữa ho, tiêu đờm, bảo vệ phổi của kinh nghiệm cổ truyền.
– Đối với mẫu ruột và tử cung cô lập: Tác dụng ức chế rõ rệt.
– Độc tính của thuốc: Độ độc của thuốc hết sức thấp. Với liều 5g/kg chuột bạch, chuột không có hiện tượng ngộ độc nào. Với liều 10 – 20g/kg thể trọng một phần chuột thí nghiệm bị chết, với liều 30 – 50g/kg thể trọng toàn số chuột thí nghiệm bị chết. Triệu chứng ngộ độc của chuột như sau: Sau khi tiêm thuốc 2 phút rưỡi, chuột không nhanh nhẹn, sau 4 phút hô hấp chậm và dài, thường từ 180 lần/phút giảm xuống 46 lần/phút; sau 6 phút rưỡi chân trước bị tê liệt có vẻ như muốn nhảy nhót, sau đó có hiện tượng co quắp, hô hấp bị ức chế rồi chết. Với liều nhẹ, con vật có trạng thái trấn tĩnh với những trình độ khác nhau, có con vật buồn ngủ và tình trạng này kéo dài hàng vài giờ.
Công dụng và liều dùng đông trùng hạ thảo
Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc được ghi vào tài liệu thuốc đông y vào giữa thế kỷ 18 trong bộ Bản thảo cương mục thập di (1765).
Theo sách cổ ghi chép, đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, chữa ho, ho lao. Bổ tinh khí chữa đau lưng, bổ thận.
Liều dùng: Ngày uống 6 – 12g dùng với hình thức ngâm rượu uống.
Người ta cho rằng đông trùng hạ thảo ngâm rượu uống chữa chứng đau lưng, mỏi gối, tác dụng ngang với nhân sâm.
Theo tài liệu cổ, đông trùng hạ thảo có vị ngọt, tính ôn, vào 2 kinh phế và thận. Có tác dụng ích phế, thận, bổ tinh tủy, cầm máu, hóa đờm, dùng chữa hư lao sinh họ, ho ra máu, liệt dương, lưng gối đau mỏi, di tinh.
Đông trùng hạ thảo Việt Nam mặc dầu khác đông trùng hạ thảo nhập từ Trung Quốc, nhưng nhân dân cũng dùng như đông trùng hạ thảo nhập. Ngoài ra, người ta còn xào nấu với trứng mà ăn cho bổ, hoặc có người mua đông trùng hạ thảo Việt Nam về để nuôi chim họa mi.
Đơn thuốc có đông trùng hạ thảo:
Thuốc chữa người già suy nhược, viêm khí quản mãn tính: Đông trùng hạ thảo 10 g, khoản đông hoa 6g, tang bạch bì 8g, cam thảo 3g, tiểu hồi hương 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Chữa bệnh suy nhược của người già yếu, viêm khí quản mãn tính.
Thuốc bổ đông trùng hạ thảo: Đông trùng hạ thảo 15 con. Vịt già một con, bỏ lông ruột cho sạch. Bổ đôi đầu vịt, cho đông trùng hạ thảo vào. Lấy dây gai buộc kín lại. Cài đầu vào bụng vịt rồi thêm mắm muối hầm như thường lệ, đem cho người ốm mới khỏi thân thể có hư yếu ăn. Người ta cho rằng ăn một con vịt như vậy cũng như uống 40g nhân sâm.
Vậy mua đông trùng hạ thảo ở đâu uy tín, chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm đông trùng hạ thảo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Đông trùng hạ thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Ophiocordyceps sinensis – Wikipedia tiếng Anh.
Tìm kiếm liên quan
- Tác dụng đông trùng hạ thảo
- Tác hại của đông trùng hạ thảo
- 10 tác dụng của đông trùng hạ thảo
- Giá đông trùng hạ thảo
- Ai dụng được đông trùng hạ thảo
- Giá đông trùng hạ thảo khô
- Khi nào không nên uống đông trùng hạ thảo
- Nấm đông trùng hạ thảo









