Bộ sưu tập









Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Cây dừa cạn hay cây hải đằng, dương giác, bông dừa, trường xuân hoa, hoa tứ quý, tên tiếng Anh là bright eyes, Cape periwinkle, graveyard plant, Madagascar periwinkle, old maid, pink periwinkle, rose periwinkle (danh pháp khoa học là Catharanthus roseus (L.) G.Don; đồng nghĩa: Vinca rosea L., Ammocallis rosea (L.) Small, Lochnera rosea (L.) Rchb. ex K.Schum.) là một loài thực vật trong chi Catharanthus thuộc họ La bố ma Apocynaceae. Dừa cạn là cây bản địa và đặc hữu của vùng Madagascar. Ở nước ta, cây được trồng nhiều chủ yếu để làm cảnh. Tuy nhiên vẫn có ngoại lệ như trong dân gian bộ phận dùng làm thuốc chữa bệnh là lá và phần ngọn của cây, phơi khô sắc uống hoặc chế biến thành dạng trà hoặc giã đắp.
Đây là nguồn cung cấp các loại thuốc như vincristine và vinblastine, được sử dụng để điều trị ung thư (Maryam Moudi et al.; 2013). Trước đây, nó được đưa vào chi Vinca với tên gọi là Vinca rosea.
Mô tả cây dừa cạn
Cây dừa cạn (trường xuân, hoa hải đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Cây nhỏ cao 0,4 – 0,8m, có bộ rễ rất phát triển, thân gỗ ở phía gốc, mềm ở phần trên. Mọc thành bụi dày, có cành đứng. Lá mọc đối, thuôn dài, đầu lá hơi nhọn, phía cuống hẹp nhọn, dài 3 – 8cm, rộng 1 – 2,5cm. Hoa mọc trắng hoặc hồng, mùi thơm, mọc riêng lẻ ở các kẽ lá phía trên, quả gồm 2 đại, dài 2 – 4cm, rộng 2 – 3mm, mọc thẳng đứng, hơi ngả sang hai bên, trên vỏ có vạch dọc, đầu quả hơi tù, trong quả chứa 12 – 20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng, trên mặt hạt có các hạt nổi, thành đường chạy dọc. Mùa hoa quả gần như quanh năm.
Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây thảo, sống lâu năm, cao 40 – 60cm, phân nhiều cành. Thân mọc thẳng, hình trụ, nhẵn, lúc non màu xanh lục nhạt, sau chuyển màu đỏ hồng. Lá mọc đối, hình bầu dục, gốc thuôn, đầu tù hoặc hơi nhọn, dài 4 – 6cm, rộng 2 – 3cm, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt. Hoa màu hồng hoặc trắng (hiếm hơn), mọc riêng lẻ ở kẽ lá gần ngọn; đài 5 thuỳ, hình ống ngắn; tràng có 5 cánh hợp, ống tràng hẹp phình ra ở dưới các cánh hoa; nhị 5 dính vào họng của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn, bầu gồm hai lá noãn dính nhau ở vòi. Quả gồm 2 đại dài 2,5 – 3cm, mọc thẳng hơi choãi ra; hạt nhỏ, hình trứng, màu nâu nhạt hoặc nâu đen. Mùa hoa quả: tháng 4 – 5 và tháng 9 – 10.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây dừa cạn (trường xuân, hoa hải đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Mọc hoang dại và được trồng ở nhiều nước nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, châu Phi, châu Úc, Brasil … Tại châu Âu và châu Mỹ ở những vùng nóng cũng trồng quanh năm, nhưng ở những vùng lạnh cây được trồng hàng năm vì không chịu được lạnh.
Ở Việt Nam gặp nhiều nhất tại các tỉnh gần biển, nhưng khắp nơi đều trồng được, trước đây chỉ được trồng làm cảnh, gần đây đã được trồng để thu hoạch lấy cây, lá và rễ chế thuốc.
Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Catharanthus G.Don có nguồn gốc ở Madagasca với 8 loài, trừ loài C. pusillus G.Don có thể tìm thấy rải rác ở Ấn Độ và Sri Lanka. Từ Madagascar, loài dừa cạn được di nhập sang nhiều nước nhiệt đới Nam Á cũng như Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và đảo Hải Nam Trung Quốc. Vào khoảng giữa thế kỷ 18, dừa cạn được trồng ở Paris, sau đó có mặt ở nhiều vườn thực vật khác ở châu Âu. Ở Việt Nam, dừa cạn mọc tự nhiên khá nhiều ở vùng bãi cát ven biển từ Hải Phòng đến Kiên Giang. Nơi tập trung nhiều nhất thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà. Ngoài ra, còn có ở Côn Đảo và Phú Quốc. Môi trường ven biển cũng là nơi mọc tập trung của dừa cạn ở Madagascar, Sri Lanka, Ấn Độ, Philippines, Malaysia, Thái Lan. Ở nguyên quán, cây còn mọc cả ở những vùng đồi, savan cây bụi trên đất pha cát hoặc sỏi đá, độ cao tới 1500m. Dừa cạn là loại cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu được hạn. Trong điều kiện trồng trọt (ở Hà Nội – vườn hoa, nông trường Đồng Giao – Ninh Bình, (1972) và ở Tuy Hoà hiện nay), cây sinh trưởng phát triển mạnh, khối lượng chất xanh thu được có thể cao gấp đôi cây mọc tự nhiên. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm. Cây mọc từ hạt trong tự nhiên vào khoảng 40%. Nếu được xử lý, có thể tăng lên 90% (H. Sutarno & Rudjiman, 1999; PROSEA, 12(1) – Medicinal and Poisonuos Plant; 190). Cây trồng từ hạt ra hoa quả sau 4 – 5 tháng. Trong thời kỳ sinh trưởng mạnh, nếu bị cắt, cây tái sinh cây chồi khoẻ.
Nguồn dừa cạn mọc tự nhiên ở Việt Nam tương đối dồi dào. Trước năm 1975, miền Bắc đã từng xuất khẩu sang Đông Âu 1 – 3 tấn/năm. Những năm gần đây, lượng xuất khẩu sang Pháp (khoảng trên 10 tấn/năm) thường xuyên hơn, nhưng chủ yếu là từ cây trồng tại tỉnh Phú Yên.
2. Cách trồng
Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dừa cạn được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh và làm thuốc. Vào những năm 70, Viện Dược liệu đã tiến hành nghiên cứu kỹ thuật trồng dừa cạn trên quy mô sản xuất.
Cây được nhân giống bằng hạt. Mỗi hecta cần gieo 500- 700g hạt trong vườn ươm. Thời vụ gieo hạt vào tháng 9 – 10 hoặc tháng 1 – 2. Gieo vào tháng 11 – 12, hạt nảy mầm chậm vì rét; gieo vào tháng 3 – 4, thời gian thích hợp cho cây sinh trưởng bị rút ngắn. Cần ngâm hạt 3 – 4 giờ, vớt ra để ráo rồi gieo lên luống vườn ươm đã được chuẩn bị kỹ. Sau đó phủ rơm, rạ rồi tưới nước. Sau khoảng một tuần, hạt mọc, cần dỡ bỏ rơm rạ. Khi cây có 3 – 4 đôi lá thật (khoảng 40 – 45 ngày sau khi gieo) đánh đi trồng. Có thể gieo thẳng nhưng cách này tốn công chăm sóc hơn.
Dừa cạn ưa đất cát pha, đất phù sa, hơi chịu hạn nhưng kém chịu úng. Đất cần làm kỹ, lên luống cao 20cm, mặt luống rộng 50 – 60cm. Dùng 10 – 15 tấn phân chuồng hoai mục và 120 – 150kg supe lân để bón lót. Trồng với khoảng cách 30 x 30cm. Sau khi trồng, cần tưới ngay để cây nhanh bén rễ. Tưới thúc cho mỗi hecta 100 – 120kg urê, tưới 2 lần, cách nhau 1 tháng. Mặc dù cây chịu được hạn nhưng cũng phải giữ đủ ẩm thường xuyên. Chú ý tháo nước nhanh khi gặp mưa lớn. Khi mới trồng, cây thường bị sâu xám phá hoại. Cây trong vườn ươm có thể bị Phytophthora làm cho chết hàng loạt. Cần tỉa bớt cho đất thoáng và phun phòng bằng Bordeaux.
Sau trồng 3 – 4 tháng, cây cho thu hoạch. Cành mang lá dài 10 – 15cm được cắt về phơi hay sấy khô. Ở đất thoát nước và chăm bón tốt có thể thu hoạch nhiều lứa. Trung bình, 1 ha thu được 1 – 1,2 tấn lá khô mỗi lứa. Còn thu rễ để chiết ajmalicine.
Lá dừa cạn được phơi nắng nhẹ hoặc sấy ở 30 – 50o đến khô. Lá chiếm 20 – 25% so với toàn cây. Lá phải chứa ít nhất 0,7% alkaloid toàn phần. Rễ chiếm 14,5% so với toàn cây.
3. Thành phần hoá học
Cây dừa cạn (trường xuân, hoa hải đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Từ dừa cạn, người ta đã chiết được các chất sau đây: Axit pyrocatechic, sắc tố flavonic (glucoside của quercetol và campferol) và anthocyanic từ thân và lá dừa cạn hoa đỏ (theo Forsyth và Simmonds, 1957). Ngoài ra từ lá người ta còn chiết được axit ursolic và từ rễ chiết được choline. Năm 1969, Battersby và cộng sự còn chiết được chất vincoside, một glucoalkaloid tiền thân để sinh tổng hợp các alkaloid.
Hiện nay, người ta đã xác định hoạt chất của dừa cạn là những alkaloid có nhân indol có trong tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất trong rễ và lá.
Tùy theo nơi thu hái, hàm lượng các alkaloid này thay đổi từ 0,20 đến 1%. Và có thể có những giống có hàm lượng cao hơn.
Việc xác định sự có mặt của các alkaloid trong cây được bắt đầu vào cuối thế kỷ 19, nhưng phải đợi đến sau 1950 mới được nghiên cứu kỹ hơn và có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu là tách được các alkaloid có tinh thể. Năm 1953 Paris và Moyse chiết được vincein, sau này được Chatterjee, 1955, đặt tên là vincaine. Nhưng vincein hay vincaine cũng chỉ là chất ajmalicine, δ-yohimbine đã được phát hiện trong ba gạc.
Giai đoạn hai đánh dấu bằng tách được các alkaloid dimer có tác dụng phân bào (mitoclasique): Một số nhà khoa học Canada gồm Noble, Beer và Cutts trong khi nghiên cứu tìm cách chiết riêng những phần của cây dừa cạn có tác dụng đối với bệnh đái đường (vì cây dừa cạn được y học cổ truyền nhiều nước dùng chữa đái đường) tình cờ tách ra được một alkaloid có tinh thể gọi là vinblastine hay vincaleucoblastincó tác dụng làm giảm bạch cầu trong máu chuột thí nghiệm (1958). Tin này đưa ra đã được các nhà khoa học Canada và Mỹ đi sâu nghiên cứu thêm. Tính đến năm 1964, Svoboda (Laboratoires Lilly) và cộng sự đã tách ra hơn 55 chất khác nhau chia làm hai nhóm:
– Nhóm alkaloid monomer có nhân indol hay indolinic (dihydroindol như ajmalicine, chủ yếu trong rễ, serpentin, alstonine, akuammine, lochnerine, catharanthine, reserpine và vindoline (chất này chủ yếu chỉ thấy trong lá).
– Nhóm alkaloid dimer, không đối xứng gần như đặc thù của loài dừa cạn Catharanthus roseus.
Tiêu biểu là vincaleukoblastine còn gọi là vinblastine thường được viết tắt là V. L. B. cấu trúc hóa học được Neuss làm sáng tỏ năm 1962. Công thức thô C46H58N4O9 với 2 nhóm COOCH3, 1 nhóm OCH3, 2 nhóm OH được cấu tạo bởi một phân tử catharanthine (nhân indol) và một phân tử vindolin (nhân indolinin).
Cùng thuộc nhóm này còn có các alkaloid sau đây:
- Leurosine (còn gọi là vinleurosine) đồng phân của vincaleucoblastin.
- Leurocristine (còn gọi là vincristine) phát hiện năm 1961 rất gần với V. L. B. với một nhóm N-formyl thay cho N-metyl.
- Leurosidin.
Những alkaloid thuộc nhóm này đóng vai trò quan trọng nhất vì có tác dụng chống u (antitumorale).
Nhưng hàm lượng những alkaloid ấy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng lượng ancaloit toàn phần chứa trong dừa cạn (dưới 1/10.000), vả lại việc tách riêng từng ancaloit có tác dụng cũng rất công phu và tốn kém (theo Claus, 1965, phải từ 500kg dừa cạn khô mới chiết được 1g leurocristine). Những loại alkaloid chống u này có nhiều trong lá hơn trong rễ, hạt không chứa alkaloid, hàm lượng còn thay đổi tùy theo giống và điều kiện trồng hái.
Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dừa cạn chứa khoảng 70 alkaloid. G. H. Svoboda và cộng sự (1991) đã phân loại thành nhiều nhóm hoá học:
Alkaloid dưới dạng monomer:
– Alkaloid thuộc nhân indol: Alstonine (vỏ rễ), amorosine (rễ), catharanthine (lá, rễ), cathidine (rễ), cavincidine (rễ), cavincine (lá, rễ), dihydrositsirikıne (lá, rễ), isositsirikine (lá, rễ), sitsirikıne (lá, rễ), vinaspine (lá).
– Alkaloid thuộc nhóm 2-acyl indol: Perividine (lá), perivine (lá, rễ), perosine (lá, rễ), reserpine, ajmalicine (rễ), tetrahydroalstonine, serpentine (rễ), akuamine.
– Alkaloid thuộc nhóm oxindol: Mitraphylline (lá, rễ).
– Alkaloid thuộc nhóm α-methylene indoline: Akuammicine (rễ), lochnericine (lá), lochneridine (lá), lochnerinıne (lá), lochnerivine (rễ), lochrovicine (lá, lochrovidine (lá), lochrovine (lá).
– Alkaloid thuộc nhóm dihydroindol: Catharosine (lá), deacetylvindoline (lá), maandrosine (rễ), vincolidine (lá), vincoline (lá), vindoline (lá), vindolinine (lá), vindorosine (lá).
– Các alkaloid khác: Amocaline (rễ), pericalline (rễ), perimivine (lá), virosine (rễ).
Alkaloid dưới dạng dimer:
Có 2 nhóm nhỏ là dimer indol – indolin và dimer khác.
– Alkaloid thuộc nhóm nhỏ dimer indol – indolin: Carosine (lá), catharicine (lá), catharine (lá), desacetyl-vincaleukoblastine (lá), isoleurosine (lá), leurocristine (lá, rễ), leurosidine (lá, rễ), leurosine (lá, rễ), leurosivine (rễ), neoleurocristine (lá), neoleurosidine (lá), pleurosine (lá), rovidine (lá), vinaphamine (lá), vincaleukoblastine (lá, rễ), vincathicine (lá).
– Alkaloid thuộc nhóm nhỏ dimer khác: Carosidine (lá, rễ), vincamicine (lá), vindolidine (lá), vincarodıne (lá), vindolicine (lá), vinosidine (rễ), vinsedicine (hạt), vinsedine (hạt).
Các alkaloid chính là vinblastine, vincristine và ajmalicine.
Vinblastine (vincaleukoblastine) là tinh thể hình kim (kết tinh từ methanol) điểm nóng chảy 211 – 216o. |α|D26 + 42o (chloroform), UV max. (ethanol) 214, 259nm (logε 4,73, 4,21). Không tan trong nước, ether dầu hoả, tan trong alcol acetone, ethyl acetate, chloroform.
Vincristine (leurocristine): Tinh thể hình phiến, điểm chảy: 218 – 220o, |α|D25 + 17o, |α|D25 6,2o (ethylene chloride), UV max (ethanol): 220, 255, 296nm (logε 4,65, 4,21, 4,18).
Ajmalicine (tetrahydroserpentine, raubasine): Tinh thể, điểm phân huỷ 257o. |α|D20 – 60o (C: 0,5 trong chloroform), |α|D20 – 45o (C: 0,5 trong pyridine), |α|D20 – 39o (C: 0,25 trong methanol), UV max (methanol) 227, 292nm (logε 4,61, 3,79).
Alkaloid toàn phần có ở lá dừa cạn với hàm lượng 0,37 – 1,15%, thân 0,46%, rễ chính 0,7 – 2,4%, rễ phụ 0,9 – 3,7%, hoa 0,14 – 0,84%, vỏ quả 1,14%, hạt 0,18%.
Vinblastine có ở lá với hàm lượng 0,013 – 0,063%, ở bộ phận trên mặt đất 0,0015%, ở rễ 0,23%. Nếu cây bị bệnh aster yellows virus, thì không có Vinblastine. Vincristine có với hàm lượng thấp hơn: 0,0003 – 0,0015%.
Lá cây dừa cạn thu thập ở nhiều địa phương khác nhau chứa 0,7 – 1,2% alkaloid toàn phần, cao nhất ở Phú Yên (1,21 – 1,62%). Vinblastine có với hàm lượng 1,6 – 2 phần vạn ở lá. Thời gian thu hái nguyên liệu tốt nhất để cây có hàm lượng hoạt chất cao là vào cuối tháng 8 đến giữa tháng 9 dương lịch. Theo Lê Thị Tuyết Anh và cộng sự, hàm lượng alkaloid toàn phần ở lá cây dừa cạn thu thập hoang dại ở Phú Yên đạt cao nhất là 0,892 – 0,982% ở lá và 1,38 – 1,445% ở rễ vào mùa khô.
Ngoài 2 alkaloid chính là vinblastine và vincristine được chiết xuất, nhiều tác giả đã bán tổng hợp được vinblastine từ catharanthine và vindoline có ở dừa cạn và vincristine (có với hàm lượng thấp) từ vinblastine (có với hàm lượng cao hơn).
Mai Ngọc Tâm và cs. 1997 đã chứng minh rễ dừa cạn ở vùng Nha Trang chứa ajmalicine 0,18%, serpentine 0,27%, tetrahydroalstonine, tabersonine, lochnericine, catharanthine và akuamine. Nhiều tác giả khác (Phạm Thanh Kỳ và cs. 1995, Trần Văn Thanh và cs. 1996 và 1999) đã chiết xuất ajmalicine từ rễ dừa cạn.
Trần Văn Thanh và cs. 1996 và 1999 đã chiết xuất alkaloid toàn phần từ rễ, làm giàu ajmalicine bằng phương pháp hydro hoá serpentine, sau đó mới chiết xuất ajmalicine, tạo hiệu suất chiết xuất cao hơn gấp hai lần.
4. Tác dụng dược lý
Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cao lỏng dừa cạn có tác dụng hạ huyết áp, an thần gây ngủ và có độc tính nhẹ. Khi cho chuột cống trắng cái đã thụ tinh uống cao dừa cạn, thấy liều cao không gây tai biến cho chuột mẹ, nhưng có dấu hiệu ngăn cản sự phát triển của thai. Khi cho chuột uống liều trung bình vào ngày 6 – 13 của thời kỳ thai nghén thì 50% chuột đẻ bình thường, 15% chuột có tử cung không bình thường, 35% còn lại không có dấu hiệu thụ thai.
Cao dừa cạn dùng điều trị bệnh cao huyết áp trên lâm sàng có tác dụng giảm huyết áp trên bệnh nhân rõ rệt, giảm cả về trị số tối đa và tối thiểu. Việc điều trị đơn giản, dễ áp dụng, không thấy biến chứng ngộ độc.
Trong nghiên cứu ảnh hưởng của vinblastine chiết từ dừa cạn ở Việt Nam lên bộ nhiễm sắc thể của tế bào tuỷ xương chuột nhắt thấy có tác dụng gây sai lạc nhiễm sắc thể về số lượng, chủ yếu gây nên những tế bào đa bội thể (tứ bội), gây sai lạc về cấu trúc nhiễm sắc thể, đi đến tiêu nhiễm sắc thể và gây ức chế sự gián phân của tế bào.
Người ta đã nghiên cứu và phát hiện tác dụng giảm bạch cầu và chống ung thư của alkaloid dừa cạn, và thông báo các kết quả nghiên cứu hai alkaloid vinblastine và vincristine của cây về các mặt: Độc tính trên chuột nhắt và chuột cống trắng, tác dụng chống ung thư trên các mô hình thực nghiệm, đặc biệt tác dụng chống bệnh bạch cầu, những kết quả ứng dụng điều trị ung thư trên lâm sàng, cơ chế tác dụng và sự chuyển hoá của hai alkaloid này. Vinblastine và vincristine có tác dụng chống ung thư do cơ chế kết hợp với protein tubulin và ngăn cản sự kết tập của những vi cấu trúc hình ống có ở trong chất cơ bản của bào tương của nhiều tế bào di động, tăng lên về số lượng trong thời kỳ gián phân của tế bào và được tìm thấy trong thời kỳ gián phân. Tác dụng này phá vỡ những quá trình tế bào khác nhau và làm ngừng sự gián phân ở pha giữa. Vinblastine có tác dụng chống ung thư còn do tác động đối với chuyển hoá của glutamate và aspartate, và vincristine còn do ngăn cản sự tổng hợp RNA và các protein. Vinblastine có tác dụng ức chế miễn dịch, nhưng không được sử dụng với mục đích này. Phổ kháng ung thư và độc tính khác nhau nhiều giữa vinblastine và vincristine. Trong số 8 loài cây trong đó có dừa cạn của Ai Cập được nghiên cứu sàng lọc để tìm hoạt tính chống ung thư, thì cao chiết dừa cạn có hoạt tính chống ung thư mạnh nhất đối với các tế bào ung thư biểu mô cổ trướng Ehrlich. Cao dừa cạn còn có tác dụng làm tăng nồng độ các phosphat acid và kiềm trong tinh hoàn và tuyến tiền liệt của chuột cống trắng. Điều này chứng tỏ cao dừa cạn đã làm biến đổi chức năng chuyển hoá và hoạt tính của men phosphatase ở các cơ quan này của chuột. Vinblastine có tác dụng ức chế hoạt tính của các men disaccharidose, không phụ thuộc vào cách cho thuốc. Độc tính về thần kinh trên mèo của hai alkaloid dừa cạn là vindesine và vincristine đã được nghiên cứu so sánh và thấy độc tính về thần kinh của vindesine thấp hơn so với vincristine.
Những cao chiết của lá, hoa và rễ dừa cạn có tác dụng ức chế mạnh hoạt tính men protease của cả hai chủng T5 và T12 của nấm da Trichophyton rubrum. Tác dụng ức chế hoàn toàn có ý nghĩa ở những nồng độ cao. Ở những nồng độ thấp, hoặc không ức chế, hoặc tác dụng kích thích trên protease, cao chiết từ lá dừa cạn có tác dụng mạnh nhất, tiếp theo là cao chiết từ hoa và từ rễ.
Cơ chế y sinh học của tác dụng kháng nấm của cao dừa cạn trong đó có sự chuyển hoá hô hấp của nấm bao gồm sự tiêu thụ oxy, các con đường chuyển hoá, hoạt tính các men dehydrogenase toàn phần và cytochrome oxidase được khảo sát. Cao chiết từ lá có tác dụng ức chế hô hấp của hệ sợi nấm của cả hai chủng T. rubrum. Tác dụng kháng hô hấp này được tăng lên cùng với sự tăng nồng độ cao lá. Cao lá được chứng minh là có tác dụng ức chế hoạt tính của men dehydrogenase của cả hai chủng T. rubrum, không thấy có tác dụng ức chế hoạt tính men cytochrome oxidase. Vincristine và vindesine ít thấy biểu hiện một tác dụng trực tiếp nào trên sự tổng hợp ADN qua giai đoạn S.
Tính đặc hiệu của tác dụng điều trị của các alkaloid dừa cạn đã được nghiên cứu trên những mô hình thí nghiệm cho phép quan sát chi tiết về sự khác nhau đối với những mô ung thư và không ung thư về các mặt: gắn, tích trữ và chuyển hoá của các alkaloid dừa cạn. Ở mô ung thư, vincristine gắn một cách chặt chẽ, trong khi vinblastine không gắn. Ở mô không ung thư, sự tích trữ của cả hai chất đều ít. Cơ chế tích trữ khác nhau giữa các alkaloid dừa cạn và giữa các mô ung thư và không ung thư đã được nghiên cứu. Những kết quả đưa đến giả thuyết rằng guanosine-5′-triphosphate (GTP) có liên quan đến sự tạo thành và tính bền vững của những phức hợp vinca-tubulin ở bào tương các tế bào. Tubulin là phân-đơn vị (subunit) protein của siêu cấu trúc hình ống là mục tiêu cho những chất chống gián phân như: colchicine, các alkaloid dừa cạn (vincristine và vinblastine). Dược động học lâm sàng của alkaloid dừa can vindesine và navelbine đã được nghiên cứu. Navelbine là một alkaloid bán tổng hợp mới, hiện đang trong giai đoạn thử lâm sàng. Việc điều trị kéo dài với vindesine và navelbine cho thấy có mối quan hệ phụ thuộc vào thời gian và liều lượng, và dược động học của cả hai alkaloid đã có sự thay đổi quan trọng, giữa các cá nhân bệnh nhân. Sự thải trừ do thận của vindesine và navelbine tương đối thấp (từ 5 – 12% tổng liều), điều này gợi ý vai trò quan trọng của gan đối với sự thải trừ nhanh chóng hai alkaloid này.
Cây dừa cạn trong phong thuỷ
Cây hoa dừa cạn có tốc độ sinh trưởng nhanh, nở hoa quanh năm, là gợi ý tuyệt vời nhất cho những ai đang muốn tìm một thứ cây cảnh văn phòng, cây nội thất, cây cảnh sân vườn. Trong phong thủy, cây hoa dừa cạn chính là nguồn thu hút vạn sự may mắn. Giúp mang lại những điều tốt đẹp dành cho gia chủ. Các hộ gia đình chung cư, nhà phố thường dùng chậu treo cây hoa dừa cạn làm đẹp cho không gian. Mục đích là giúp trừ tà, xua đi vận hạn để bạn phát tài phát lộc, cuộc sống thịnh vượng.
Công dụng chữa bệnh của dừa cạn
Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Dừa cạn có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng hoạt huyết, tiêu thũng, hạ huyết áp, giải độc.
Dừa cạn được dùng để thông tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít, kinh bế, huyết áp cao. Có nơi dùng làm thuốc đắng, chát, ra mồ hôi. Chữa tiêu hoá kém và lỵ (cấp và mạn tính). Có thể dùng toàn cây hoặc rễ, rễ được dùng nhiều hơn. Ngày dùng 8 – 20g, dạng thuốc sắc, cao lỏng hoặc viên nén từ cao khô. Vinblastine từ lá dừa cạn ở Việt Nam đã được chiết xuất dùng chữa bệnh bạch cầu.
Công dụng của một số alkaloid chính chiết xuất từ cây dừa cạn như sau:
Vinblastine sulfate: Là thành phần của một phối hợp ba thuốc, là thuốc lựa chọn thứ nhất để điều trị ung thư biểu mô tinh hoàn. Nó là một thành phần của những phối hợp thuốc là những thuốc lựa chọn thứ hai để điều trị bệnh Hodgkin, ung thư rau, ung thư biểu mô tế bào có vảy ở đầu và cổ, ung thư biểu mô tế bào thận. Nó là một trong những thuốc lựa chọn thứ ba để điều trị u nguyên bào thần kinh, ung thư vú, ung thư cổ và ung thư dạng nấm da. Nó cũng được dùng chữa bệnh sacôm limphô, sacôm bạch huyết bào, bệnh đa sacôm chảy máu Kaposi, bệnh sacôm tế bào lưới. Không có sự kháng chéo giữa vinblastine và các loại thuốc chống ung thư khác.
Các tác dụng như buồn nôn, nôn, nhức đầu và dị cảm xảy ra sau khoảng 4 – 6 giờ và kéo dài trong 2 – 10 giờ. Các hiện tượng tiêu chảy, táo bón, tắc ruột, liệt, chán ăn, viêm miệng cũng có thể xảy ra và thường báo trước những tác dụng độc về thần kinh như nhức đầu nặng, khó chịu, trầm cảm, dị cảm và mất những phản xạ gân sâu. Độc tính thần kinh xảy ra trong 5 – 20% trường hợp, tuỳ thuộc vào liều. Tổn thương hệ thần kinh trung ương đôi khi có tính lâu dài, khi dùng liều quá cao. Đã xảy ra mù và tử vong. Chứng rụng tóc có tính hồi phục đã xảy ra cho khoảng 30 – 60% người dùng. Sự ức chế nhẹ tuỷ xương với giảm bạch cầu xảy ra ở tỷ lệ cao bệnh nhân, và cần ngừng dùng thuốc. Những tiểu cầu ít bị ảnh hưởng, ít bị xảy ra thiếu máu. Cần đếm số lượng huyết cầu hàng tuần.
Thuốc có tác dụng độc hại tại chỗ. Cần tránh sự tràn thuốc ra ngoài, vì có thể gây viêm tĩnh mạch ở nơi tiêm. Có thể xảy ra sự tiết bất thường chất nội tiết tố kháng bài niệu. Thuốc có tác dụng gây quái thai trên động vật, do đó, không được dùng ở 3 tháng thứ nhất vào thời kỳ thai nghén.
Liều dùng: Người lớn tiêm tĩnh mạch. Ngày đầu tiêm 0,1mg/kg. 7 ngày sau và mỗi tuần sau đó, liều thuốc được tăng mỗi lần 0,05mg/kg, cho tới khi số lượng bạch cầu giảm xuống tới 3.000 bạch cầu mm3, ung thư thuyên giảm, hoặc tới khi đạt một liều tối đa 0,5mg/kg (bình thường liều cuối cùng là 0,15 – 0,2mg/kg). Sau đó, liều lượng được duy trì ở mức giảm bớt trị số gia tăng so với liều cuối cùng, và được tiêm ở những khoảng cách từ 1-2 tuần lễ. Một số chuyên gia dùng một liều duy trì 10mg, 1 – 2 lần trong một tháng.
Đối với trẻ em, tiêm tĩnh mạch 0,1 – 0,2mg/kg, một lần trong một tuần.
Vincristine sulfate: Là một thuốc chống ung thư được dùng rộng rãi nhất. Nó đặc biệt có ích đối với các bệnh ung thư máu. Nó là thuốc được ưa dùng để gây thuyên giảm bệnh bạch cầu lymphô bào cấp. Nó là thành phần của một phối hợp thuốc có giá trị đối với bệnh bạch cầu tuỷ sinh, dùng riêng hoặc là một thành phần của phối hợp MVPP (meclorethamine, vincristine, procarbazine, prednisone), là thuốc lựa chọn thứ nhất cho bệnh Hodgkin. Nó được đưa vào nhiều phối hợp thuốc có giá trị lựa chọn thứ nhất cho u lymphô bào không-Hodgkin. Nó cũng là một thành phần của những phối hợp thuốc lựa chọn hàng đầu cho ung thư biểu mô phổi, khối u Wilm, bệnh bạch cầu tuỷ bào mạn (giai đoạn cấp tính), u nguyên tuỷ bào, ung thư biểu mô phổi, sacôm mô mềm, sacôm Ewing và sacôm cơ vân của phổi. Những phối hợp thuốc chứa vincristine là những thuốc lựa chọn hàng thứ hai cho ung thư biểu mô vú, u nguyên bào thần kinh và bệnh bạch cầu lymphô bào mạn. Vincristine cũng đôi khi được dùng trong điều trị ung thư vú, đa u tuỷ, ung thư cổ tử cung và u não nguyên phát. Một số chuyên gia ưa dùng vincristine chỉ để làm bệnh thuyên giảm và không dùng để duy trì, vì việc dùng kéo dài gây độc tính thần kinh. Sự kháng chéo với các thuốc khác không xảy ra, ngay cả với vinblastine.
Vincristine khác với hầu hết các thuốc chống ung thư ở chỗ sự ức chế tuỷ xương không xảy ra thường xuyên, do đó, nó được dùng trong các phối hợp thuốc. Tuy vậy, có giảm bạch cầu, và phải đếm số lượng bạch cầu trước mỗi liều. Việc sử dụng thường bị hạn chế bởi tác dụng độc về thần kinh. Những tác dụng phụ thường bắt đầu với buồn nôn, nôn, táo bón, co cứng cơ bụng và sút cân, và phục hồi nhanh. Thuốc có thể gây những phản ứng chậm phục hồi, như rụng tóc và bệnh thần kinh ngoại biên. Những tai biến nặng về thần kinh có thể xảy ra như mất những phản xạ gân sâu, viêm đau thần kinh, tê các chi, nhức đầu, mất điều hoà. Những khuyết tật thị giác, liệt nhẹ hoặc bại liệt và teo một số cơ duỗi có thể xảy ra chậm, liệt những dây thần kinh sọ, 2, 3, 6 và 7 có thể xảy ra. Các tai biến thần kinh có thể kéo dài trong nhiều tháng. Tăng huyết áp nặng, tình trạng kích động hoặc trầm cảm cũng có thể xảy ra nhất thời. Thuốc gây độc tại chỗ, cần tránh sự tràn ra ngoài. Tốt nhất nên cho thuốc bằng phương pháp tiêm truyền tĩnh mạch. Vincristine được nhanh chóng thải trừ khỏi máu, 70% thuốc được thải trong mật. Trong bệnh vàng da tắc mật, độc tính thuốc lớn hơn và cần giảm liều. Khoảng 12% thuốc được thải trừ trong nước tiểu. Vincristine không vào trong não, do đó không dùng cho bệnh bạch cầu hệ thần kinh trung ương.
Liều dùng: Tiêm tĩnh mạch mỗi tuần một lần trong bệnh bạch cầu lymphô cấp tính của trẻ con dưới 12 tuổi, bắt đầu 0,03 – 0,075 mg/kg cho trẻ em 10 tuổi, và 0,05 – 0,15mg/kg cho trẻ em 1 tuổi, một liều trong tuần đầu, tiếp theo bởi những trị số gia tăng hàng tuần 0,025mg/kg cho tới một liều tối đa 0,15mg/kg. Sau đó dùng một thuốc khác để duy trì. Ở những bệnh nhân 12 – 20 tuổi, tiêm tĩnh mạch 1,5 – 4,5mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể, một lần trong mỗi tuần, cùng với prednisone (uống 40mg/m2, một lần trong mỗi ngày), cho tới khi đạt sự thuyên giảm bệnh. Dùng những thuốc khác để duy trì.
Người lớn: 0,025 – 0,075mg/kg, mỗi tuần một lần, tuỳ theo những tác dụng độc và hiệu quả điều trị mà điều chỉnh liều khi cần thiết.
Vindesine sulfate: Là dẫn chất bán tổng hợp của alkaloid dừa cạn, vindesine là một thuốc nghiên cứu, phối hợp những tính chất điều trị và độc của vincristine và vinblastine, hiệu lực điều trị có nhiều hứa hẹn. Nó có tác dụng đối với bệnh bạch cầu lymphô cấp, cơn nguyên bào (blast crisis) của bệnh bạch cầu tuỷ bào mạn, u thần kinh đệm ác tính, u hắc sắc tố, u lymphô bào Hodgkin và không-Hodgkin, ung thư biểu mô đại tràng, trực tràng, vú và thực quản. Phối hợp với cisplatin, nó đặc biệt công hiệu đối với ung thư biểu mô phổi. Nếu dùng quá liều sẽ có các triệu chứng độc biểu hiện: Đôi khi buồn nôn và nôn, ức chế tuỷ (đặc biệt giảm bạch cầu), rụng tóc, táo bón, tắc ruột, đau cơ, dị cảm, suy nhược, đôi khi run và sốt, viêm tĩnh mạch, và một số hiện tượng ít xảy ra hơn: Lú lẫn về tâm thần, mệt lả. Vindesine hấp thu rất ít khi uống.
Liều dùng: Tiêm tĩnh mạch, 3 – 4mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể, một lần trong mỗi tuần, để gây thuyên giảm bệnh, rồi sau đó tiêm một lần trong 2 tuần lễ để duy trì. Hoặc tiêm 1,2 – 2mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể trong những tuần tiếp theo, sau đó lại tiêm như trên.
Kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây dừa cạn
Dừa cạn có hoa đẹp, nhiều màu sắc (như màu trắng, màu tím, màu vàng, …) nên tất nhiên cây thường được trồng làm cảnh, thường thấy nhất là ở vườn cảnh mini của các gia đình.
Về kỹ thuật chọn giống, người trồng có thể mua hạt giống hoa về đem gieo, sau vài ngày là nảy cây con. Nếu cẩn thận thì người chơi cây nên gieo hạt riêng, chờ cây lớn được khoảng gang tay thì bứng ra trồng nơi đất rộng. Cách thứ 2 là người trồng có thể mua sẵn cây con ở vườn kiểng. Lưu ý chọn những cây khỏe, nhiều búp để còn dưỡng về lâu về dài. Hoa dừa cạn sau khi rụng sẽ thành quả, quả khô và cho rất nhiều hạt.
Về đất trồng, đây là loài cây ưa đất cát pha (thậm chí trên cả đất cát già), đất phù sa ven sông, ven biển. Cây chịu được hạn vì có bộ rễ đâm sâu và rộng. Nhưng không chịu được úng nên chọn đất trồng phải cao và thoát nước tốt. Đất gieo hạt tốt nhất nên dùng giá thể (giá thể trồng hoa bao gồm có cát đen + bột sơ dừa + trấu hun hoặc xơ dừa + trấu hun với tỉ lệ 1:1).
Sau 1 tháng cây ở trong khay, cốc ươm, người chơi hoa có thể bứng cây ra trồng riêng, lúc này cây đã có từ 4 – 5 lá thật. Mỗi chậu nhựa treo có thể áp dụng trồng từ 1 – 3 cây con hoa dừa cạn (tùy loại chậu kích cỡ to hay nhỏ). Người chăm cây có thể phun B1 sau khi bứng cây 1 tuần để kích thích bộ rễ cây nhanh phát triển, sau 10 ngày thì có thể dùng phân bón thúc cho cây hoặc phun phân bón lá theo định kỳ tháng (để tăng sức đề kháng và dinh dưỡng cho hoa giúp hoa lâu tàn và có màu sắc rực rỡ). Ngoài ra, cây cần được tưới đều đặn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Và nhất là phải chú ý công đoạn thoát nước vào mùa mưa.
Địa chỉ bán cây giống hoa dừa cạn uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống hoa dừa cạn phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Catharanthus roseus – Wikipedia tiếng Anh.
- Cây dừa cạn (trường xuân, hoa hải đằng) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Dừa cạn – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Maryam Moudi, Rusea Go, Christina Yong Seok Yien, Mohd Nazre (4/11/2013). “Vinca alkaloids”. International Journal of Preventive Medicine. 4(11): 1231 – 1235.












