Bộ sưu tập




Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Chanh leo hay chanh dây, chanh dây tím, dây mát, chùm bao trứng, tên tiếng Anh là passion fruit (danh pháp khoa học là Passiflora edulis Sims) là loài thực vật thuộc họ Lạc tiên Passifloraceae.
Mô tả cây chanh leo
Cây dây mát – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dây leo mảnh, dài hàng chục mét. Thân mềm, hình trụ, có rãnh dọc, nhiều lông thưa. Lá mọc so le; chia 3 thuỳ nhẵn bóng, mép khía răng, gốc lá hình tim có hai tuyến nhỏ, đầu nhọn, gân lá chẻ 3 từ gốc; lá kèm nhọn hình sợi, tua cuốn mọc ở kẽ lá, dài hơn lá, đầu cuốn lại như lò xo.
Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá, có cuống dài, màu trắng; không có tổng bao; đài 5 lá màu xanh lục; tràng 5 cánh rời nhau, xếp xen kẽ với các lá đài, có một vòng tua gồm rất nhiều phần phụ hình sợi chỉ (tràng phụ) loăn xoăn, phần giữa màu tím; nhị 5 mọc ở ngọn cuống nhị nhụy, chỉ nhị nằm ngang, bao phấn màu vàng; bầu thượng hình cầu, 1 ô. Quả mọng, hình trứng, khi chín màu da cam; hạt nhiều có áo bao bọc. Mùa hoa quả: tháng 3 – 5.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây dây mát – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Passiflora L. có khoảng 400 loài trên thế giới, trong đó 60 loài có quả ăn được. Ở vùng Đông Nam Á, chi này hiện có khoảng 20 loài, trong đó có 13 loài được nhập từ các vùng khác. Trong số các loài mọc tự nhiên có 5 loài đặc hữu của vùng, nhưng quả của chúng không ăn được (A.M. Gurnah, 1992, P. edulis Sims, in: E. W. M. Verheij and R.E. Coronel, PROSEA, No2: 245 – 248).
Ở Việt Nam, chi Passiflora L. có 15 loài (Nguyễn Tiến Bân, 1997), 2 loài do nhập nội, trong đó có dây mát.
Dây mát có nguồn gốc ở vùng Nam Brazil, dưới hai quần thể: loại quả tím hoặc tía ở vùng cao, khí hậu mát và loại quả màu vàng mọc ở vùng thấp hơn. Loại quả vàng đã được nhập, trồng khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ đầu thế kỷ 19. Ở Việt Nam, dây mát có thể do người Pháp mang đến, nhưng không biết chính xác vào thời gian nào. Năm 1974, Nguyễn Tập, Bùi Xuân Chương và cộng sự đã phát hiện thấy dây mát mọc trong trạng thái hoang dại ở vùng Mường Lống, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Dây mát thuộc loại cây ưa sáng và mọc nhanh, có biên độ sinh thái khá rộng và có thể trồng ở vùng nhiệt đới và cả cận nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình 15 – 30oC, lượng mưa 2000 – 3000 mm/năm. Ở Nam Phi cây có thể trồng được trong điều kiện lượng mưa chỉ có 900mm/năm. Cây sống được trên nhiều loại đất, nếu được chăm bón sẽ sinh trưởng phát triển tốt hơn. Trồng được bằng hạt, sau khoảng 2 tuần, hạt nảy mầm và sau 5 – 6 tháng, cây có hoa quả. Cây trồng bằng cành (vít cành phụ đã cho ra rễ mới đem trồng) sẽ nhanh hơn. Dây mát trồng ở Việt Nam cho nhiều quả (10 – 15kg quả/cây/năm) (theo số liệu của trung tâm cây ăn quả Phủ Lý, 1998).
Dây mát là loại cây ăn quả tương đối phổ biến ở vùng nhiệt đới. Năm 1987, toàn thế giới có khoảng 4500ha riêng Nam Mỹ (Brazil, Peru, Ecuador): 3000ha, Sri Lanka: 800ha, Australia: 550ha, Philippines: 200ha. Riêng Philippines và Thái Lan mỗi năm bán ra thị trường thế giới khoảng 1000 tấn quả (A.M. Curnah, 1992, P. edulis Sims. in: E. W. M. Verheij and R. E. Coronel, PROSEA, No2: 245 – 248).



2. Thành phần hoá học
Cây dây mát – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Quả dây mát loại tía cho 49,6% vỏ quả, 36,8% dịch quả và 13,6% phần còn lại.
Quả dây mát loại vàng cho 61,9% vỏ quả, 30,9% dịch quả và 7,4% phần còn lại.
Vỏ quả của loại tía chứa nhiều pectin 1,5 – 2,5% (tính theo vỏ quả tươi) và 9 – 15% Ca pectat (tính theo vỏ quả khô). Nếu đem thuỷ phân, pectin này cho acid D-galacturonic, L-arabinose và galactose.
Vỏ quả dây mát chứa protein thô 2,04 – 2,84%, chất chiết bằng ether (mỡ) 0,05 – 0,16%, tinh bột thô 0,75 – 1,36%, chất xơ thô 4,57 – 7,13%, P 0,03 – 0,06%, Si 0,01 – 0,04%, K 0,6 – 0,78%, vitamin C (78,3 – 106,2mg/100g), 1,64% đường (sucrose, glucose và fructose), acid hữu cơ 0,15% (acid citric, acid malic), chất làm săn da (chủ yếu là tanin) 2,98%. Vỏ quả loại tía có plageronidin 3-diglucoside 1,4mg/100g.
Phần ruột quả chứa cyanidin 9-glucoside 97%, cyanidin 3-(6”-malonylglucoside) 2% vàplageronidin 3-glucoside 1% (CA. 127, 1997, 31543z).
Dịch quả loại tía chứa vitamin C 70mg/100g, acid dehydroascorbic, carotenoid (chủ yếu là β-carotene), tinh dầu, acid amin.
Tinh dầu quả loại vàng chứa n-hexyl caproate 70%, n-hexyl butyrate 13,4%, ethyl caproate 11%, ethyl butyrat 0,95%.
Theo Chassagne David và cs 1996, các tiền chất tạo hương của quả dây mát là 6-O-α-arabinopyranosyl-β-D-glucopyranoside của linalool, alcohol benzylic và 3-methyl-but-2-en-1-ol (CA, 124: 284349c).
Các acid amin trong dịch quả loại tía là leucine, valine, tyrosine, proline, threonine, glycine, acid aspartic, arginine và lysine.
Hạt chiếm 7 – 22% so với quả loại tía; 2,4 – 12,4% so với quả loại vàng.
Hạt của quả loại tía chứa tới 19% dầu béo. Các acid béo là acid palmitic 6,78%, acid stearic 1,76%, acid arachidic 0,34%, acid oleic 19,0%, acid linoleic 59,9%, acid linolenic 5,4%.
Theo A M Gunrak (1992), 100g phần thịt của quả chứa 69 – 80% nước, protein 1,3g, mỡ 2,0g, carbohydrate 10g, chất xơ 3,5g, Ca 10mg, Fe 1,0mg, vitamin A 20 đơn vị quốc tế, vitamin B1 0,01g, riboflavin 0,01g, nicotinamide 1,5mg và vitamin C 20mg (Procea 2, 1992).
Theo một số tài liệu khác, dây mát chứa các alkaloid (harmane, harmin, harmol, harmaline), các flavonoid (apigenin, luteolin) và triterpene glycoside (Passiflorin = (22R), (24S)-22,31-epoxy-24-methyl-1α,3β,24,31-tetrahydroxy-9,19-cyclo-9β-lanostan-28-oic acid β-d-glucosyl ester).
Một số giống chanh dây chứa lượng lớn polyphenol, chất chống oxy hóa mạnh giúp bảo vệ tế bào và tăng cường sức khỏe (Stephen T Talcott et al.; 2003). Vỏ và nước ép của một số loại còn chứa các hợp chất glycoside cyanogenic như prunasin, có thể giải phóng cyanide khi phân hủy trong cơ thể, nên cần chú ý khi sử dụng (David Chassagne et al.; 1996).
Công dụng của chanh dây
Quả chín ăn được dùng làm đồ tráng miệng sau bữa ăn. Theo tài liệu nước ngoài, thịt quả dây mát được dùng làm thuốc bổ, kích thích thần kinh. Thịt quả và dịch ép từ quả được coi là có giá trị dinh dưỡng cao nên được pha chế đồ uống, làm đồ hộp, bánh kẹo.
Dầu từ hạt có thể dùng để ăn và dùng trong kỹ nghệ sơn và verni.
Cách trồng cây chanh leo lấy quả
Có hai phương pháp trồng chanh leo phổ biến là bằng hạt hoặc giâm cành. Tuy nhiên trồng bằng cách giâm cành sẽ nhanh thu hoạch hơn là gieo bằng hạt.
1. Trồng bằng hạt
– Trước khi trồng bạn nên xử lý hạt trước bằng cách ngâm hạt giống vào nước ấm trong khoảng thời gian một ngày để hạt nở trương dễ nảy mầm hơn
– Tiếp theo là chuẩn bị giá thể gieo hạt bằng lớp đất mỏng. Gieo từng ô một và ủ đất mỏng lên trên rồi tưới nước giữ ẩm cho gái thể. Sau đó đem đặt ở nơi có ánh sáng để kích thích hạt nảy mầm.
– Từ khi gieo hạt đến khi nảy mầm chỉ mất hơn một tuần một tí. Sau 4 tuần cây con có thể cao đến 15cm thì sẵn sàng cho việc trồng ra nơi ở mới.
2. Trồng bằng cây giống
– Nếu không có nhiều thời gian bạn có thể ra các shop chuyên cây giống cây ăn quả mua cây giống chanh leo về rồi tiến hành trồng ra vườn hoặc trong chậu. Nên chọn những cây có chiều cao từ 15 cm trở lên.
3. Làm giàn cho cây chanh leo:
Do là cây dây leo nên khi cây đạt chiều cao từ 60 cm trở nên thì bắt buộc bạn phải làm giá đỡ cho cây bám và sinh trưởng tiếp được. Nên tận dụng giàn mướp đã làm trước đó hoặc có thể cho chanh leo bám sát ven theo bờ rào, tường nhà bạn cũng được.
Công dụng cũng như cách trồng rau kinh giới
4. Chăm sóc cây chanh leo
– Tưới nước: Do là loại cây trồng vùng nhiệt đới nên cây cần độ ẩm khá lớn. Tưới một lượng nước đầy đủ sẽ khiến dây chanh leo càng phát triển mạnh mẽ và vươn tán càng xa và rộng. Cứ theo định kì 2 ngày bạn tưới một lần vào buổi sáng khi trời mát và chiều tối. Mùa khô nhiệt độ có thể lên tới 38 – 40oC. Nước mùa này sẽ nhanh bốc hơi thì có thể tăng số lần tưới nước lên để đảm bảo cây không bị khô héo do thiếu nước.
– Cắt tỉa, tạo tán cho chanh leo: Một khi cây đã có chỗ bám giàn thì sẽ phát triển rất nhanh. Hết ngọn này rồi đến các ngọn khác sẽ đâm chồi và lan ra tứ phía. nếu để tự nhiên thì trông khá mất thẩm mỹ, đòi hỏi lúc này bạn cần tỉa cành và tạo hình cho cây vừa giúp loại bỏ bớt những cành lá héo úa sâu bệnh giúp cây nhanh ra nụ đậu nhiều trái hơn.
– Sâu bệnh hại của chanh leo: Cây chanh leo cũng mắc phải một số loại bệnh phổ biến như sâu ăn lá, đốm nâu, … ngoài ra bệnh phấn trắng hay thối quả cũng là những loại bệnh người trồng cần chú ý khi muốn nuôi cây chanh leo khỏe mạnh.
– Thụ phấn cho cây: Điểm đặc biệt ở chanh leo đó chính là trên một cây có cả hoa đực và cái cùng sinh sống. Nhưng thường cây lại tự thụ phấn nhờ ong bướm. Trong một số trường hợp đặc biệt thì mới cần đến bạn thụ phấn bằng tay cho hoa.
Địa chỉ bán cây chanh leo tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống chanh leo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Chanh dây – Wikipedia tiếng Việt.
- Cây dây mát – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Stephen T Talcott, Susan S Percival, Jennifer Pittet-Moore, Charity Celoria (2003). “Phytochemical composition and antioxidant stability of fortified yellow passion fruit (Passiflora edulis)”. Journal of Agricultural and Food Chemistry. 51(4):935 – 41.
- David Chassagne, Jean C. Crouzet, Claude L. Bayonove, Raymond L. Baumes (1996). “Identification and quantification of passion fruit cyanogenic glycosides”. Journal of Agricultural and Food Chemistry. 44(12):3817 – 3820.









