Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Sưa đỏ hay trắc thối, huế mộc, tên tiếng Anh là sua (danh pháp khoa học là Dalbergia tonkinensis Prain), là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đậu Fabaceae được Prain mô tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1901. Loài này từng có thời gian được xếp làm thứ của loài Dalbergia rimosa Roxb. (trắc dây).
Mô tả cây sưa đỏ
Cây gỗ nhỡ, cơ chế rụng lá theo mùa, mọc cao từ 6 – 12 mét (hoặc cũng có thể cao tới 15 mét), sinh trưởng trung bình. Thân cây dạng hợp trục, có dáng phân tán. Vỏ thân màu vàng nâu hay xám, nứt dọc. Cành non màu xanh, có xuất hiện lông mịn thưa. Lá mọc cách, kép lông chim lẻ, có từ 9 – 17 lá chét đính so le trên cuống chính. Lá chét hình xoan thuôn, đầu nhọn hoặc có mũi nhọn, đáy tròn, mặt dưới thường có màu tái trắng. Lá chét dài từ 6 – 9 cm, rộng từ 3 – 5 cm, đặc biệt lá chét đính ở đầu cuống kép thường có kích thước lớn hơn so với các lá còn lại. Cuống chính và các cuống lá chét không lông, phiến lá chét không lông. Có lá kèm nhỏ không lông, nhưng sớm rụng.
Hoa mọc ra từ nách lá, thường sẽ xuất hiện trước khi lá mọc đầy đủ. Hoa tự tán gồm nhiều bông nhỏ màu trắng, có kích thước 7 – 9 mm, mùi thơm nhẹ. Mùa hoa vào tháng 2 – 3. Quả dạng đậu hình trứng thuôn dài, dài từ 5 – 7,5 cm; rộng khoảng 2 – 2,5 cm. Quả chứa từ 1 – 2 hạt, mỗi hạt có đường kính khoảng 8 – 9 mm, hình thận dẹp. Quả khi chín sẽ không tự nứt.


Theo tài liệu khác, sưa đỏ là loại cây gỗ lớn, cao 15 – 25 m, đường kính đạt 0,5 – 0,7 m, vỏ màu xám hay nâu xám, thịt vỏ nâu vàng, có mùi hơi tanh. Lá kép lông chim một lần lẻ, mọc cách, mang 7 – 17 lá chét hình trứng hay bầu dục, gốc tròn, đầu có mũi nhọn ngắn, mặt trên xanh thẫm, dưới xanh nhạt, khi non màu xanh lá mạ, dài 4 – 5 cm, rộng 2,5 – 3 cm. Lá kép dài 15 – 30 cm, cuống chính màu xanh, gốc cuống hơi phình, lá kèm nhỏ sớm rụng. Lõi gỗ có màu đỏ khi già (Lê Thị Thúy Loan, Nguyễn Thanh Tân; 2024).
Thông tin thêm
1. Đặc điểm sinh thái
D. tonkinensis là cây ưa sáng, ưa đất sâu, dày, độ ẩm cao. Phân bố ở độ cao tuyệt đối dưới 500 mét. Trong tự nhiên thường được tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới và rừng mưa nhiệt đới gió mùa. Chủ yếu phân bố ở Việt Nam và được tìm thấy rải rác tại đảo Hải Nam, Trung Quốc (tại đây nó được gọi với cái tên là Hoàng Hoa Lê Hải Nam, huê mộc vàng, tử đàn Việt Nam).
Sưa đỏ có tán thưa, hoa trắng và thơm, có thể được ứng dụng trồng làm cảnh quan đường phố.
2. Cấu tạo gỗ cây sưa Dalbergia tonkinensis
Cấu tạo thô đại: Gỗ sưa có dác và lõi phân biệt. Gỗ dác có màu xám vàng nhạt. Gỗ lõi có nhiều màu sắc, từ đỏ vàng đến nâu hồng, nâu hơi tím, thường có sọc màu sẫm tạo thành vân rất đẹp cả trên 3 mặt cắt. Vòng sinh trưởng thường không rõ ràng, rộng 1 – 2mm. Mặt gỗ mịn. Mạch gỗ đơn đến kép ngắn, có hai loại kích thước, thường phân bố không đều, từ phân tán đến nửa vòng và vòng. Trong mạch thường có chất chứa màu nâu đỏ, nâu vàng. Gỗ ở phần gốc hoặc gỗ để lâu ngày, chất chứa thường chuyển dần thành màu đen. Mô mềm dính mạch không đều, có khi phát triển thành hình cánh, hình cánh nối tiếp, hình dải rộng hẹp khác nhau, lượn sóng hoặc lệch, đôi khi làm thành với tia hình mạng lưới. Mô mềm không dính mạch phân tán và tụ hợp. Trong mô mềm ở phần gỗ lõi thường chứa chất hữu cơ màu nâu vàng, nâu đỏ. Tia gỗ nhỏ và hẹp, có cấu tạo tầng. Chiều hướng thớ lệch. Gỗ rất cứng và rất nặng. Khối lượng thể tích ở độ ẩm 12%: 0,790 – 0,910-1,003 g/cm3. Gỗ có mùi thơm rất đặc biệt. Trên mặt cắt ngang phần gỗ lõi vừa mới cắt ra thường thấy có vết nhựa màu nâu đùn ra.
Cấu tạo hiển vi: Mạch gỗ hình tròn, bầu dục, đơn và kép 2 – 3. Số lượng mạch /mm2 ít đến trung bình (3 đến 7 lỗ mạch). Đường kính lỗ mạch nhỏ trung bình dưới 100 µm, đường kính lỗ mạch lớn đến 210 µm. Lỗ thông mạch đơn. Lỗ thông ngang trên vách mạch nhỏ. Tia gỗ nhỏ và hẹp, gồm 1 – 2 hàng tế bào (chủ yếu là 2 hàng), tế bào tia thường chứa nhiều chất hữu cơ màu nâu đỏ đến nâu vàng. Tia cao trung bình 186 µm, rộng trung bình 21 – 25 µm. Trong tế bào mô mềm dọc thường có tinh thể oxalat xếp thành dãy dọc (Đỗ Văn Bản cùng cộng sự; 2010).
3. Thành phần hóa học (sưu tầm)
Nghiên cứu của Lê Thị Thúy Loan, Nguyễn Thanh Tân (2024) tập trung vào lõi gỗ đỏ từ cây Sưa đỏ (Dalbergia tokinensis) ở rừng quốc gia Yok Đôn tại tỉnh Đắk Lắk và tiến hành tạo ra cao chiết metanol tổng, các cao chiết phân bố tương ứng. Sử dụng phương pháp sắc ký bản mỏng (TLC) và sắc ký cột (CC) từ cao phân bố, kết quả đã phân lập và xác định được cấu trúc hóa học của ba hợp chất gồm: Liquiritigenin (1; C15H12O4, M = 256), butin (2; C15H12O5, M = 272) và sativanone (3; C17H16O5, M = 300). Sử dụng phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều 1D (phổ 1H-NMR, 13C-NMR) và so sánh với các tài liệu tham khảo đã được công bố trước đó, xác định được cấu trúc của các hợp chất này. Điều đáng chú ý là, đây là lần đầu tiên mà Liquiritigenin (1), butin (2) và sativanone (3) được phân lập từ lõi gỗ của cây Sưa đỏ (Dalbergia tokinensis).
Từ cao chiết chlorofom gỗ cây Sưa đỏ (Dalbergia tokinensis Prain) thu hái tại tỉnh Đắk Lắk. Sử dụng các phương pháp sắc ký bản mỏng (TLC) kết hợp với sắc ký cột (CC). Hợp chất có khung isoflavone là calycosin C16H12O5 được phân lập. Cấu trúc hóa học của hợp chất này được xác định bằng phổ cộng hường từ hạt nhân NMR (phổ 1H-NMR ,13C-NMR), đồng thời đối chiếu với các tài liệu tham khảo đã công bố (Ngũ Trường Nhân, Nguyễn Mạnh Cường; 2020).
Từ cao ethyl axetat của cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) thu được tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã phân lập được hai hợp chất isoflavanone: sativanone (1; C17H16O5, M = 300) và 3’-O-methylviolanone (2; C18H18O6, M = 330). Cấu trúc hóa học của các hợp chất này được xác định bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) đồng thời đối chiếu với các tài liệu tham khảo đã công bố. Đây là lần đầu tiên chúng được phân lập từ loài Dalbergia tonkinensis (Đàm Thị Bích Hạnh cùng cộng sự; 2023).
Một sesquiterpene mới, rel-(3R,6S,7S)-6α-hydroxycyclonerolidol (1), cùng với ba hợp chất đã biết, bao gồm neroplomacrol (2), naringin (3) và p-formylphenol (4) đã được phân lập từ phần gỗ lõi của cây sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis) (Ninh The Son et al.; 2019).
Khảo sát hóa thực vật trên dịch chiết methanol của bột gỗ cây Dalbergia tonkinensis thu hái tại Hà Nội vào tháng 8 năm 2008 đã phân lập được hai isoflavone là genistein C15H10O5 (1), lanceolarin C27H30O14 (2) và một dihydrophenanthrene là 9,10-threo-3-[7-(3,10-dihydroxy-9-hydroxymethyl-2,5-dimethoxy)-9,10-dihydrophenanthrenyl]propenal C20H20O6 (3). Cấu trúc của chúng được xác định bằng các phương pháp phổ, bao gồm ESI-MS, NMR một chiều và hai chiều, so sánh với tài liệu tham khảo. Các hợp chất này được tìm thấy lần đầu tiên ở loài thuộc chi Dalbergia (Trần Anh Tuấn cùng cộng sự; 2009).
Luận án: Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Sưa | PDF
Giá trị sử dụng của gỗ sưa.
1. Gỗ sưa – “báu vật” của vua chúa
Gỗ sưa cho mùi thơm quyến rũ thoảng nhẹ kiểu hương trầm. Khi đốt tàn có màu trắng đục, mùi khó chịu nên còn được gọi là Trắc thối. Phần gỗ lõi của sưa cho giá trị kinh tế cao hơn phần gỗ giác. Gỗ sưa thớ mịn, vân thớ gỗ đẹp.
Trong các cuốn sách cổ “Bách vật yếu lãm” và “Bản mục thập di” đã viết rõ ràng như sau: gỗ sưa của người Giao Chỉ, gọi là hoàng hoa lê, là loại gỗ tốt nhất. Gỗ đỏ mà tinh tế, sắc đỏ tím, hương dịu nhẹ, vân gỗ trông như mặt quỷ. Thời phong kiến vua chúa dùng gỗ trắc thối để tạo tác ngai vàng, đồ nội thất cao cấp trong cung đình.
Thực tế từ xa xưa người Trung Quốc đã quan tâm đến gỗ sưa của Việt Nam. Những món đồ đóng bằng gỗ sưa ở Việt Nam đã được vua chúa thời Tần, và thời Hán sử dụng. Đến thời Đường, thì loại gỗ này được đặc biệt ưa chuộng và trở nên cực thịnh, làm đủ các loại giường, tủ, bàn ghế. Nên nhớ Đại quan thời kỳ này chỉ dám đóng bàn thờ, tầm cỡ Giáo Đầu Lâm Xung sai khiến 80 vạn cấm binh chỉ dám làm tràng hạt mà thôi. Và vì làm tràng hạt, nên mẩu nhỏ cũng tận dụng. Chỉ vua chúa (Đế và Vương) mới được phép làm tủ giường. Trong một thời gian dài người Trung Quốc đã coi gỗ Sưa là một trong bốn loại gỗ quý, bao gồm Tử Đàn, Hoàng Hoa Lê, Kê Sí và Thiết Lực. Thời đó, ngoài vàng bạc châu báu ra thì các chư hầu phong kiến tại vùng đất Giao Chỉ thường cống nạp cho triều đình gỗ hoàng hoa lê. Ngoài ra, Chiêm Thành, Chân Lạp cũng thường cống nạp cho triều Đường loại gỗ này.

Như vậy, gỗ sưa ở Trung Quốc thường được vua chúa, quan lại ngày xưa rất ưa chuộng. Và chỉ những người có công lao lớn, được phong tước, mới được thưởng thức đồ làm từ loại gỗ này. Do đó, trong tâm thức người Trung Quốc, sản phẩm từ gỗ này sẽ giúp nâng cao vị thế cho chủ nhân.
Ngày nay, kinh tế phát triển, những người giàu Trung Quốc có điều kiện đã ráo riết săn lùng các sản phẩm gỗ sưa đỏ Hải Nam. Tuy nhiên, để có được một cây sưa chất lượng, phải mất hàng trăm năm, mà nguồn gỗ sưa Hải Nam đã cạn kiệt, nên thương lái Trung Quốc chuyển sang tìm kiếm gỗ sưa ở Việt Nam. Đây là nguyên nhân chính tạo nên cơn sốt gỗ sưa ở Việt Nam kéo dài nhiều năm nay, đặc biệt là từ những năm 2000 trở lại đây.
2. Thuốc chữa bách bệnh
Được biết tinh dầu gỗ sưa rất thơm, rất tốt cho sức khỏe, đốt lên có mùi thơm ngan ngát hương trầm vô cùng dễ chịu (đã nhắc ở trên), ngửi một lần chưa đủ cứ muốn được ngửi thêm. Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi thì gỗ cây này còn được sử dụng cùng với dạ dày nhím làm vị chính trong đơn thuốc chữa bệnh đau dạ dày.
⇒ Trong cuốn Trung dược đại từ điển viết rằng: “gỗ sưa có tác dụng cầm máu, giảm đau, chống cao huyết áp, bệnh đường ruột”. Còn trong cuốn Bản thảo cương mục có liệt kê tác dụng của gỗ sưa như sau: ‘nhuận khí, không độc, có thể cầm máu, chữa bệnh tim’.
⇒ Từ Hải (cuốn từ điển lớn nhất Trung Quốc) ghi: “gỗ sưa có tác dụng hoạt huyết, giúp giảm đau”. Hơn nữa một bài báo có tiêu đề “Tại sao cây Hoàng Hoa Lê Hải Nam đắt hơn vàng ?”, đăng trên Hualimu.net vào ngày 23 tháng 6 năm 2011 giải thích rằng gỗ Sưa rất đắt vì người Trung Quốc nghĩ rằng nó có khả năng làm thuốc rất tốt. Họ nói rằng khi gỗ sưa được sử dụng để làm gối, dược chất dường như được tiêm trực tiếp vào cơ thể.
Tuy nhiên, các sách này cũng nói rằng, gỗ sưa chỉ dùng phối hợp với các loại dược liệu khác mới có tác dụng, nhưng lại không thấy sách nào mô tả cách chế biến hoặc chứng minh lợi ích thảo dược của các chất trong gỗ Sưa đã được tìm thấy.
Những người buôn bán gỗ sưa bên Trung Quốc thường đặc biệt nhấn mạnh rằng, gỗ sưa có nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là những bệnh nan y, thậm chí trị được “bệnh âm” khi sử dụng đồ dùng chế tác từ gỗ sưa, nhằm nâng cao tính thần bí và giá trị của nó. Họ cho rằng, gỗ sưa còn quý hơn vàng, bởi vàng có thể mua lúc nào cũng được, còn gỗ sưa thì có tiền chưa chắc đã mua được khiến giá của gỗ sưa được thổi lên cao chót vót.
⇒ Tuy nhiên theo lương y Đỗ Sơn Hà, trong các bài thuốc Đông y mà ông tìm hiểu được, chưa có bài thuốc nào nói chi tiết, cụ thể về công dụng được cho là thần kỳ của gỗ sưa.
⇒ TS. dược học Phan Quốc Kinh – nguyên là Chủ nhiệm bộ môn Hóa dược, trường ĐH Dược Hà Nội cũng chia sẻ với PV rằng, chưa có tài liệu nào minh chứng cho việc gỗ sưa đỏ có thể bài chế chữa được bệnh.
⇒ Và cũng theo bác sĩ Đoàn Văn Thu – Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam khi được phỏng vấn năm 2012 bởi phóng viên của báo Tuổi Trẻ, ông nói rằng tất cả các chuyên gia Việt Nam và Trung Quốc chưa tìm ra được lý do tại sao gỗ Sưa lại đắt như vậy, và cũng chưa phát hiện ra giá trị của các loại thảo mộc trong loại gỗ này.
⇒ Là một trong những chuyên gia đầu ngành nghiên cứu về gỗ sưa, PGS.TS. Lê Xuân Phương – Viện trưởng viện Công nghiệp gỗ Đại học Lâm nghiệp thì lại cho biết, những nghiên cứu mới nhất đã chỉ ra trong gỗ sưa có chứa chất có thể tiết chế thành thuốc.
Cụ thể, theo PGS.TS. Lê Xuân Phương: “Trong phần gỗ lõi gỗ sưa có hoạt chất Daltonkin A, Daltonkin B, là các Mono- và Dicarboxyethyl Flavanones. Ngoài ra còn có Pinocembrin, Naringenin và Neoflavonoid, 3′-Hydroxy-2,4,5-trimethoxydalbergiquinol. Các hợp chất này có tác dụng kháng vi sinh vật (nấm, vi khuẩn) ở mức độ nhất định. Ngoài ra, hoạt tính ức chế Enzyme α – glucosidase giúp ngăn ngừa và điều trị bệnh tiểu đường cũng được tìm thấy trong thành phần hóa học của gỗ lõi gỗ sưa. “
“Kết quả nghiên cứu này đã mở ra những tác dụng nhất định của gỗ sưa trong điều trị y học và cần được tiếp tục nghiên cứu” – ông Phương cho hay.
Như vậy, hiện nay vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau liên quan tới việc gỗ sưa có tác dụng chữa bệnh hay không ?. Nhưng có một thực tế là gỗ sưa ngày càng hiếm, quý và vẫn đang được người Trung Quốc săn lùng tại Việt Nam với giá rất cao.
3. Gỗ Sưa được dùng để ướp xác, trừ tà ?
Hiện nay, có nhiều người đồn đoán rằng gỗ Sưa đỏ là một loại hương liệu được người Trung Quốc cổ đại sử dụng để “ướp xác” các nhà quý tộc và chế tạo bùa chú để trừ tà. Tuy nhiên, lại không có thông tin xác nhận về bất kỳ xác ướp gỗ sưa nào được tìm thấy.
Riêng ở Việt Nam, loại gỗ được sử dụng để đựng xác trong các ngôi mộ cổ được khai quật cho đến nay đã được xác định là của loài Cupressus funebris Endl. (hoàng đan rủ, ngọc am hoặc san mộc) chứ không phải gỗ sưa đỏ.
4. Gỗ sưa đỏ có độ bền tốt nhất
Gỗ sưa rất cứng, và rất dai, chịu mưa nắng rất tốt và rất bền. Đồ đóng bằng gỗ sưa có thể tồn tại qua nhiều trăm năm, thậm chí có những chiếc giường long sàng gỗ sưa cách đây 7 – 8 trăm năm vẫn đang được lưu giữ gần như nguyên vẹn. Cho nên không tránh khỏi việc nhiều người vẫn tin rằng gỗ Sưa đỏ là đỉnh của đỉnh của các loại gỗ quý, vượt qua Lim (gỗ lim), Gu (gỗ gụ), gỗ Táu và gỗ Sến. Mặc dù ngâm trong nước nhiều năm nhưng nó vẫn chưa thấy thấm nước và mục nát.
Nhưng theo nghiên cứu của các nhà khoa học của Việt Nam, gỗ Sưa chỉ được xếp vào nhóm 2, khả năng chịu lực của nó không mạnh bằng nhóm 1, tức Lim (gỗ lim) và Gu (gỗ gụ). Thạc sĩ Đỗ Văn Ban, Trưởng phòng Tài nguyên thực vật, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) trên Vtc.vn ngày 15 tháng 5 năm 2012 cho biết, mặc dù gỗ Sưa đỏ là một trong những loại gỗ đẹp nhưng kém hơn gỗ Trắc. Người ta coi đó là gỗ thơm nhưng lại không được ưa chuộng như gỗ Giáng Hương.
Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây sưa đỏ
1. Tiêu chuẩn cây con
– Cây con đem trồng phải từ 6 – 12 tháng tuổi trở nên.
– Chú ý đường kính cổ rễ phải từ 4 – 5 mm, cao từ 25 – 50 cm là tốt nhất.
– Cây khỏe mạnh, sạch sâu bệnh, …
– Khi mua về chưa thể trồng ngay, cần phải tưới ẩm bầu hàng ngày và để nơi có sáng.

2. Thời vụ trồng cây sưa đỏ
– Khu vực miền Bắc: Trồng khoảng từ tháng 2 – tháng 4.
– Khu vực Bắc Trung Bộ: Từ tháng 9 – tháng 11.
– Khu vực Duyên hải Miền Trung: Từ tháng 11 – tháng 1.
– Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Tiến hành trồng từ tháng 6 – tháng 9.
3. Kỹ thuật làm đất
– Làm đất: Trồng rải rác hay tập trung đều phải có bước đào hố. Theo kinh nghiệm trồng thì kích thước hố tối thiểu là 50 x 50 x 50 cm.
– Bón phân: Bón lót cho mỗi hố từ 1 – 3kg phân chuồng hoai mục, phân chuồng ủ vi sinh là tốt nhất.
4. Mật độ trồng
– Trồng tập trung:
+ Cây cách cây 3 mét và hàng cách hàng 3 mét, 1 ha trồng được ~ 1.100 cây. Hoặc cây cách cây 2 mét, hàng cách hàng 3 mét, 1ha trồng ~ 1.660 cây.
⇒ Khoảng cách trên đây chỉ mang tính tương đối, mật độ có thể tùy theo cách sử dụng đất để bố trí lại cho phù hợp.
– Trồng hàng rào hoặc trồng rải rác, trồng làm cảnh thì cây cách cây 1.5 – 2 mét.
– Có thể trồng xen với các loại cây khác, ví dụ như trồng làm cây che mát cafe, trồng làm trụ tiêu, hoặc trồng cây dược liệu, cây ngắn ngày, …
+ Cây sưa phát triển tốt dưới tán vải, keo, bạch đàn, … nên không cần chặt bỏ cây trồng hiện tại, có thể trồng cây sưa hỗn giao với keo tai tượng, cây dược liệu, …
+ Cây Sưa ít tán nên không cạnh tranh ánh sáng với cây trồng.
5. Kỹ thuật trồng sưa đỏ
⇒ Khi trồng nhẹ nhàng dùng tay xé bỏ bao nilon bầu đất, tránh mạnh tay làm vỡ bầu đất, sau đó đặt xuống hố đã đào sẵn.
⇒ Khi trồng đảm bảo mặt bầu dưới mặt đất 5 – 10 cm.
⇒ Tưới nước ẩm cho hố đất đó để cây có thể bén rễ tốt.
6. Chăm sóc
– Sau khi trồng và tưới ẩm đều trong 30 ngày cho cây bén rễ hồi xanh. Nếu trồng rừng tập trung nên trồng vào đầu mùa mưa sẽ giúp tiết kiệm chi phí nhân công tưới nước. Nếu trồng ít trong vườn nhà hoặc trồng ở nơi có thể chủ động được nước tưới ta có thể trồng quanh năm, không cần theo mùa vụ.
– Tưới nước đều và thật ẩm trong 1 – 2 tháng đầu. Sau đó thì giảm lượng tưới nước, nhưng nếu gặp thời tiết khắc nghiệt, ví dụ như khô hạn cần phải kịp thời bổ xung tránh để cây bị hư hại, giảm sức sống.
– Sau khi trồng 1 tháng, cây phát triển bình thường có thể bón các loại phân hóa học để kích thích sự phát triển của cây. Lưu ý chỉ nên bón 1 lượng rất nhỏ (khoảng 1 thìa cà phê) cách gốc từ 5 cm.
– Trong 3 năm đầu, mỗi năm định kỳ làm cỏ 2 – 3 lần. Bón mỗi cây 0,1 – 0,2 kg NPK 12:5:10. Những năm sau làm cỏ 1 – 2 lần/năm. Bón mỗi cây tăng 0,1 – 0,2 kg NPK/mỗi tuổi.
– Nên tỉa cành vào cuối mùa khô hàng năm để tạo cho thân cây thẳng. Sau khi trồng từ 2 – 3 năm tỉa bỏ cành la, cành võng. Sau trồng 5 – 6 năm tỉa bỏ cành giao nhau.
Địa chỉ bán cây giống sưa đỏ tại Hà Nội uy tín ?
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống sưa đỏ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 30k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Sưa (trắc thối) – Wikipedia tiếng Việt.
- Dalbergia tonkinensis Prain – World Flora Online.
- Đỗ Văn Bản, Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Hào Hiệp (2010). “Cấu tạo gỗ cây sưa Dalbergia tonkinensis Prain”. Phòng Nghiên cứu Tài nguyên Thực vật rừng – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
- Lê Thị Thúy Loan, Nguyễn Thanh Tân (2024). “Thành phần hóa học loài sưa đỏ (Dalbergia tonkinesis) thu hái ở Đắk Lắk [Chemical constituents of Dalbergia tonkinesis collected in Dak Lak]”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ – Đại học Thái Nguyên (TNU Journal of Science and Technology). 229(09): 469 – 473.
- Ngũ Trường Nhân, Nguyễn Mạnh Cường (2020). “Phân lập và xác định cấu trúc isoflavone từ loài Sưa (Dalbergia tonkinesis Prain)“. Hóa học – Công nghệ thực phẩm. Số 2, trang 351 – 356, ISSN: 0866 – 7756.
- Đàm Thị Bích Hạnh, Nguyễn Phú Khanh, Đặng Thị Thuỳ My, Lê Thị Thuý Loan, Nguyễn Thị Vân Dung, Lê Hồng Thuý, Phan Hoàng Thái Bảo (2023). “Phân lập và xác định cấu trúc dalbergin từ cây sưa (Dalbergia tonkinesis Prain) ở Đắk Lắk [Isolation and structural determination of isoflavanones from Dalbergia tonkinesis Prain collected in Dak Lak]”. Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào. 9(4): 103 – 108. ISSN: 2354 – 1431.
- Ninh The Son, Yoshiyasu Fukuyama & Nguyen Manh Cuong (2019).”Chemical constituents of the heartwood of Dalbergia tonkinensis“. Chemistry of Natural Compounds. 55: 854 – 856.
- Trần Anh Tuấn, Nguyễn Tiến Đạt, Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Quang Hưng, Trần Minh Hợp, Trần Huy Thái, Châu Văn Minh, Phan Văn Kiệm (2009). “Các hợp chất isoflavon và dihydrophenanthren từ cây sưa Bắc Bộ (Dalbergia tonkinensis)”. Tạp chí Hóa học. 47(6): 716 – 719.
+ The IUCN Red List of Threatened Species 1998 (1998). “Dalbergia tonkinensis”.
+ Cách nhận biết gỗ sưa – mynghehaiminh.vn
+ Lịch sử hình thành của cây gỗ sưa đỏ – cungcapgo.com
Tìm kiếm liên quan
- Giá cây sưa đỏ 10 tuổi
- Có nên trồng cây sưa đỏ
- Cách nhận biết cây sưa đỏ
- Giá cây sưa đỏ 5 năm tuổi
- Hình ảnh cây sưa đỏ
- Giá trị cây sưa đỏ
- Trồng cây sưa đỏ
- Bán cây sưa đỏ 4 năm tuổi
Sản phẩm liên quan: Cây hoa đại









