Độ hoàn thiện nội dung: 70%.
Cây gạo hay bông gạo, tên tiếng Anh là cotton tree, Malabar silk-cotton tree, red silk-cotton, red cotton tree, ambiguously, silk-cotton, kapok (danh pháp khoa học là Bombax ceiba L.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Cẩm quỳ Malvaceae. Tương tự như các loài cây khác trong chi Bombax, cây còn có tên gọi khác là mộc miên, hoặc hồng miên và người Tây Nguyên gọi là cây Pơ-lang. Trong một số hệ thống phân loại cũ, người ta đưa nó vào họ Gạo Bombacaceae.




Đây là loài cây sống ở vùng nhiệt đới với thân cây cao và thẳng với lá rụng vào mùa đông. Các hoa đỏ với 5 cánh hoa mọc vào mùa xuân (tháng 3 hoặc tháng 4) trước khi cây ra lá non. Quả nhỏ chứa các sợi tương tự như sợi bông. Thân cây mọc gai để ngăn cản sự tấn công của các loài động vật. Mặc dù nhìn bề ngoài thì thân cây có vẻ là tận dụng được cho mục đích khai thác gỗ, nhưng gỗ của cây này lại quá mềm để có thể sử dụng vào những việc như trên.
Mô tả cây hoa gạo
Cây gạo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây to, cao đến 15m hay hơn. Thân sần sùi, có bạnh vè to ở gốc và gai hình nón. Cành hình trụ, mọc ngang, không gai. Lá mọc so le, kép chân vịt, gồm 5 – 7 lá chết, hình mác, gốc thuôn, đầu nhọn, dài 9 – 15cm; rộng 4 – 5cm, hai mặt nhẵn, mép nguyên; cuống chung dài hơn phiến lá.
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành chùm; hoa màu đỏ, nở trước khi cây ra lá; đài dày hình chuông, có 5 răng tù và ngắn, màu nâu xám; tràng 5 cánh nạc rời nhau, mặt ngoài phủ lông nhung; nhị rất nhiều hợp thành 5 bó, ngắn hơn cánh hoa, bầu hình nón, có lông mềm màu trắng nhạt. Quả nang to, hình thoi, dài 8 – 15cm, khi nứt thành 5 mảnh; hạt có nhiều lông trắng dài. Mùa hoa: tháng 3; mùa quả: tháng 5.
Cây hoa gạo trong văn hóa
Cây hoa gạo được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia và nhất là khu vực Đông Nam Á (Myanmar, Nepal, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, miền Nam Trung Quốc và Đài Loan, … trong đó có cả Việt Nam). Tại Trung Quốc, theo ghi chép lịch sử, vua Nam Việt (南越) (nằm ở miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam ngày nay), Triệu Đà, đã tặng một cây cho hoàng đế nhà Hán vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên.
Hoa gạo thường được gọi là Let-pan (tiếng Miến Điện: လက်ပံ), semal (tiếng Hindi: सेमल), shimul (tiếng Bengal: শিমুল) hoặc ximolu (tiếng Assam: শিমলু) ở Ấn Độ. Cây được trồng rộng rãi tại các công viên và ven đường vì có mùa hoa nổi bật vào khoảng tháng 3 đến tháng 4. Hoa gạo cũng khá phổ biến ở New Delhi dù cây không thể đạt được kích thước hoàn chỉnh là 60m vì khí hậu ở đó bán khô hạn. Người ta hoàn toàn có thể thấy các sợi bông của cây này bay trong gió vào khoảng đầu tháng 5. Hoa gạo cũng cho thấy hai đợt tăng trưởng rõ rệt ở Ấn Độ là vào mùa xuân và trong những tháng gió mùa, có lẽ do khí hậu cận nhiệt đới và lượng mưa lớn.
Trong cuốn sách The Useful Native Plants of Australia xuất bản năm 1889 ghi lại rằng vào thời điểm đó cây này được gọi dưới cái tên là Bombax malabaricum DC., người ta gọi nó là “Simool Tree” hoặc “Malabar Silk-cotton Tree of India”.
Các sợi bông của cây cũng được dùng nhồi vào gối hay nệm cũng như làm lớp cách nhiệt lót áo lạnh. Tuy nhiên vì bông cây gạo không dài sợi nên không thể kéo sợi và dệt như bông vải được.
Hoa gạo được dùng trong một số loại trà thuốc Trung Hoa.
Tại Quảng Đông (Trung Quốc), cây này gọi là 木綿 – mộc miên (cây bông thân gỗ), hay 紅綿 – hồng miên (bông đỏ). Nó còn được gọi là 英雄樹 – anh hùng thụ (cây anh hùng) do có thân cao và thẳng.
Hoa của loài cây này là hoa biểu trưng cho Quảng Châu, Cao Hùng (Đài Loan), Nam Định (Việt Nam).




Thông tin thêm
1. Phân bố và sinh thái
Cây gạo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Salmalia Schott & Endl. là một chi nhỏ, gồm một số loài là cây gỗ, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, có 3 loài, trong đó gạo là cây thường chỉ thấy ở các tỉnh phía bắc, từ Quảng Bình trở ra. Trên thế giới, cây gạo phân bố tương đối phổ biến ở các nước Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Lào và Nam Trung Quốc.
Ở Việt Nam, cây gạo thường mọc ở đất trồng ven rừng, đồi, nhất là dọc theo các bờ sông suối. Cây còn được trồng ở đầu làng, ven đường đi hoặc ở đình chùa lấy bóng mát. Ở Ấn Độ, cây sống ở cả những vùng tương đối khắc nghiệt; nhiệt độ tối thấp về mùa đông 2 – 3oC hoặc thấp hơn, về mùa nóng có khi đến 49oC.
Cây mọc được trên nhiều loại đất, kể cả đất khô cằn trơ sỏi đá; khả năng chịu hạn tốt; những cây to có thể tồn tại qua các đợt cháy rừng, do có lớp vỏ dày.
Gạo là loại cây gỗ mọc nhanh, sau 2 năm trồng từ hạt đã có thể cao gần 2m. Cây trồng bằng cành, sau 5 năm có đường kính hơn 20cm. Gạo rụng lá vào mùa đông; ra hoa quả đầu mùa xuân, khi chưa có lá. Quả gạo chứa nhiều hạt, cứ 100kg quả khô, thu được khoảng 2kg hạt; 1kg hạt có từ 25300 đến 38500 hạt (The Wealth of India; 1972; Vol. IX; 175 – 183). Hạt có lông mềm (bông gạo), phát tán khắp nơi nhờ gió. Ở Ấn Độ, gạo là cây trồng rừng quan trọng. Để cho cây mọc thẳng, người ta thường tạo cây giống từ hạt. Tỷ lệ nảy mầm trên 60%. Gỗ nhẹ, màu trắng dùng để đóng thùng đựng hàng hóa …
2. Thành phần hóa học
Cây gạo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Rễ chứa cephalin phosphatid và chất nhầy. Phần trắng của rễ chứa chất vô cơ 2,1%; protein 1,2%; chất béo 0,9%; tinh bột 71,2%; chất pectic 6 %; cephalin 0,3%.
Nụ hoa và đài (tính theo dược liệu tươi) chứa theo thứ tự protein thô 1,38 và 1,56mg%; carbohydrate 11,95 và 13,87mg%; chất vô cơ 1,09 và 1mg%; Ca 92,25 và 95mg%; P 49 và 41mg%; Mg 54 và 24,64mg%.
Vỏ thân cây gạo chứa tanin 3,01%.
Gôm: Khi thủy phân hoàn toàn, gôm cho L-arabinose, D-galactose, acid D-galacturonic và có thể cả rhamnose (vết).
Dầu gồm acid myristic 1,2%; acid palmitic 23,6%; acid arachidic 2,84%; acid oleic 64,9% và acid linoleic 7,5%.
Hạt đã loại chất béo, được phân đoạn trên sắc ký cột Sephadex G-100; dung môi là pyndine acetate, cho 4 phân đoạn: Phân đoạn I 48%, phân đoạn II 30%, phân đoạn III 14% và phân đoạn IV 8%. Phân đoạn I sau khi đem thủy phân acid được chứng minh có D-galactose, L-arabinose.
Công dụng của hoa gạo
Vỏ thân cây gạo có vị cay, tính bình, có tác dụng khư phong trừ thấp, hoạt huyết, tiêu thũng. Theo tài liệu Ấn Độ, nước sắc vỏ thân có tác dụng làm dịu viêm, cầm máu.
Rễ gạo có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, thu liễm, chỉ huyết, tán kết, chỉ thống. Ở Indonesia, nước ép từ rễ có tác dụng hạ sốt.
Hoa gạo (mộc miên hoa) có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, tiêu viêm, thu liễm.
Gôm nhựa từ thân cây gạo có tác dụng kích thích sinh dục theo tài liệu nước ngoài.
Nhiều bộ phận của cây gạo được dùng làm thuốc theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian:
– Vỏ gạo được dùng tươi chữa gãy xương theo bài thuốc sau: Vỏ gạo 30g, củ nghệ 20g, củ dứa dại 10g, lá xoan non 10g, dây tơ hồng 20g, ngải cứu 8g. Tất cả giã nát trộn với lòng trắng trứng gà, đắp bó tại chỗ (Nam dược thần hiệu).
Vỏ gạo giã nát cùng với bã chè tươi, lá cây lai, lá cây chẹo xào nóng, đắp chữa sai khớp. Đồng bào Thượng ở Tây Nguyên dùng vỏ gạo và vỏ cây đa quả to, phơi khô, thái nhỏ, sắc uống chữa bệnh đậu mùa. Nước sắc đặc của vỏ gạo được ngậm chữa đau răng.
– Rễ gạo, ở Trung Quốc, được dùng chữa viêm loét dạ dày mãn tính, kiết lỵ, lao hạch. Để chữa ly, lấy rễ gạo phối hợp với kim ngân hoa, phượng vĩ thảo mỗi vị 15g, sắc nước uống. Chữa viêm loét dạ dày mạn tính bằng rễ gạo hoặc vỏ gạo 30g, phối hợp với rễ cây xuyên tiêu, sắc nước uống.
– Hoa gạo chữa kiết lỵ, tiêu chảy, viêm ruột, với liều 20 – 30g, phơi khô, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, chia làm 2 lần uống trong ngày. Khoa Tiêu hóa và Huyết học, Viện Quân y 108 đã dùng nước sắc và cao lỏng 2:1 của hoa gạo phơi khô cho uống mỗi ngày 100ml để chữa cho bệnh nhân thiếu máu nhược sắc do rong kinh, đa kinh, chảy máu dạ dày, tá tràng, mất máu sau khi mổ, đạt kết quả tốt 90%. Mỗi đợt điều trị là 30 ngày Thuốc không gây tác dụng phụ, người bệnh ăn ngủ tốt, tăng cân. Hoa gạo mới hái rửa sạch, để ráo nước, giã thật nhuyễn ép lấy nước trộn với dầu gấc (lượng tương đương), đánh đều, bôi chữa bỏng.
– Nhựa gôm chích từ thân cây gạo chữa kiết lỵ, ho ra máu, rong kinh với liều 1 – 3g/ngày. Ở Ấn Độ, gôm gạo là thuốc kích thích sinh dục. Nhân dân Campuchia dùng gôm này hòa nước uống để cầm máu và chữa lậu. Ngoài ra, hạt cây gạo cho dầu có thể dùng để ăn hoặc dùng thay dầu hạt bông trong kỹ nghệ sản xuất xà phòng.
Thành ngữ dân gian
Trong tiếng Việt có thành ngữ liên quan đến cây gạo: “Thần cây đa, ma cây gạo, cáo cây đề” hay “Cây gạo có ma, cây đa có thần” nhắc đến phép siêu nhiên gắn bó với ba loại cây này trong tâm thức văn hóa Việt.
Địa chỉ bán cây hoa gạo tại Hà Nội uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống hoa gạo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Cây gạo – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Bombax ceiba – Wikipedia tiếng Anh.
Tìm kiếm liên quan
- Hoa gạo trắng
- Hình ảnh hoa gạo
- Cây hoa gạo đỏ
- Thơ hoa gạo
- Ý nghĩa của hoa gạo
- Cây hoa gạo bonsai
- Bài thơ hoa gạo lớp 1
- Thuyết minh về cây hoa gạo








